Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM MAY MẶC VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI

4
với các doanh nghiệp may mặc của nước ta hiện nay. Vì vậy, các doanh nghiệp có
dịch vụ trong và sau khi bán hàng tốt hươn sẽ tiêu thụ được nhiều sẩn phẩm hơn.
.3. Nội dung
.3.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, xử lý và phân tích các số liệu về thị
trường một cách có hệ thống.
Nghiên cứu thị trường có thể được thực hiện ở từng doanh nghiệp hoặc trong
phạm vi toàn bộ ngành kinh tế –kỹ thuật nào đó theo schafer nghiên cứu thị trường
quan tâm dến ba lĩnh vực lớn là cầu về sản phẩm, cạnh tranh về sản phẩm và nghiên
cứu mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
.3.2. Kế hoạch hoá tiêu thụ
Kế hoạch hoá là việc dự kiến trước cách phương án sử dụng nguồn lực để thực
hiện những hoạt động cụ thể nào đó trong khoảng thời gian nhất định nào đó nhằm
đạt được những mục tiêu đã đặt ra trước đó
Kế hoạch tiêu thụ trong các doanh nghiệp công nghiệp bao gồm một số nội
dung: Kế hoạch hoá bán hàng, kế hoạch hoá Marketing, kế hoạch hoá quảng cáo, kế
hoạch hoá chi phí kinh doanh tiêu thụ sản phẩm.
.3.3. Chính sách marketing-mix trong doang nghiệp công nghiệp
Marketing-mix trong các doanh nghiệp công nghiệp có nhiệm vụ chủ yếu là
xác định các loại sẩn phẩm phù hợp nhu cầu của từng loại thị trường trong nước và
ngoài nước cho từng giai đoạn phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xác
định hợp lý giá cả của từng loại sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, nghiên cứu
và áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảmvà nâng cao chất lượng sản phẩm
cũng như việc hạ giá thành, xác định mạng lưới tiêu thụ, xác định hợp lý các hình
thức yểm trợ và xúc tiến bán hàng.
Xuất phát từ nhiệm vụ triên các chính sách Marketing-mix bao gồm bốn chính
sách thường gọi là 4 P ( Product, Price, Promotion, Place.): Chính sách sản phẩm,
Chính sách giá cả, Chính sách xúc tiến, Chính sách phân phối sản phẩm của các
doanh nghiệp công nghiệp.
.3.4. Tổ chức hoạt động tiêu thụ và dịch vụ sau bán
5
Tổ chức hệ thống kênh phân phối: Để tổ chức hệ thống kênh phân phối phù hợp
có tác dụng thúc đẩy hoạt động tiêu thụ trong doanh nghiệp công nghiệp. Trước tiên
phải xác định tính chất của từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp chuẩn bị sản xuất
hoặc đang sản xuất, phải xác định xem nó là hàng hoá tiêu dùng hay hàng hoá tư liệu
sản xuất hoặc hàng hoá xa xỉ, nếu là hàng hoá tiêu dùng thì doanh nghiệp nên chọn
kênh phân phối gián tiếp, trao quyền cho các nhà phân phối công nghiệp. Với hàng
hoá tư liệu sản xuất hoặc hàng hoá xa xỉ thì các doang nghiệp thường tổ chức kênh
phân phối trực tiếp, nhằm tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để giới thiệu sản phẩm và
thu nhập thông tin về phiá cầu.Sau khi thiết lập được hệ thống kênh phân phối doanh
nhiệp phải thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm duy trì và phát huy tác dụng của
kênh để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Vấn đề cốt lõi là việc giải
quyết các mâu thuẫn và xung đột trong kênh như thế nào để vùa bảo toàn, duy trì
được kênh vừa giải quyết thoả đáng lợi ích của mỗi thành viên
Tổ chức hoạt động bán hàng: Để tổ chức hoạt động bán hàng cần xác định số
trang thiết bị bán hàng cần thiết, số lượng nhân viên phục vụ cho công tác bán hàng,
do đặc điểm của công tác bán hàng là hoạt động giao tiếp thương xuyên với khách
hàng nên vệc lưạ chọn nhân viên bán hang là hoạt động quan trọng nhất
Tổ chức hoạt động dịch vụ sau bán: Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm
duy trì và củng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm, thị trường của doanh
nghiệp nó bao gồm các hoạt động chính sau: lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, bảo hành
cung cấp các dịch vụ thay thế phụ tùng, sửa chữa, cùng với việc duy trì mối quan hệ
thông tin thường xuyên với khách hàng để thu nhập ý kiến phản hồi và sự thay đổi
trong nhu cầu của khách hàng
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ
2.1.1 Các nhân tố về kinh tế
Tỷ giá hối đoái: Nếu tỷ giá hối đoái tăng thì tiền Việt Nam mất gía so với đồng
ngoại tệ. Như vậy nhập khẩu giảm, xuất khẩu tăng, du lịch vào trong nước tăng nên
rất thuận lợi cho hoạt động tiêu dùng ở trong nước.
Tốc độ tăng trưởng cao sẽ kích cầu thuận lợi cho tiêu thụ
6
Lãi xuất cho vay giảm đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào các trang thiết bị, nhà
xưởng nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và ngược lại.
2.1.2 Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ càng hiện đại thì càng đảm bảo về chất lượng sản phẩm,
giá thành sản phẩm giảm, chi phí sản xuất giảm như vậy giá bán sẽ giảm thuận lợi
cho việc tiêu thụ sản phẩm
2.1.3 Khách hàng
Khách hàng là những người mua hàng của công ty đối với doanh nghiệp thương
mại, khách hàng là yếu tố quan nhất quyết định đến hoạt động tiêu thụ hàng hóa cũng
như sản phẩm sự sống còn của doanh nghiệp bởi vì khách hàng tạo nên thị trường.
Những biến động tâm lý khác hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thij hiếu, tói
quen làm cho số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt
động kinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho
doanh nghiệp và thói quen tổ chức dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng tâm lý
tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
2.1.4 Chiến lược và giá bán
Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố hết sức nhậy bén và chủ yếu tác
động đến tiêu thụ hàng hóa. Giá cả có thể kích thích hay hạn chế cung cầu và ảnh
hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm và thu
lợi hay chánh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Giá cả cũng được sử dụng như một vũ
khí trong cạnh tranh. Song song điều kiện hiện tại công cụ chủ yếu vẫn là chất lượng
trong cạnh tranh. Nếu lạm dụng vũ khi giá cả nhiều trường hợp “gậy ông đập lưng
ông” không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà còn bị thiệt hại vì doanh nghiệp
hạ giá bán thì đối thủ cạnh t anh cũng có thể hạ thấp (thậm chí thấp hơn) giá cả cùng
loại hoặc thay thế dẫn tới không thúc đẩy được tiêu thụ mà lợi nhuận còn bị giảm
xuống. Do đó phải hết sức thận trọng trong cạnh tranh qua giá và giá bán là một nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng. Người tiêu dùng đánh giá chất lượng sản phẩm thông
qua giá cả của nó khi đứng trước hàng hóa cùng loại hoặc thay thế.Do đó đặt giá thấp
không phải lúc nào cũng thúc đẩy được tiêu thụ. Cần đưa ra các chiến lược về giá
hợp lý để thúc đẩy hoạt động tiêu thụ

7
2.1.5 Số lượng nhà cung cấp
Đối với mỗi doanh nghiệp thì cả đầu vào đầu ra đều là hàng hóa. Hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là đạt hiệu quả tốt khi doanh nghiệp bán hàng
hóa ở múc giá xác định mà đạt hiệu quả cao nhất (chi phí thấp). Chi phí doanh nghiệp
bao gồm chi phí mua hàng và các dịch vụ khác. Việc lựa chọn nhà cung cấp có ảnh
hưởng đến chi phí mua hàng và việc bảo đảm nguồn hàng cung cấp một cách đều đặn
đạt kết quả cao cho doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp để đảm bảo bán tốt trước hết phải mua tốt. Như vậy việc
lựa chọn nhà cung cấp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản xuất. Khi lựa
chọn nhà cung cấp các doanh nghiệp cần phải tổng hợp các thông tin để làm sao lựa
chọn nhà cung cấp đảm bảo khả năng tốt nhất về hàng hóa cho doanh nghiệp một cách
thường xuyên, hàng hóa đạt chất lượng cao. Phương châm là đa dạng hóa nguồn cung
cấp, thực hiện nguyên tắc “không nỏ tiền vào một ống”. Mặt khác trong quan hệ doanh
nghiệp cần thiết tìm một nhà cung cấp chủ yếu có đầy đủ sự tin cậy nhưng phải luôn
tránh sự lệ thuộc và chủ động xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình
8
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
MAY MẶC VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI
2.1. Khái quát về tình hình sản xuất sản phẩm may mặc của Việt Nam
Việt Nam có trên 3719 doanh nghiệp dệt may và được phân chia theo các tiêu
chuẩn sau:
(Theo:http://www.vietnamtextile.org/ChiTietTinTuc.aspx?
MaTinTuc=138&Matheloai=57)
Như vậy loại hình doanh nghiệp được phân loại theo vốn thì có 5 loại hình
doanh nghiệp: Nhà nước, trách nhiệm hữu hạn và cổ phần vốn nhà nước >50%, cổ
phần , TNHH vốn NN<50%, tư nhân, nước ngoài, hợp tác xã. Phân loại theo địa
phương thì có 3 loại hình doanh nghiệp sau: Miền bắc, miền trung, miền nam. Phân
9
loại theo nhóm sản phẩm thì cũng có 3 loại hình doanh nghiệp: Dệt và may, may, kéo
sợi . Ngoài ra Tổng công ty Dệt may cũng khuyến khích các loại hình kinh doanh
như: liên doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài và dệt vải in ấn, sản xuất và
nhuộm, phụ kiện sản xuất. Vinatex thành lập Trung tâm kinh doanh và cung cấp
phụ kiện ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. may.
Với sự đa dạng các loại hình doanh nghiệp và được phân bổ rộng khắp đất
nước. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên
trường quốc tế với năng lực sản xuất được đánh giá là cao cụ thể như sau:
Lĩnh vực
Số Doanh
nghiệp
Số máy móc
Năng lực sản
xuất (theo năm)
1. Upstream
Cotton ginning- Bông đã cán 60,000 tấn
Spinning- Sợi 145 3,789,000 suốt 350,000 tấn
2. Midstream
Weaving- Dệt 401 21,800 đơn vị 1,000 triệu m
2
Knitting- Dệt kim 105 3,800 đơn vị 200,000 tấn
Non- woven- Không dẹt 7 5,000 tấn
Dyeing & Finishing- Hoàn tất 94 1,109 đơn vị 700 triệu m
2
3. Downstream
Garment- May mặc 2,424 918,700 đơn vị 2,400 triệu đơn vị
Terry towel- Khăn bông có
vòng tuyết
62,000 tấn
(Theo:http://www.vietnamtextile.org/ChiTietTinTuc.aspx?MaTinTuc=1553&Matheloai=57)
Thúc đẩy sản xuất trong nước của các phụ kiện may mặc là một trong những
chiến lược quan trọng nhất của dệt may của cả nước và ngành công nghiệp may mặc
trong những năm tới.Nội dung nội bộ trong các sản phẩm may mặc của Việt Nam
hiện nay đứng ở một số 43. Chi phí nguyên vật liệu may mặc nhập khẩu tăng 27% so
với năm 6.5bil USD, nhưng tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trên các vật liệu địa phương
đã giảm, mà là một tín hiệu tích cực cho ngành công nghiệp.Trong tổng số nguyên
liệu may mặc nhập khẩu vào, bông sợi chiếm USD 28mil. Tuy nhiên, ngành công
nghiệp sẽ không tìm cách tăng cường nội dung địa phương ở mức nào, từ các nhà sản
xuất may mặc không buộc phải sử dụng vật liệu địa phương và các phụ kiện, và họ
có thể chọn để nhập khẩu những mặt hàng đó để duy trì khả năng cạnh tranh của họ.
10
Nếu vật liệu địa phương có giá 10% cao hơn so với hàng nhập khẩu cùng chất lượng,
các nhà sản xuất địa phương có thể lựa chọn không cho các nguồn địa phương do sự
sẵn có dễ dàng và giao hàng kịp thời. Cho đến nay, các nhà sản xuất vật liệu địa
phương có thể cung cấp chỉ có 20% đến 60% nhu cầu, tùy thuộc vào các loại mặt
hàng. Ví dụ, vật liệu địa phương đáp ứng 20% nhu cầu sản xuất hàng dệt kim, và
60% cho các sản phẩm dệt.
Bảng 1: Tình hình sản xuất một số mặt hàng may mặc của Việt Nam trong
giai đoạn 2006 – 2009. Đơn vị tính USD
Chủng loại 2006 2007 2008 2009
Áo thun 83,756,124 87,356,789 90,798,054 102,034,708
Áo sơ mi 20,134,743 23,980,720 25,798,340 29,546,726
Quần 73,672,321 77,543,821 80,721,490 90,221,973
Quần short 30,145,145 ,32,421,908 34,231,980 38,145,077
Áo Jacket 87,321,902 90,170,352 92,354,109 96,386,624
Áo 5,241,800 7,245,156 8,3367,826 10,744,469
Váy 10,902,435 13,802,435 14,205,207 16,968,783
Đồ lót 5,245,185 6,029,934 7,243,901 9,174,484
Đồ bơi 790,253 823,156 925,729 1,416,780
Quần áo thể thao 7,832,541 9,026,819 10,135,770 13,990,793
Quần áo ngủ 67,245,035 68,560,268 72,378,923 79,324,134
Quần áo trẻ em 6,245,710 7,790,125 9,436,890 11,071,049
Vải 5,873,245 7,312,094 8,021,376 9,912,856
(Theo: http://www.vietrade.gov.vn/hoat-dong.html)

Dựa trên bảng số liệu trên ta thấy rằng chủng loại các mặt hàng may mặc
cũng rất đa dạng về chủng loại và ty lệ sản xuất cũng tăng vọt theo từng năm. Như
vậy các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được chiến lược hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm tạo ra các bước đột phá và hiệu quả cao. Nhiều doanh nghiệp đã đầu
vào việc thiết kế các sản phẩm mới có chất lượng hơn, thời trang hơn, có thương
hiệu. Thị trường ngày càng khởi sắc hơn và đã có nhiều doanh nghiệp khẳng định
11
được chỗ đứng của mình. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Chính trị “ Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và thực hiện Chiến lược phát triển thị trường nội
địa của Bộ Công thương, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã có sự đầu tư đáng kể
cho thị trường này, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng của năm 2009 như xây
dựng và mua thương hiệu, phát triển và nâng cấp hệ thống siêu thị và cửa hàng
chuyên doanh, đầu tư phát triển hệ thống thiết kế sản phẩm thời trang, tham gia thi,
trình diễn thời trang trong và ngoài nước; tham gia vào chương trình “đưa hàng về
nông thôn”, “ DN dệt may đồng hành cùng đồng bào biển đảo của Tổ quốc”. Sự
chuyển hướng và đầu tư mạnh mẽ đó đã bước đầu đem lại một diện mạo mới, khởi
sắc hơn cho thị trường nội địa. Người tiêu dùng cả thành thị và nông thôn đã tin
tưởng vào hàng nội địa. Nhiều DN không những tăng thêm được doanh thu, lợi
nhuận, ngoài ra còn thiết lập, mở rộng được mạng lưới tiêu thụ rộng khắp trong cả
nước. Có thể kể tên các DN tiêu biểu như May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Sông
Hồng, May 10, Thái Tuấn, Nino Maxx, An Phước,… và kết quả họ đạt được là 58%
người tiêu dùng Việt Nam quan tâm đến hàng Việt sau 1 năm thực hiện cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
Qua thời gian hoạt động tích cực và nghiêm túc đã chiếm được lòng tin của
người tiêu dùng ở các đô thị vì hàng hóa bán ra đều là hàng có chất lượng với mẫu
mã thiết kế và kích cỡ phù hợp người Việt Nam. Về giá cả hàng sản xuất tại Việt
Nam đã có sức cạnh tranh, nếu so sánh với các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc với
chất lượng tương đương thì giá rẻ hơn. Một yếu tố làm cho hàng may mặc Việt Nam
có thế mạnh là khách hàng luôn dành cho các nhà sản xuất trong nước những tình
cảm trân trọng, cổ vũ, động viên các nhà sản xuất đưa ra nhiều sản phẩm có chất
lượng, giá cả phù hợp bằng việc ủng hộ trực tiếp mua hàng giúp sản xuất phát triển.
Tại các siêu thị hàng hóa đa dạng phong phú, tập trung nhiều thương hiệu của các DN
dệt may của Tập đoàn và các thành phần kinh tế đã mang lại nhiều sự lựa chọn cho
khách hàng mỗi khi đi mua sắm, yếu tố tiện lợi này cũng có sức thu hút người mua,
đồng thời cũng trực tiếp giúp đỡ các DN vừa và nhỏ, tiềm lực yếu không đủ điều
kiện mở cửa hàng. Ðây cũng là chỗ dựa cho các DN dệt may trước sức ép cạnh tranh
12
ngày càng tăng.
Hàng dệt may Việt Nam đang tìm chỗ đứng trên chính thị trường nội địa. Với
một chiến lược cạnh tranh hợp lý, lấy chất lượng sản phẩm là tiêu chí cạnh tranh
hàng đầu cùng với việc luôn cải tiến mẫu mã, đa dạng màu sắc sản phẩm, thương
hiệu thời trang Việt Nam đã từng bước vượt qua định kiến, chiếm lĩnh thị trường
nội địa. Thúc đẩy sản xuất vật liệu hữu cơ trong nước, Việt Nam nên giữ lại những
ngành dệt may có doanh thu cao đồng thời xây dựng một cơ sở mạnh mẽ hơn cho
tương lai. Mở rộng quy mô sản xuất, chủ động đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện
đại nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Trong
những năm qua, các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp cổ phần và FDI đã có sự
đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm may mặc: 2,6-2,8 tỷ sản phẩm, trong
đó khoảng 70% dành cho sản xuất xuất khẩu.
Trong công cuộc chiếm lĩnh thị trường nội địa một số doanh nghiệp luôn đi đầu,
đưa ra các chiến lược táo bạo để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dựng một
thương hiệu mạnh, đưa người tiêu dùng đến với may mặc Việt Nam “Người Việt
Nam dùng hàng Việt Nam”. Một số doanh nghiệp điển hình như sau:
Tổng công ty cổ phần may Việt Tiến (VTEX) dẫn đầu các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam trong vấn đề chiếm lĩnh thị trường nội địa. Với một chiến lược cạnh
tranh hợp lý, lấy chất lượng sản phẩm là tiêu chí cạnh tranh hàng đầu cùng với việc
luôn cải tiến mẫu mã, đáp ứng cho nhiều phân khúc thị trường cho người tiêu dùng
có thu nhập từ trung bính, khá đến cao cấp, nâng cao năng lực cạnh tranh đã tạo nên
những thương hiệu thời trang VTEX chiếm lĩnh thị trường nội địa. Những thương
hiệu đã mang lại thành công cho doanh nghiệp tại thị trường nội địa, đó là thương
hiệu thời trang cao cấp San Sciaro mang phong cách I-ta-li-a, và thương hiệu
Manhatta mang phong cách Mỹ, sang trọng dành cho doanh nhân, nhà quản lý, người
thành đạt, sành điệu. Thương hiệu Manhatta được VTEX mua bản quyền của tập
đoàn Perry Ellis International và Perry Ellis International Europe của Mỹ; thương
hiệu Viettien phục vụ cho phân khúc thị trường thu nhập khá, thương hiệu này trở
thành thương hiệu uy tín, dẫn đầu về thời trang công sở phục vụ khách hàng nam giới
13
tuổi từ 22 đến 55; Viettien Smartcasual là thương hiệu nhánh của thương hiệu
Viettien mang phong cách thoải mái, tiện dụng, hiện đại với những sản phẩm đa dạng
như sơ-mi, quần ka-ki, quần jeans, áo thun, quần short, giắc-két; dòng sản phẩm thời
trang cao cấp dành cho nữ như váy, sơ-mi, quần thời trang, vét-tông mang thương
hiệu T-up. Ðầu năm 2010, VTEX xây dựng một thương hiệu mới Việt Long hướng
tới Ðại lễ kỷ niệm1000 năm Thăng Long - Hà Nội và hưởng ứng thiết thực cuộc vận
động "Người Việt Nam ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam". Sản phẩm ngay khi đưa ra
thị trường đã được người lao động thành thị và nông thôn lựa chọn bởi chất lượng,
giá cạnh tranh, kiểu dáng và mẫu mã đa dạng với mức giá bán từ 80 nghìn đồng đến
180 nghìn đồng cho mỗi sản phẩm.
Theo Tổng Giám đốc Bùi Văn Tiến, VTEX chú trọng các yếu tố như văn hóa
từng vùng, miền, thói quen ăn mặc để đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất với thị
hiếu của người tiêu dùng Việt Nam. Ðặc biệt các yếu tố kích cỡ, kiểu dáng của sản
phẩm được thiết kế phù hợp với người Việt Nam. Những năm qua, VTEX đẩy mạnh
thiết kế sản phẩm thời trang để nâng giá trị gia tăng của sản phẩm, xây dựng thương
hiệu mạnh và tăng cường đầu tư thiết bị và nhân sự cho công tác thiết kế mang tính
chuyên nghiệp cao, thu hút nhiều nhà thiết kế thời trang có tên tuổi của Việt Nam như
Quốc Bình, Trọng Nguyên, Tấn Phát chuyên môn hóa thiết kế theo từng thương
hiệu, tạo ra đa dạng mẫu mã sản phẩm cho từng thương hiệu, phục vụ cho nhiều đối
tượng tiêu dùng ở nhiều phân khúc khác nhau.
Những sản phẩm mang thương hiệu của VTEX hiện có mặt ở tất cả các kênh
phân phối hiện đại từ cửa hàng, đại lý với thiết kế thống nhất để người tiêu dùng dễ
dàng nhận diện. Tiếp tục phát triển kênh phân phối đối với thương hiệu hiện có. Chú
trọng đến phát triển kênh phân phối hiện đại. Hiện nay, Việt Tiến là một trong những
doanh nghiệp có hệ thống cửa hàng lớn nhất trong ngành với 1.300 cửa hàng giới
thiệu và bán sản phẩm trên khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có riêng
thương hiệu Viettien, Viettien Smartcasual được bán tại 67 cửa hàng, 1.159 đại lý;
thương hiệu San Sciaro và Manhatta có mặt tại 12 cửa hàng và mười đại lý mang
phong cách riêng hai dòng sản phẩm này bán hàng ở các thành phố: Hà Nội, TP Hồ
Chí Minh, Cần Thơ, Ðồng Tháp, Sóc Trăng, Thái Bình Thương hiệu T-up có hai

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét