Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Lạm phát và hậu quả của lạm phát

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
A. lời mở đầu
Đối với nhiều chính phủ các quốc gia trên thế giới, lạm phát là điều mà họ luôn
phải băn khoăn, trăn trở, tìm cách đối phó. Đối với đại đa số các tầng lớp dân c trong
cuộc sống đời thờng lại lo lắng : lạm phát đã ảnh hởng đến đời sống hàng ngày của
chính họ ra sao đây? Còn những nhà sản xuất, kinh doanh lại băn khoăn, phải hoàn
vốn nh thế nào cho hợp lý mỗi khi lạm phát, đồng tiền mất giá?
Những vấn đề trên là những vấn đề không phải ai cũng hiểu rõ ràng, thấu đáo. Vì
vậy, khi chọn đề tài Lạm phát và hậu quả của lạm phát cho bài tiểu luận của
mình, em chỉ muốn đề cập tới vấn đề lạm phát qua những kiến thức đã đợc học, và
qua đó có một chút liên hệ thực tiễn tới thực trạng lạm phát ở Việt Nam. Rất mong đ-
ợc các thầy cô trong khoa xem xét bài tiểu luận của em và cho ý kiến nhận xét.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
B. nội dung chính
I ) lạm phát và nguyên nhân của lạm phát :
1. Lạm phát là gì ?
Lạm phát là một hiện tợng của tiền tệ, đợc biểu hiện ở sự mất giá (giảm giá)
của tiền tệ, mà sự mất giá của tiền tệ lại biểu hiện rõ rệt nhất ở sự tăng giá bình quân
của tất cả mọi thứ hàng hóa. Lạm phát xảy ra khi giá cả mọi thứ hàng hóa, dịch vụ và
chi phí đều tăng tuy với tốc độ và tỷ lệ không đồng đều, thứ tăng nhanh, thứ tăng
chậm, thứ tăng nhiều, thứ tăng ít, nhng nói chung là mọi thứ đều tăng giá.
Cũng có thể hiểu theo một cách khác, lạm phát là biểu hiện việc tiêu dùng quá
với khả năng hiện có về lực lợng hàng hóa. Song cũng có đôi lúc, lạm phát không
phản ánh đúng thực chất nh vừa nêu ở trên. Ví dụ : Nhân dịp lễ Tết, ngời tiêu dùng
đổ xô đi mua hàng hóa, và ngời bán đợc dịp nâng giá hàng hóa lên cao để kiếm lời.
Vì thế, khi hết Tết, tỷ lệ lạm phát lại trở lại nh trớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, dù là tiền vàng hay tiền giấy đều có thể bị mất giá,
tiền vàng bị mất giá khi giá vàng hạ xuống và lên giá khi giá vàng cao lên. Tiền giấy
không đổi đợc lấy vàng nều bằng số lợng vàng cần thiết cho lu thông thì giá trị đại
diện vàng của tiền giấy không thay đổi, giá cả hàng hóa vẫn ổn định, sức mua của
tiền giấy vẫn ổn định. Nếu Nhà nớc phát hành một lợng tiền giấy lớn hơn lợng vàng
cần thiết cho lu thông thì giá trị đại diện vàng của mỗi đơn vị tiền giấy bị giảm đi,
phải có một lợng tiền giấy nhiều hơn mới mua đợc một lợng hàng hóa nh trớc.
Trên thế giới từ xa đến nay chỉ có lạm phát tiền giấy, không hề có lạm phát
tiền vàng. Bởi vì trong chế độ lu thông tiền vàng, nếu khối lợng tiền vàng vợt quá
nhu cầu lu thông thì phần thừa sẽ tự động rút ra khỏi lu thông để làm phơng tiện cất
giữ. Tiền vàng không bị mất giá trong trờng hợp này. Trong chế độ lu thông tiền
giấy, thì mỗi khi phát hành nó vào lu thông quá mức, nó không tự động rút ra khỏi lu
thông đợc.
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tóm lại, lạm phát là hiện tợng phát hành thừa tiền giấy so với lợng tiền cần
thiết cho lu thông làm cho giá cả mọi thứ hàng hóa tăng lên. Lạm phát càng cao thì
đồng tiền càng bị mất giá nhiều.
2. Nguyên nhân gây ra lạm phát :
Nguyên nhân cơ bản của lạm phát chính là sự phát hành thừa tiền giấy so với
lợng tiền cần thiết cho lu thông, điều này xuất phát từ việc bội chi ngân sách Nhà nớc
lớn, hoặc do cả ngân sách bội chi và tín dụng bội chi.
ở đây xin đợc lấy tình trạng lạm phát ở nớc ta trong thời gian qua để xét. Có
nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét nguyên nhân của sự lạm phát này. Một số ý kiến
cho rằng do thâm hụt ngân sách Nhà nớc trong thời gian qua. Một số ý kiến cho rằng
quản lý điều hành thị trờng không tốt gây ra tình trạng thiếu một số mặt hàng, xuất
khẩu hàng lậu tăng, mở rộng quá mức hạn tín dụng của các ngân hàng thơng mại
làm cho lạm phát gia tăng. Do đó cần phải làm rõ mối quan hệ của các nhân tố trên
với tình trạng lạm phát gia tăng ở nớc ta.
Thứ nhất, việc thâm hụt ngân sách thờng xuyên và khó khăn trong việc tìm
kiếm nguồn bù đắp lợng thâm hụt này, tạo nên áp lực tăng cung tiền. Tuy nhiên nếu
việc bù đắp lợng thâm hụt này bằng con đờng tín dụng Nhà nớc nh bán trái phiếu
Chính phủ thì không ảnh hởng gì đến chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trờng.
Nhiều nớc trên thế giới có thời kỳ thâm hụt ngân sách tăng nhng tỷ lệ lạm phát vẫn
đợc duy trì ở một mức nhất định. Do vậy thâm hụt ngân sách Nhà nớc không phải là
nguyên nhân trực tiếp gây ra lạm phát ở nớc ta trong thời gian qua.
Thứ hai, tình trạng biến động lớn về giá cả một số loại hàng hóa do mất cân
đối cung cầu về loại hàng hóa trên thị trờng. Nếu nh cung tiền tệ không đổi thì sự
tăng giá đột nhiên với một số mặt hàng làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong xã hội,
thực hiện phân phối lại giữa các cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế. Do vậy sự
sốt giá đối với một số loại hàng hóa không phải là nguyên nhân chủ yếu của lạm
phát. Tuy nhiên, trên thực tế sự tăng giá đột biến cũng tạo ra áp lực tăng cung tiền tệ,
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
làm thay đổi lợng tiền mặt dự trữ trong dân thông qua ngân hàng tác động đến chỉ số
giá cả.
Thứ ba, xuất khẩu lậu một số loại hàng hóa tạo nên mất cân đối cung cầu,
đẩy giá cả hàng hóa đó lên chứ không ảnh hởng đến tình trạng lạm phát.
Thứ t, việc tăng quy mô tín dụng của các ngân hàng thơng mại. Việc tăng vốn
tín dụng cho ngân hàng thơng mại đã làm tăng cơ số tiền, mở rộng quy mô tín dụng
làm tăng hệ số tiền, làm cho tổng phơng tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng. Đây
mới chính là nguyên nhân ảnh hởng trực tiếp đến lạm phát trong thời gian qua ở Việt
Nam.
II) Tác động của lạm phát :
Tác động của mỗi loại lạm phát đối với nền kinh tế là khác nhau. Loại lạm
phát vừa phải (lạm phát một con số) không có tác động lớn đến nền kinh tế. Lạm
phát phi mã và siêu lạm phát tác động lớn đến nền kinh tế ở hai mặt sau đây :
1. Sự phân phối lại thu nhập và của cải giữa các tầng lớp khác
nhau :
Tác động này phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần
của nhân dân. Những ngời lao động sống bằng tiền lơng thì tiền lơng thực tế giảm
nghiêm trọng. Những ngời có nhiều tài sản cố định có giá trị cao và những ngời mắc
nợ ngân hàng với lãi suất cố định thì tự nhiên hởng lợi. Vì giá cả các loại hàng hóa,
tài sản đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền giảm xuống. Những ngời cho vay hoặc có
tài sản bằng những đồ cầm cố hoặc trái phiếu dài hạn đều ở trong tình thế bất lợi bởi
những ngời đi vay hoặc đi cầm cố, trớc đây nhận tiền có giá, bây giờ đem tiền mất
giá đến trả nợ và lấy lại tài sản đã cầm cố.
Khi có giảm phát không đoán trớc đợc thì tác động này lại đảo ngợc lại.
Những ngời đi vay và đi cầm cố bị mất một phần tài sản của họ sang tay ngời cho
vay và ngời nhận cầm cố.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong thời kỳ lạm phát phi mã, để giảm bớt tác động phân phối lại của lạm
phát đối với đông đảo quần chúng, các Chính phủ thực hiện những chính sách nh thả
nổi tiền lơng, thả nổi lãi suất, bù giá vào lơng, tăng thêm trợ cấp theo chỉ số giá tiêu
dùng. Tuy nhiên, lấy nguồn tiền ở đâu để giải quyết việc này lại là một vấn đề nan
giải. In thêm tiền mới là một việc làm vô cùng nguy hiểm, khi đồng tiền đang bị mất
giá lại tung thêm tiền mới vào lu thông, làm cho giá trị của đồng tiền lại tiếp tục
giảm, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Vay của nớc ngoài, vay của dân bằng
biện pháp tín phiếu, công trái, tăng lãi suất tiết kiệm cũng chỉ là những biện pháp
nhất thời. Giải pháp tích cực nhất là khuyến khích sản xuất phát triển để thu đợc tiền
thuế, nhng không phải ngày một ngày hai là có thể giải quyết đợc ngay.
2. Tác động đến giá cả, sản lợng, việc làm :
Lạm phát kéo dài làm cho lợng tiền cung ứng tăng liên tục, tổng cung tiền tệ
tăng nhanh hơn tổng cầu tiền tệ, lợng tiền danh nghĩa tăng, lãi suất danh nghĩa tăng,
giá trị của tiền liên tục bị giảm, giá cả mọi thứ hàng hóa tăng cao lên với mức độ
không bằng nhau. Tăng nhanh nhất là giá cả các mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng và
sản xuất rồi mới đến các mặt hàng khác.
Khi hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ có dịp phát triển mạnh làm cho giá cả
càng hỗn loạn. Các Chính phủ rất khó kiểm soát các hoạt động kinh tế ngầm. Nhiều
ngời dự trữ vàng, đầu t vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra. Nhng khi giá
vàng bị sụt trở lại thì những ngời dự trữ vàng vẫn không bị thiệt hại gì bởi giá vàng
so với các loại hàng hóa khác và ngoại tệ thì không suy giảm chút nào. Khi giá vàng
xuống thấp, họ lại mua vàng vào và chờ khi giá vàng đợc nâng cao lên thì bán ra.
Những ngời bị lạm phát làm thiệt hại nhiều nhất là những ngời hởng lơng hu, bảo
hiểm xã hội, trợ cấp xã hội. Lạm phát cao kéo dài làm cho hàng loạt doanh nghiệp
vừa và nhỏ phá sản hoặc sản xuất cầm chừng, một số bộ phận công nhân viên chức
mất việc làm, đạo quân thất nghiệp tăng lên.
iii) những biện pháp để ngăn chặn lạm phát
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Lạm phát có nhiều mức độ và có nhiều tác hại khác nhau. Do đó, nó cũng có
nhiều cách chữa trị khác nhau. Vấn đề của một nền kinh tế là làm thế nào để vừa tạo
đợc công ăn việc làm đầy đủ cho ngời lao động, vừa có thể giảm đợc sự tác hại của
lạm phát.
1. Chính sách thắt chặt lợng cung tiền tệ :
Ngân hàng Nhà nớc có thể quyết định thắt chặt mức cung tiền tệ. Điều đó sẽ
có kết quả là lãi suất tăng lên. Lãi suất tăng lên ở một mức độ nhất định sẽ làm cho
các doanh nghiệp và cá nhân tự động cắt giảm lợng tiền mặt đang có và lợng tiền
thanh toán trên tài khoản tại ngân hàng để chuyển thành tiền gửi định kỳ nhằm mục
đích hởng lãi suất cao hơn. Điều đó là do thị trờng tiền tệ bị chi phối bởi sự phối hợp
qua lại giữa sự mong muốn của công chúng về việc nắm giữ tiền và chính sách tiền tệ
của ngân hàng trung ơng. Sự phối hợp qua lại này sẽ tác động vào thị trờng tiền tệ
quyết định lãi suất trên thị trờng. Một chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ nâng cao lãi suất
thị trờng. Khi lãi suất tăng lên, một lợng tiền trong lu thông sẽ giảm đi, và điều đó
làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống.
2. Kềm giữ giá cả :
Để chống lại sự tăng giá của hàng hóa, Nhà nớc có thể thực hiện chính sách
kềm giữ giá cả bằng nhiều biện pháp khác nhau. Có thể nhập hàng hóa của nớc ngoài
để bổ sung cho khối lợng hàng hóa trong nớc tạo ra sự cân bằng giữa cung cầu hàng
hóa để kềm giữ giá cả. Nhà nớc cũng có thể xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ bán cho
công chúng. Điều này khó thực hiện ở các nớc nghèo và lạc hậu nh Việt Nam vì khối
lợng dự trữ vàng và ngoại tệ ít. Nhà nớc có thể thực hiện việc ấn định và kiểm soát
giá cả. Biện pháp này chỉ có tác động nhất thời và trong cơ chế thị trờng, Nhà nớc
khó lòng để có thể kiểm soát đợc mức giá cả.
3. ấn định mức lãi suất cao :
Khi sử dụng biện pháp này, Nhà nớc sẽ quyết định mức lãi suất gửi tăng lên
nhằm thu hút khối lợng tiền trong lu thông. Khi mức lãi suất tiền gửi tăng lên, những
ngời có tiền sẽ thấy lợi khi gửi tiền vào ngân hàng. Nhng biện pháp này sẽ làm cho
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hoạt động của các ngân hàng sẽ khó khăn vì lãi suất tín dụng cũng tăng lên, kết quả
là ngân hàng sẽ không thể cho vay đợc nhiều và sẽ bị lỗ. Trong những điều kiện nh
vậy, hoạt động của các ngân hàng phải đợc sự hỗ trợ của ngân sách và ngân hàng để
giảm lãi suất tín dụng.
Nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng trên mức lạm phát là giải pháp
cơ bản nhất vì lãi suất ngân hàng thực chất là giá cả tiền tệ. Biện pháp này đã gây đợc
niềm tin của quần chúng nhân dân vào giá trị ổn định của đồng tiền, xóa bỏ cơ bản
về tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa, vật t, lơng thực trong nhiều năm. Trong tình
trạng lạm phát và khan hiếm, mọi ngời, mọi cơ sở sản xuất đua nhau tích trữ hàng
hóa, cả t liệu sản xuất lẫn t liệu tiêu dùng. Nhiều xí nghiệp đã tích trữ vật t, nguyên
liệu, phụ tùng đủ dùng cho cả quý, thậm chí là cả năm. Không ít kẻ đầu cơ tìm cách
tích trữ những hàng hóa có mức tăng giá cao hơn lạm phát để kiếm lợi. Những ngời
có nhiều tiền thì tích trữ vàng và đô la. Có thể nói toàn dân đã trở thành những ngời
đầu cơ tích trữ lớn nhỏ khác nhau. Đó là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
khan hiếm, đẩy cầu vợt cung một cách giả tạo.
iv) liên hệ thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Vào giữa thập niên 80, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng. Năm 1986, lạm phát đạt tới mức kỷ lục : 774,7%; năm 1988, mức lạm
phát là 400,8%. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp
nhà nớc bị giảm sút nghiêm trọng. Lu thông hàng hóa rối loạn, mức sống của nhân
dân bị tụt xuống. Những dấu hiệu đó chứng tỏ việc duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch
hóa tập trung đã không còn thích hợp; đồng thời cũng cho thấy tính kém hiệu quả
của việc áp dụng cục bộ, thiếu triệt để của các giải pháp cải cách đợc áp dụng từ
những năm 1979-1987. Vậy những biện pháp đó đợc áp dụng trong tình hình nh thế
nào, đã gây ra những thay đổi gì?
Tình trạng khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80
bắt nguồn từ giá hàng nhập khẩu. Từ năm 1981, giá hàng nhập khẩu từ nguồn quan
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trọng nhất là Liên Xô tăng 200-300% (tùy loại hàng). Chính việc tăng giá này đã làm
cho ngân sách thâm hụt, lạm phát tăng lên.
Do lạm phát, giá nông sản không thể giữ nguyên ở mức cũ, đặc biệt giá mua
thóc của nông dân đến năm 1979 phải áp dụng mức giá nghĩa vụ là 0,52 đồng/kg,
tăng 240% so với mức giá năm 1960. Đó cũng là một lý do dẫn tới bội chi ngân sách
ngày càng trầm trọng.
Trong khi đó, những mặt hàng Nhà nớc bán ra lại không thể tăng giá tơng ứng
vì ảnh hởng đến đồng lơng và thu nhập của ngời lao động. Thí dụ: 1m vải vào năm
1960 giá 1,65 đồng, bằng giá của 7,6 kg thóc, thì đến năm 1979 chỉ bằng 3,7kg (còn
48%). Đối với giấy viết, cũng trong thời gian đó, tỷ giá sụt xuống còn 42%, muối ăn
còn 40%, giá phân urê giảm sút 40%. Nhìn chung trên toàn bộ mặt bằng tỷ giá, tỷ
giá cánh kéo giữa thóc và các mặt hàng Nhà nớc bán ra đã thu hẹp lại còn khoảng
50%.
Do tình hình đó, Nhà nớc phải tiến hành điều chỉnh giá. Việt Nam đã có hai
cuộc tổng điều chỉnh giá và một loạt cuộc điều chỉnh giá từng mặt hàng và từng mức.
Trong đợt điều chỉnh 1981-1982, mức giá thu mua trong hợp đồng hai chiều (giá
nghĩa vụ) đợc nâng lên gần 5 lần (2,5 đồng/kg so với 0,52 đồng/kg). Giá hàng công
nghiệp tăng 5-7 lần. Nhà nớc chỉ còn giữ giá bán hàng cung cấp theo định lợng đối
với 9 mặt hàng thiết yếu cho cán bộ và bộ đội. Mặt bằng giá mới đã tăng 6-7 lần.
Đến cuộc cải cách giá lần thứ hai năm 1985, Nhà nớc áp dụng chế độ một giá.
Giá thóc tăng 7 lần so với năm 1981 (ngang với giá thị trờng), giá thu mua cây công
nghiệp tăng 7 lần. Giá bán t liệu sản xuất cho nông dân tăng 6-7 lần. Giá bán buôn
trong công nghiệp tăng 9-11 lần. Giá bán lẻ áp dụng ngang giá thị trờng lúc đó. Nh-
ng giá thị trờng lại tiếp tục tăng do lạm phát. Vì vậy, đến 1986, mức giá bán lẻ của
Nhà nớc quy định sát với giá thị trờng đã trở thành lạc hậu, phục hồi tình trạng hai
giá. Đến lúc này Nhà nớc chỉ còn giữ 4 mặt hàng cung cấp là gạo, thịt, nớc mắm, đ-
ờng.
Bớc trợt giá thị trờng so với giá quy định của Nhà nớc giai đoạn 1985-1987
diễn ra nh sau:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Động thái giá cả trớc và sau khi đổi tiền tháng 9-1985
(Đơn vị : giá tiền đồng trớc khi đổi tiền)
Giá thỏa thuận của
Nhà nớc
Giá thị trờng
7-1985 24 - 27 đồng 28 đồng
12-1985 35 - 40 đồng 58 - 75 đồng
6-1986 70 - 90 đồng 115 - 125 đồng
6-1987 450 - 550 đồng 600 - 700 đồng
Đến tháng 9-1987, vì không thể đuổi kịp giá thị trờng, Nhà nớc không còn đủ
tiền mua nên không quy định giá thỏa thuận nữa. Từ lúc này, Nhà nớc mua thóc theo
chế độ đổi hàng với tỷ lệ 1 kg urê bằng 2 kg thóc. Với quy định nh vậy, ngời nông
dân không thể bán thóc cho Nhà nớc. Một bộ phận rất lớn ngời dân phải sống theo
thị trờng tự do.
C. kết luận
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới cũng nh ở
Việt Nam, lạm phát hiện vẫn là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế. Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chống lạm phát đợc
thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Càng ngày, cùng với sự phát triển đa dạng và
phong phú của nền kinh tế, nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta theo định hớng xã hội chủ nghĩa
có sự điều tiết của Nhà nớc, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và
các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của
đất nớc.
d. tài liệu tham khảo
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét