Việc đầu t trong lĩnh vực năng lợng cần phải hết sức cẩn thận, vì nó sẽ góp
phần làm tăng nợ nớc ngoài của nớc ta.
Thứ t, để thu hút đầu t nớc ngoài cần phải tạo môi trờng đầu t hấp dẫn,
cả sự hình thành khung thể chế thích hợp để trợ giúp Chính phủ cần phải cải tổ
và hợp lý hoá các công ty Nhà nớc trong ngành năng lợng phát triển hệ thống
quy định, các chính sách trong ngành năng lợng và đầu t việc cải tổ cung cấp
năng lợng để đáp ứng mức tăng trởng đã đề ra, phát triển các nguồn năng lợng
theo hớng bền vững về mặt môi trờng, giảm các căng thẳng về tài chính trong
ngành, tăng cờng nối lới điện của vùng nông thôn thúc đẩy hiệu quả và sự ổn
định.
2. Vai trò của phát triển mạng lới điện đối với nông thôn Việt Nam.
2.1. Vai trò của điện năng đối với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại
hoá nông thôn
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua kinh tế nớc
ta đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là sự phát triển liên tục và
ổn định của kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Nét nổi bật trên lĩnh vực nông nghiệp là sự chuyển biến tích cực từ sản
xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá. Biểu hiện quan trọng của sản xuất
hàng hóa trong nông nghiệp là sản xuất lơng thực tăng nhanh không chỉ đủ
đáp ứng nhu cầu trong nớc, đảm bảo giữ vững an ninh lơng thực quốc gia, mà
còn có lơng thực xuất khẩu, đa nớc ta từ một nớc nhập khẩu gạo trở thành một
nớc xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Tốc độ tăng trởng của lơng thực thì
luôn cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lơng thực bình quân đầu ngời cũng tăng
dần từ 300 kg năm 1986 lên 324 kg năm 1990, 408 kg năm 1998 và 444 kg
năm 1999.
5
Cơ cấu mùa vụ và cây trồng thì có sự chuyển biến theo chiều hớng tích
cực đã tạo điều kiện tăng năng suất lúa từng vụ và cả năm. Hơn thế nữa, qua 3
năm thực hiện nghị quyết Trung Ương khoá 2 (ĐH VII) về khoa học và công
nghệ trong lĩng vực nông lâm ng nghiệp đã có nhiều kết quả nghiên cứu đợc
thành công nh: chọn lọc, lai tạo giống mới và cơ cấu cây trồng theo mùa vụ
thích hợp cho từng vùng sinh thái, từ đó tăng thêm thu nhập cho ngời nông
dân, góp phần xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn giàu đẹp.
Cùng với sự phát triển của ngành thì trồng trọt và chăn nuôi cũng phát
triển nhanh và toàn diện. Bình quân 10 năm (1989-1999) so với bình quân 5
năm trớc đó. Đàn trâu tăng trên 5%, đàn bò tăng thêm 10%, gia cầm tăng thêm
25 %
Trong nông lâm ng nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình, điển hình mới
về sự phát triển kinh tế xã hội; mô hình kinh tế mới do nông dân sáng lập với
hàng trăm lao động với quy mô từ 300 đến 500 ha đợc hình thành trên cơ sở tổ
chức quản lý thích hợp và có sự áp dụng khoa học vào sản xuất.
Theo kết quả điều tra của tổng cục thống kê đến ngày 17 tháng 7 năm
1999 cả nớc có 45372 trang trại nông lâm, thuỷ sản sản xuất chuyên môn hoá
hoặc kinh doanh tổng hợp, với nhiều quy mô có sử dụng lao động làm thuê và
có thu nhập vợt trội so với kinh tế gia đình nông dân. Hoạt động của hợp tác
xã dịch vụ bớc đầu đã đem lại hiệu quả, củng cố lòng tin của xã viên và hỗ trợ
tích cực cho kinh tế hộ về các dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ thực vật
Những thành tựu đáng kể trên đây đã đợc đóng góp tích cực của ngành
điện trong các chơng trình điện khí hoá nông thôn trên toàn quốc. Điện về
nông thôn đã góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi quy mô và tập quán
canh tác và chăn nuôi, tăng năng suất và tăng sản lợng lơng thực hoa màu, cây
công nghiệp trong sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến nông
lâm thuỷ sản, phát huy các làng nghề truyền thống, mở ra các làng nghề mới,
cải thiện đời sống văn hoá làm thay đổi bộ mặt nông thôn thực hiện chủ trơng
6
của Đảng và Nhà nớc trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông
thôn. giúp cho việc phát triển nông nghiệp theo hớng hiện đại .
Hơn 47 năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về nguồn và lới điện
truyền tải với phơng châm " Nhà nớc và nhân dân, Trung Ương và địa phơng
cùng làm" lới điện nông thôn đã từng bớc hình thành và không ngừng vơn dài,
trải rộng đa nguồn năng lợng và ánh sáng đến các thôn xã ngoại thành, ngoại
thị cũng nh các bản làng vùng ca, phục vụ sự đổi mới và phát triển kinh tế xã
hội nông thôn.
ở miền bắc, việc đa lới điện về nông thôn đợc bắt đầu thực hiện vào
cuối những năm 60 và đầu những năm 70 cùng với việc đa vào vận hành Nhà
máy điện Vinh, Lào Cai, Thái Nguyên. Trong suốt thời kỳ này điện đa về nông
thôn chủ yếu nhằm phục vụ cho nhu cầu bơm nớc phục vụ cho nông nghiệp và
cơ khí nhỏ (xay xát, truốt lúa, bơm rửa chuồng trại, nghiền thức ăn gia súc
v.v ). Việc phát triển mạng lới điện nông thôn miền Bắc chỉ đợc đẩy mạnh từ
năm 1984, sau khi Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đợc đa vào vận hành cùng với
chính sách đổi mới của Đảng. Nền kinh tế của nông thôn đợc cải thiện và phát
triển rõ rệt.
ở miền Nam, việc phát triển mạng lới điện nông thôn chỉ bắt đầu sau
giải phóng, cũng chủ yếu phục vụ bơm tới tiêu. Từ đầu năm 1998 khi Nhà
máy thuỷ điện Trị An đợc đa vào vận hành thì mạng lới điện phục vụ nông
thôn ở khu vực phía Nam thực sự phát triển, đáp ứng các nhu cầu cho sản xuất
và sinh hoạt.
ở miền Trung, giai đoạn trớc năm 1975, hầu nh toàn bộ vùng nông thôn
cha có điện, giai đoạn từ 1975 đến 1990 miền Trung vẫn thiếu điện nghiêm
trọng. Nguồn điện chỉ là những cụm máy Điêzen công suất thấp, lới điện nhỏ
hẹp tập trung ở một số thành phố, thị xã, phục vụ chủ yếu cho sinh hoạt khu
vực đô thị. Sau khi điện miền Bắc đa vào, cùng với sự quan tâm của Đảng và
7
Nhà nớc, với nhiều chủ trơng và chính sách cụ thể. Việc đa điện về nông thôn
đã có bớc phát triển vợt bậc. Trong đó có nhiều huyện miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, số hộ nông dân đã đợc sử
dụng lới điện đạt 76,3 %. Đến nay tỷ lệ số xã, số hộ nông dân có điện trên nớc
ta đã cao hơn một số nớc trong khu vực nh : Inđônêxia, Bang la đét, Xrilanca,
ấn độ
Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện chơng trình đa điện về nông
thôn cũng nh nâng cao chất lợng điện cung cấp cho khu vực nông thôn. Ngành
điện đề ra mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2005 nh sau: Hoàn thành việc đa
điện về 1459 xã cha có điện còn lại đảm bảo 100% trung tâm xã có điện lới
hoặc điện tại chỗ (trong đó 1139 xã đa lới điện và 320 xã cấp điện bằng nguồn
tại chỗ). Đa số hộ nông dân nông thôn đạt tỷ lệ 85% số hộ có điện ( Tăng
thêm 1,3 triệu hộ). Phối hợp với các địa phơng tiến hành cải tạo nâng cao chất
lợng lới điện của các xã đi đôi với công tác quản lý bảo đảm giá bán điện tới
từng hộ nông dân.
Tuy còn nhiều khó khăn và thách thức, nhng với kết quả đạt đợc trong
hơn 40 năm qua. Đồng thời tiếp tục phát huy phơng châm " Nhà nớc và nhân
dân, Trung Ương và địa phơng cùng làm" đã đợc thể chế hoá. Tổng công ty
điện lực Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với các ngành các cấp các địa phơng
phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu đa điện về nông thôn, góp phần tích cực
vào sự nghiệp xây dựng nông thôn mới giàu mạnh, văn minh hiện đại.
2.2 Vai trò của phát triển điện năng đối với công tác thông tin liên lạc ở
khu vực nông thôn.
Khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh
học ngày càng có bớc nhảy vọt và trở thành lực lợng sản xuất thúc đẩy sự phát
triển cảu kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, biến đổi sâu sắc trong
lĩnh vực đời sống xã hội. Chu trình sản phẩm ngày càng đợc rút ngắn, các
điều kiện kinh doanh trên trờng quốc tế luôn thay đổi, đòi hỏi các quốc gia
8
cũng nh các doan nghiệp phải rất nhạy cảm nắm bắt và thích nghi. Các nớc
đang phát triển, trong đó có Việt Nam nền kinh tế đa thành phần là nông
nghiệp nếu không tranh thủ nắm bắt thông tin để đa vào sản xuất đầu t các ph-
ơng tiện máy móc hiện đại, giống cây trồng
Ngoài ra, sản phẩm của khu vực này ngày càng đợc mở rộng và hình
thành thị trờng ra bên ngoài, nhất là sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay là các
sản phẩm truyền thống của vùng. Muốn cho sản phẩm đợc thị trờng trong và
ngoài nớc biết đến, thì ngời dân ở đay phải đợc nắm bắt đầy đủ các thông tin
để có thể đa sản phẩm của mình đi xa hơn.
Tóm lại vai trò của thông tin là rất quan trọng trong việc phát triển khu
vực nông thôn. Tuy ngành điện không trực tiếp tham gia vào việc đa thông tin,
nhng lại tham gia một cách gián tiếp và hầu hết các phơng tiện thông tin đều
có sự tham gia cuả điện. Chính vì vậy, muốn phát triển thông tin liên lạc ở
những khu vực nông thôn thì ngành điện phải là một trong những ngành đi tiên
phong.
2.3 Vai trò của phát triển điện nông thôn với phát triển y tế và giáo dục ở
khu vực nông thôn
Kế hoạch phát triển mạng lới điện nông thôn là quá trình xây dng và
thực hiện các dự án có quy mô lớn, góp phần thực hiện chủ trơng của Đảng và
Nhà nớc về điện khí hoá nông thôn miền núi. Vì vậy trong quá trình lựa chọn
các tỉnh để đa vào kế hoạch, Chính phủ và Tổng công ty điện lực Việt Nam rất
chú trọng đến các tỉnh mà có tỷ lệ số xã và số hộ nông thôn đợc cấp điện còn
thấp ( xã<80%, số hộ nông dân <60 %). Đặc biệt là các xã ở miền núi, vùng
sâu vùng xa, thuộc các khu vực mà Chính phủ có chính sách đầu t đặc biệt cho
cơ sở hạ tầng và thúc đẩy các mặt kinh tế xã hội, các xã các vùng căn cứ
cách mạng chịu nhiều hậu quả chiến tranh nặng nề và có những đóng góp lớn
trong hai cuộc kháng chiến.
9
Kế hoạch phát triển mạng lới điện nông thôn xét theo chiều sâu sẽ thấy
nó đem lại hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và xã hội. Mà đó chính là hiệu
quả lâu dài mang tính chiến lợc của Đảng và Nhà nớc. Trớc hết khi có điện đời
sống văn hoá, trình độ dân trí của ngời dân nông thôn đợc nâng lên rất nhiều,
kéo theo sự phát triển của các công trình trờng học và phúc lợi khác nh: Trạm
y tế, nhà văn hoá xã Từ đó mà đồng bào dân tộc ở nông thôn đ ợc đi học đợc
biết chữ, đợc phục vụ về nhu cầu y tế chữa bệnh và nhu cầu vui chơi giải trí.
Những điều kiện trên sẽ góp phần hạn chế và xoá bỏ nạn du cach du c, giúp
đồng bào định cach định c ổn định sản xuất.
3. Kinh nghiệm phát triển mạng lới điện nông thôn ở một số nơi
3.1 Kinh nghiệm phát triển mạng lới điện nông thôn ở Pháp
Ngành Điện lực Pháp hiện nay đợc coi là hình mẫu tiêu biểu của cung
cấp điện công cộng, của sự tập trung hoá cao độ. Ngời dân Pháp đợc hởng
quyền cung cấp điện, thế nhng điều nghịch lý là Nhà nớc Pháp hoàn thành
điện khí hoá nông thôn mà không cần Nhà nớc đầu t và mặc dầu hiện nay
công ty điện lực Pháp (EDF) độc quyền về truyền tải điện, chiếm tỷ lệ tuyệt
đối trong sản xuất và phân phối điện ở Pháp. Nhng quá trình điện khí hoá nông
thôn ở nớc này lại phát triển theo chiều hớng ngợc lại, không phải từ trung tâm
lan toả ra dần các địa phơng và ngợc lại từ các địa phơng phát triển đi lên và
hoà nhập dần làm một.
Tổng cộng lại công cuộc điện khí hoá nông thôn ở Pháp phải mất 50
năm mới hoàn thành. Đây là một khoảng thời gian có thể là dài đối với những
ai mong muốn đẩy nhanh tiến độ phát triển. Song nhìn chung do chiến tranh
kéo dài nên thời gian thực tế chỉ còn khoảng 20 năm và có thể chia làm 3 giai
đoạn.
10
Giai đoạn thứ nhất khoảng trên 10 năm dành cho các đề xuất và đầu t
của t nhân, nhằm thiết lập một thị trờng kinh doanh có lãi và điện khí hoá đợc
một phần các làng xã ( trên một phần dân số nông thôn nớc Pháp).
Giai đoạn thứ hai, khoảng 10 năm là giai đoạn chuyển tiếp với việc xây
dựng cơ cấu cho vay phục vụ các công trình liên xã, đa điện đến hầu hết các
xã ( nhiều trờng hợp xã cha có điện chỉ vì họ từ chối việc đấu nối điện).
Giai đoạn cuối giành cho một vài năm còn lại để điện khí hoá những
khâu còn yếu trong khuôn khổ Công ty điện quốc gia.
Trong giai đoạn đầu, các công trình t nhân chiếm quan trọng hàng đầu,
60 % điện khí hoá nớc Pháp đã đợc thực hiện mà không có bất kỳ sự giúp đỡ
nào của Nhà nớc. Đôi khi ngời ta tổ chức khuyên góp hay trích một phần nhỏ
ngân sách để bày tỏ thịên chí. Nhu cầu lớn thì ngời ta đầu t lớn, nhu cầu nhỏ
thì đầu t nhỏ. Họ sẵn sàng huy động mọi nguồn năng lợng kể cả cối xay nớc
để đa vào phục vụ. Nhiều công trình nhỏ chỉ vài cây số đờng dây cũng đủ cung
cấp điện cho một nửa số gia đình trong làng và điện chiếu sáng công cộng.
Nhng rồi cũng có nhiều tranh chấp xảy ra nh: Kiện doanh nghiệp vì họ
đã để mất điện nhiều ngày gây ảnh hởng đến việc sản xuất hay câu móc điện,
có tranh chấp giải quyết tại địa phơng có tranh chấp phải đa lên chính quyền
cấp cao hơn
Mặc dầu các công trình do t nhân đảm nhiệm nhng không có nghĩa là
muốn thế nào cũng đợc. Nhà nớc có những quyết định rất rõ ràng. Ngay từ
năm 1908 đã có những sắc lệnh quy định chi tiết về các thủ tục xét duyệt và
cấp giấy phép xây dựng khai thác các công trình khai thác điện ( nh tiêu chuẩn
xây dựng, mẫu hồ sơ xin cấp phép, quy định về phơng thức cấp vốn và kiểm
tra, phơng thức điều chỉnh biểu giá cung cấp điện ).
Cẩn thận và chi tiết hơn Nhà nớc còn quy định hình thức các chính
quyền địa phơng biểu quyết để đi đến quyết định có điện khí hoá hay không,
Nhà cung cấp nào , công văn của chính quyền địa phơng trình hồ sơ lên cấp
11
trên và th uỷ quyền kiểm tra. Tóm lại một bộ quy định hoàn chỉnh giúp chính
quyền địa phơng tiến hành các bớc thủ tục để đợc điện khí hoá. Nhà nớc giám
sát và kiểm tra cuối cùng về bộ dự án nhng vẫn dành cho chính quyền địa ph-
ơng chọn nhà cung cấp điện và dành cho nhà cung cấp điện quyền đề xuất hồ
sơ kỹ thuật và biểu giá.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, vì những lý do chính trị,
hơn nữa trong làn sóng quốc hữu hoá những ngành đợc coi là có tính chất
chiến lợc trong công cuộc xây dựng lại đất nớc. Nhà nớc đã gạt bỏ khai thác t
nhân khỏi ngành điện. EDF ra đời và quản lý hầu hết cơ sở ngành điện ở Pháp.
Mặc dầu cho đến ngày nay vẫn tồn tại số ít tổ liên xã hoá, chi nhánh trực
thuộc chính quyền địa phơng hoạt động trong lĩnh vực phân phối điện và hiện
có khoảng 1500 nhà sản xuất điện độc lập.
Tóm lại nếu ta bỏ qua vấn đề quan điểm lịch sử phát triển phát triển
ngành điện thế giới trong mấy năm qua hết chuyển từ thái cực này sang thái
cực khác. Khi thì quốc hữu hoá toàn bộ, lúc thì t nhân hoá tất cả, thì kinh
nghiệm ngành điện Pháp cho ta hình ảnh về công cuộc điện khí hoá nông thôn
ở Pháp đợc xây dựng trên cơ sở ý dân, ở đó một nhà nớc tập trung và pháp luật
chặt chẽ, đã thành công trong việc phát huy mặt tích cực của vô số các nhà
thầu t nhân cũng nh động viện hàng chục nghìn xã tham gia vào sự nghiệp lớn
lao này.
3.2 Kinh nghiệm điện khí hoá nông thôn ở tỉnh Thanh Hoá
Cùng với sự phát triển của nguồn điện và lới điện truyền tải, những năm
qua với phơng châm " Nhà nớc và nhân dân, Trung Ương và địa phơng cùng
làm". Lới điện nông thôn Thanh Hoá đợc phát triển khá nhanh. Đến nay đã có
27 / 27 huyện, 80,6 % số xã và trên 79% số hộ nông thôn ở đây đã có điện.
Nh vậy, so với chỉ tiêu mà nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng đề ra thì
Thanh Hoá đã vợt chỉ tiêu về số xã và số hộ có điện. Điện về làng đã góp phần
làm khởi sắc bộ mặt nông thôn Thanh Hoá.
12
Là một tỉnh đất rộng, trong đó 2/3 diện tích là rừng núi, có đợc kết quả
trong công tác phát triển điện nông thôn nh vậy là sự nỗ lực rất lớn của cán bộ
công nhân viên Điện lực Thanh Hoá.
Những thành tựu đạt đợc trên là do việc quản lý đồng vốn xây dựng có
hiệu quả, vừa đẩy nhanh tiến độ công trình, vừa không để thất thoát. Mặt khác,
lại chỉ đạo sát sao việc đào tạo đội ngũ quản lý điện nông thôn miền núi.
Từ năm 1996 đến nay, đã có trên 1500 lợt ngời đợc tham gia 24 lớp bồi
huấn do Điện lực Thanh Hoá chủ chì. Ngay tại Điện lực đã biên chế một lực l-
ợng chuyên trách theo dõi công tác điện nông thôn, biên soạn tài liệu hớng
dẫn công tác quản lý, vận hành lới điện, quản lý giá bán điện cấp cho các xã.
Ngoài ra, còn tổ chức đào tạo hỗ trợ hiệu chỉnh, kiểm định công tơ đo đếm
điện đợc tiến hành chu đáo, trong đó điện lực chỉ thu 1000 đồng tiền điện
kiểm định còn bù lỗ 8000 đồng cho một công tơ. Đến nay đã có 47000 công tơ
đợc hiệu chỉnh bảo đảm cho việc đo đếm chính xác và giảm đợc tổn thất điện.
Những hoạt động thiết thực trên của điện lực Thanh Hoá đã tạo nên kết
quả khả quan về mô hình quản lý, bán điện đến hộ nông dân, bảo đảm an toàn
trong cung ứng và sử dụng điện khu vực nông thôn miền núi Thanh Hoá. Hiện
nay đã có 30/460 xã vừa bán điện đến hộ dân trên trục hạ thế vừa bán điện cho
thôn xóm tại công tơ tổng, không còn xã nào tồn tại mô hình khoán thầu điện
do t nhân quản lý điện đến hộ nông dân với giá thấp hơn giá trần của Chính
phủ.
Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 131 xã dân phải mua điện với giá
trên 700 đồng / Kw và 11 huyện miền núi với số dân trên 1 triệu ngời, nhng
mới có 80 % số xã có điện trong tổng số 198 xã. Vì vậy mà trong kế hoạch
2001-2005 Điện lực Thanh Hoá đã kiến nghị với Trung Ương và Công ty điện
lực 1 xem xét hỗ trợ đồng bào miền núi sớm có điện dùng, ở những nơi nào
không thể kéo điện lới quốc gia, có thể tổ chức mô hình điện tại chỗ hoặc
dùng các dạng năng lợng khác thay thế điện lới.
13
II. Kế hoạch 5 năm phát triển mạng lới điện nông thôn
1. Kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá chiến lợc và quy hoạch phát triển trong
lộ trình phát triển dài hạn của đất nớc, của doanh nghiệp nhằm xác định các
mục tiêu định hớng, các nhiệm vụ và chỉ tiêu cụ thể, các cân đối, các giải pháp
có giá trị hiện hành trong khoảng thời gian 5 năm.
1.1.Đặc điểm của kế hoạch 5 năm.
+ Thị trờng vừa là căn cứ, vừa là đối tợng của kế hoạch: Kế hoạch đợc
hình thành từ đòi hỏi khách quan của thị trờng, xuất phát từ thị trờng. Thoát ly
thị trờng, kế hoạch chứa đựng cá c yếu tố không khả thi. Một kế hoạch đúng là
kế hoạch đó phải phản ánh đợc lợi ích của các bên tham gia quan hệ thị trờng.
+ Kế hoạch mang tính định hớng: Kế hoạch chỉ đa ra một loạt các ph-
ơng hớng sẽ phải đạt đợc trong tơng lai với các chỉ tiêu cụ thể. Điều này có
nghĩa là không sử dụng các biện pháp mệnh lệnh hành chính trực tiếp mà chủ
yếu sử dụng các biện pháp gián tiếp để hớng mọi nỗ lực vào thực hiện định h-
ớng đó.
Trong xây dựng kế hoạch: coi việc xây dựng kế hoạch là thành nên các
kịch bản, từ đó xây dựng nên nhiều phơng án ứng với điều kiện cụ thể. Qua
đó, ta có thể đa ra các giải pháp lựa chọn phơng án tối u. Mặt khác, chỉ tiêu kế
hoạch phải đợc xây dựng trong một khoảng thời gian và phải tạo ra đợc các
phơng án thay thế khác nhau.
Trong triển khai thực hiện kế hoạch: áp dụng nguyên tắc thay đổi theo
kiểu hàng hải, nghĩa là dựa vào mục tiêu, theo dõi mục tiêu và điều khiển
theo sự biến động của bên ngoài.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét