Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
3.1. Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Chạy cự ly ngắn, chương trình thể dục lớp 7.
3.2. Kế hoạch nghiên cứu:
Từ tháng 09 năm 2010 đến tháng 03 năm 2011
TT Nội dung công việc
Thời gian
Bắt đầu Kết thúc
01 Chọn vấn đề, xác định vấn đề nghiên
cứu.
09/2010 09/2010
02 Nghiên cứu tài liệu 09/2010 02/2011
03 Xây dựng đề cương. 09/2010 09/2010
04 Tiến hành kiểm tra lấy số liệu lần 1 09/2010 09/2010
05 Tổ chức thực nghiệm 09/2010 11/2010
06 Tiến hành kiểm tra lấy số liệu lần 2 11/2010 11/2010
07 Hoàn chỉnh đề tài 03/2011 03/2011
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Phương pháp tham khảo tài liệu:
Mục đích của phương pháp này là ghi chép, phân tích, tổng hợp có
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 5
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
chọn lọc các tài liệu có liên quan đến các vấn đề giảng dạy môn điền kinh
nói chung và môn chạy cự ly ngắn nói riêng, nhằm hình thành cơ sở lý
luận, xây dựng đề cương, phương pháp đánh giá …
4.2. Phương pháp kiểm tra sư phạm:
Dùng phương pháp này lấy số liệu về thành tích chạy 60 m.
* Chạy 60 m xuất phát cao (s):
- Mục đích: Dùng để đánh giá sức nhanh.
- Phương pháp kiểm tra và công nhận thành tích: Người được kiểm tra
sẽ đứng ở tư thế xuất phát cao. Khi nghe lệnh xuất phát thì nhanh chóng
rời khỏi vạch xuất phát và chạy nhanh về đích. Mỗi học sinh sẽ thực hiện
hai lần, lấy thành tích ở lần thực hiện cao nhất.
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Được sử dụng nhằm mục đích đưa các nhân tố mới nghiên cứu vào thực
tiễn giảng dạy. Qua thực nghiệm góp phần làm sáng tỏ những yếu tố tác
động trực tiếp tới kết quả tập luyện của đối tượng nghiên cứu.
Sau khi đã lựa chọn các bài tập tôi sẽ tổ chức tập luyện cho nhóm đối
tượng thực nghiệm trong chương trình. Sau khi thực nghiệm sẽ kiểm tra
thành tích của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Nhằm đánh giá hiệu quả của các bài tập đã chọn trên những đối tượng
cụ thể trong tổ chức thực nghiệm, tôi chọn:
- Học sinh lớp 7A
1
trường THCS Thị Trấn để thực nghiệm được tập
thêm các bài tập bổ trợ.
- Học sinh lớp 7A
2
trường THCS Thị Trấn để đối chứng được học theo
chương trình chính khóa tại trường.
PHẦN B. NỘI DUNG
1.Cơ sở lí luận:
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 6
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
1.1.Cơ sở lí luận về bài tập thể lực chuyên môn trong chạy cự ly
ngắn:
Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt
thể chất con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹ xảo
vận động cơ bản trong đời sống con người, cùng những hiểu biết có liên
quan đến những kỹ năng, kỹ xảo đó.
Trong thể dục thể thao nói chung và điền kinh nói riêng, các bài tập
thể dục thể thao được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt, tác động
đến đối tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích giáo dục thể chất.
Dựa theo các quan điểm khác nhau, các bài tập thể dục thể thao dùng
trong giảng dạy, huấn luyện được phân loại theo nhiều cách khác nhau.
Một trong những cách phân loại phổ biến là phân thành các bài tập nhằm
tạo điều kiện cho việc nắm vững kỹ thuật động tác (bài tập bổ trợ) và các
bài tập thể lực chuyên môn nhằm phát triển các tố chất thể lực: sức nhanh,
sức mạnh, sức bền,…Trên thực tế các tố chất này thể hiện dưới dạng tổng
hợp gắn liền với nhau. Tuy nhiên, trong cự ly ngắn thì sức mạnh tốc độ và
sức nhanh thể hiện rõ ràng hơn. Để đạt được thành tích cao trong chạy cự
ly ngắn thì cần phối hợp có hiệu quả và sử dụng các bài tập huấn luyện về
sức mạnh tốc độ, sức nhanh…Phải được lựa chọn phù hợp với lứa tuổi,
giới tính và điều kiện cơ sở vật chất ở từng địa phương.
1.2. Nguyên lý kỹ thuật và tác dụng tập luyện môn chạy cự ly ngắn.
1.2.1. Nguyên lý kỹ thuật chạy cự ly ngắn:
Môn chạy cự ly ngắn có các cự ly 60m, 100m, 200m, 400m. Chạy cự
ly ngắn là một hoạt động có tính chu kỳ, có cường độ tối đa, chủ yếu phát
triển sức mạnh bền tốc độ. Đặc điểm chung của cự ly ngắn là tốc độ cao
nhất, cường độ lớn nhất và thời gian ngắn nhất. Một chu kỳ hoạt động
trong chạy cự ly ngắn đều có hai bước chạy, bao gồm 4 thời kỳ: chống tựa
của một chân, bay, chống tựa của chân kia, bay. Mỗi thời kỳ chống tựa có
2 giai đoạn:
Giai đoạn chống trước: Từ khi chân lăng mới tiếp xúc xuống mặt đất
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 7
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
tới khi tổng trọng tâm của cơ thể dọi thẳng góc xuống chân chống tựa
(thời điểm thẳng đứng).
Giai đoạn chống sau: Từ khi tổng trọng tâm thân thể dọi thẳng góc
xuống chân chống tựa (thời điểm thẳng đứng) tới khi chân chống tựa đạp
sau rời khỏi mặt đất. Bước chạy càng tích cực, tốc độ càng nhanh thì thời
kỳ bay trên không càng ngắn, hệ số tích cực của bước chạy càng nhỏ.
Như vậy, muốn chạy nhanh phải giảm thời gian bay trên không. Hay
nói cách khác, trong giai đoạn chống sau, phải giảm tốc độ đạp sau và
tăng lực đạp sau, để đưa cơ thể chuyển động nhanh về phía trước. Ở giai
đoạn chống sau, các cơ duỗi chân chống tựa phải hoạt động rất tích cực
theo chế độ khắc phục đạp thẳng hết chân. Các cơ chân kia (chủ yếu là cơ
tứ đầu đùi) cũng phải hoạt động tích cực, để phối hợp đánh đùi về phía
trước lên trên. Muốn đánh đùi của chân lăng tích cực và nhanh, cẳng chân
phải theo quán tính gập sát với đùi trên để rút ngắn bán kính chuyển động,
tăng tốc độ góc.
Ngoài hoạt động của hai chân còn có sự phối hợp hiệu quả của các cơ
tham gia đánh tay và các cơ tham gia giữ thân trên ở vị trí hợp lý. Giai
đoạn chống sau có liên quan mật thiết hữu cơ với giai đoạn chống trước,
giai đoạn chống trước lại có quan hệ mật thiết với thời kỳ bay.
Trong khi chạy xuất phát thấp, thân người ngã nhiều về phía trước. Ở
các bước đầu, chân chống tựa đặt phía sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể,
ít bị tác động bất lợi của phản lực chống tựa. Trọng tâm cơ thể cao nhất ở
thời kỳ bay và thấp nhất ở thời kỳ chống tựa. Trọng tâm cơ thể càng ít di
động thì tốc độ càng cao.
Trong quá trình chạy, tốc độ bước chạy phụ thuộc vào tần số bước và
độ dài bước. Những công trình nghiên cứu chưa nhất trí khẳng định: Tốc
độ trong chạy cự ly ngắn phụ thuộc vào tần số bước chạy hay độ dài bước.
Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu gần đây khẳng định tốc độ bước
chạy phụ thuộc vào tần số bước chạy với độ dài bước thích hợp. Động tác
chạy phải hết sức thoải mái, không bị căng thẳng, kết hợp tốt việc phối
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 8
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
hợp bước chạy với hô hấp.
1.3. Đặc điểm tâm - sinh lý và phát triển thể chất của học sinh
THCS lứa tuổi 12 – 13:
1.3.1. Đặc điểm tâm lý:
Các em có những bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần.
Các em đang tách dần khỏi thời kỳ thơ ấu để chuyển sang giai đoạn
trưởng thành. Các em không còn là trẻ em nữa, nhưng cũng chưa phải là
người lớn. Do đó các nhà tâm lý học thường gọi giai đoạn này là thời kỳ
quá độ chuyển từ trẻ con sang người lớn. Trong giai đoạn này trẻ em được
hình thành những phẩm chất về trí tuệ, tình cảm, ý chí. Đặc trưng của giai
đoạn này là sự phát dục còn gọi là tuổi dậy thì, nó ảnh hưởng không nhỏ
đến cá tính các em. Tuổi dậy thì đã đem lại cho các em nhiều cảm xúc, ý
nghĩ, hứng thú, tính cách…mới mẻ mà trước đây các em chưa ý thức
được.
Trong quan hệ với người xung quanh các em cũng gần gũi hơn. Các
em muốn làm người lớn, biết lo lắng trách nhiệm, hăng hái nhiệt tình đi
tìm cái mới. Tuy nhiên các em chưa có kinh nghiệm tự lượng sức mình, dễ
lẫn lộn giữa tình cảm và liều lĩnh, giữa khiêm tốn và nhu nhược. Các em
đòi hỏi người lớn phải công nhận khả năng và tôn trọng nhân cách của
mình.
Tính độc lập ở lứa tuổi này cũng phát triển. Các em có thể gánh vác
nhiều công việc gia đình, nhà trường và xã hội. Các em có khả năng tổ
chức tập thể tự quản. Song không phải lúc nào các em cũng có quan điểm
đúng đắn, vì thế chúng ta cần đánh giá đúng tính độc lập của các em
Hơn lứa tuổi nào hết, sự phát triển trẻ em ở lứa tuổi này mang tính độc
đáo nổi bật, nhất là tính chất quá độ “ Vừa trẻ con, vừa người lớn”.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý:
Ở lứa tuổi này diễn ra quá trình phát dục mạnh mẽ. Cơ thể các em
phát triển nhanh, mạnh nhưng mất cân đối giữa các mặt đòi hỏi các nhà
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 9
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
giáo dục phải biết chăm sóc các em thật chu đáo. Thiếu tập thể dục, vệ
sinh, nghỉ ngơi không hợp lý sẽ dẫn đến những nguy hại không nhỏ sau
này. Học tập và lao động quá sức dễ bị gây bệnh. Nếu có biện pháp đúng
sẽ phát triển được nhiều tài năng ở lứa tuổi này, kể cả những tài năng thể
thao.
Dưới ảnh hưởng của tập luyện, cơ thể học sinh có khả năng thực hiện
một hoạt động cơ bắp nhất định với thành tích cao. Đó là quá trình tạo cho
con người thích nghi với hoạt động cơ bắp, nhờ hoàn thiện sự điều khiển
và phối hợp hoạt động giữa các hệ chức năng, trên cơ sở những biến đổi
về cấu tạo, chức phận và sinh hóa trong cơ thể.
* Hệ thần kinh:
Ở học sinh cấp II, quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế so với quá
trình ức chế. Sự phối hợp động tác ở lứa tuổi này vẫn còn kém, động tác
cứng, vụn về. Mặc dù các biểu hiện trên chỉ mang tính tạm thời, song vẫn
cần được chú ý trong tập luyện thể dục thể thao. Khả năng phân tích tổng
hợp của các em còn thấp nhưng sâu sắc hơn tuổi nhi đồng, dễ thành lập
phản xạ. Xong cũng dễ bị phai mờ, vì thế các em dễ tiếp thu nhưng chóng
quên. Hệ thần kinh thực vật của các em còn yếu, các dấu hiệu về kích
thích cảm giác tăng lên, các biểu hiện chủ quan, lo lắng rất hay gặp. Một
số em hay xuất hiện đau đầu một cách vô cớ, chóng mệt mỏi, dễ bị chấn
thương tinh thần khi bị rối loạn giấc ngủ, do làm việc nặng nhọc, hay học
tập quá sức.
* Trao đổi chất và năng lượng:
Đặc điểm chính của lứa tuổi này là quá trình đồng hóa chiếm ưu thế
so với quá trình dị hóa, do nhu cầu phát triển và hình thành cơ thể. Cơ thể
các em đang phát triển cần nhiều đạm, nhu cầu đạm cao cả về số lượng
và chất lượng. Ngược lại nhu cầu về đường và mỡ giảm dần theo lứa
tuổi. Sự điều hòa trao đổi đường ở cơ thể các em kém hoàn thiện hơn so
với người lớn.
Nước và chất khoáng có ý nghĩa quan trọng đối với cơ thể các em.
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 10
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
Trẻ càng phát triển nhanh thì nhu cầu nước càng lớn. Các chất khoáng,
đặc biệt là Canxi rất cần thiết cho việc tạo xương. Nhu cầu về chất khoáng
tăng cao trong thời kỳ tăng trưởng mạnh của cơ thể và trong tuổi dậy thì.
Sự tiêu hao năng lượng trong hoạt động thể lực cũng phụ thuộc vào
lứa tuổi. Trong cùng một hoạt động các em bao giờ cũng tiêu hao nhiều
năng lượng so với người lớn.
* Hệ vận động:
Đặc điểm chung là hệ vận động phát triển mạnh cả về số lượng
và chất lượng. Xương đang cốt hóa mạnh mẽ, dài ra rất nhanh nên chịu
lực kém. Với các xương nhỏ như xương cổ tay, cổ chân nếu tập lực hoặc
lao động nặng dễ gây đau kéo dài.
Cơ bắp của các em phát triển chậm hơn xương, chủ yếu phát triển
chiều dài cơ. Sự phát triển cơ bắp cũng không đồng đều, các cơ co và cơ
to phát triển mạnh hơn các cơ duỗi và nhỏ. Điều đó khiến các em không
phát huy được khả năng sức mạnh của mình và mau xuất hiện mệt mỏi.
* Hệ tuần hoàn:
Các kích thước tuyệt đối cũng như tương đối của tim tăng dần. Tim
phát triển rất mạnh (khoảng 200g). Độ dày thành tâm thất trái tăng đáng
kể, đường kính động mạch chủ tăng. Kích thước của tim các em ở lứa tuổi
này chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc tập luyện thể dục thể thao. Tần số co
bóp của tim giảm dần theo lứa tuổi (khoảng 80 lần/phút). Cơ năng của tim
đang còn trong quá trình phát triển, sự điều tiết còn chưa ổn định, lực co
bóp còn yếu, họat động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ làm tim chóng mệt
mỏi. Huyết áp có thể tạm thời tăng đến 15mmHg do hoạt động mạnh của
tuyến nội tiết.
Nhịp tim của các em thiếu ổn định và thay đổi nhiều hơn so với
người lớn. Sự hồi phục ở các em đối với lượng vận động nhỏ diễn ra
nhanh hơn so với người lớn. Ngược lại, với những lượng vận động lớn cơ
thể các em hồi phục chậm hơn người trưởng thành, do khả năng tạo hồng
cầu kém. Có thể tập chạy cự ly ngắn và trung bình, các môn bóng có giới
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 11
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
hạn về thời gian.
1.3.3. Đặc điểm phát triển thể chất:
Điểm đặc trưng của lứa tuổi này là quá trình phát dục mạnh mẽ.
Các tuyến nội tiết tăng cường hoạt động, kích thích cơ thể lớn nhanh lên.
Chân, tay dài ra, động tác vụng về. Hằng năm, các em có thể cao thêm từ
7 – 10 cm. Khung chậu, lồng ngực phát triển, các cơ phát triển nhanh làm
tăng các tố chất thể lực nhưng thời gian tập luyện không nên quá dài vì dự
trữ Glycogen còn kém.
1.4. Đặc điểm các tố chất thể lực của học sinh lứa tuổi 12 – 13:
Tố chất thể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con
người. Tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi. Sự
tăng trưởng này còn gọi là sự tăng trưởng tự nhiên. Khuynh hướng của sự
tăng trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kỳ dậy thì. Nam
khoảng 15 tuổi, nữ khoảng 12 tuổi. Giai đọan lứa tuổi khác nhau tốc độ
phát triển tố chất thể lực khác nhau. Sự phát triển tố chất thể lực gồm hai
giai đọan:
- Giai đọan tăng trưởng: là giai đọan tố chất thể lực tăng liên tục, trong đó
có giai đọan tăng nhanh và tăng chậm. Trong giai đoạn tăng trưởng nhanh
các tố chất vận động được gọi là thời kỳ mẫn cảm của sự phát triển tố chất
thể lực.
- Giai đọan ổn định: là giai đọan tố chất thể lực có tốc độ tăng chậm rõ
ràng, hoặc dừng lại, hoặc có thể giảm xuống.
Tố chất thể lực là cơ sở tiếp thu và thực hiện kỹ thuật, chiến thuật. Tố
chất thể lực càng tốt thì càng dễ tiếp thu và vận dụng nhanh kỹ thuật,
ngược lại kỹ thuật càng tốt thì càng thể hiện trình độ thể lực cao. Tố chất
thể lực gồm có: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo. Việc
phát triển các tố chất thể lực ở lứa tuổi này tương đối thuận lợi, vì cơ thể
các em đang độ tuổi phát triển cao.
*Tố chất mạnh:
Sự phát triển tố chất mạnh có liên quan đến sự phát dục của hệ thần
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 12
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
kinh và cơ bắp. Nhưng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể, sự phát triển
tố chất mạnh không giống nhau. Sức mạnh lưng, bụng phát triển sớm (ở
giai đoạn tiểu học bắt đầu phát triển nhanh), sức mạnh tĩnh lực phát triển
chậm, còn sức mạnh bộc phát sau lứa tuổi trung học cơ sở mới phát triển
nhanh.
Sức mạnh lớn hay bé phụ thuộc vào tiết diện sinh lý cơ. Tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm của sức mạnh tương đối khoảng 3 %. Nguyên
nhân chủ yếu tạo nên hiện tượng này là do sự tăng trưởng của chiều cao,
cân nặng. Trẻ em những năm 12 tuổi đối với nữ, 13 tuổi đối với nam có
sức mạnh tương đối phát triển khá nhanh. Đây là thời kỳ quí giá nhất để
phát triển sức mạnh tương đối.
* Tố chất nhanh:
Sự phát triển tố chất nhanh sớm hơn phát triển tố chất mạnh. Thời kỳ
phát triển tố chất nhanh quan trọng nhất là ở lứa tuổi tiểu học và trung học
cơ sở. Do đó trong giảng dạy và huấn luyện thể dục cần tiến hành tập các
bài tập phát triển tố chất nhanh trong giai đọan này là chính như: chạy
ngắn, bơi lội, xe đạp, bóng bàn và các môn bóng.
* Tố chất bền:
Sự phát triển tố chất bền muộn hơn phá triển tố chất nhanh. Bởi vì tố
chất bền có liên quan mật thiết đối với sự phát triển của hệ tuần hoàn, hệ
hô hấp và khả năng ổn định của cơ thể.
Trong giai đoạn đầu của sự phát dục, quá trình Oxy hóa của trạng thái
yên tĩnh thịnh vượng hơn so với người trưởng thành, lượng tiêu thụ Oxy
lớn, làm lượng Hemoglobin, Mogolobin tương đối ít, công năng tim –
phổi tương đối yếu. Do sự phát triển của hệ hô hấp và hệ tuần hoàn chưa
hoàn thiện, nên ở lứa tuổi này các em chưa có khả năng chịu đựng lượng
vận động sức bền lớn. Nên tập luyện các bài tập sức bền trong thời gian
ngắn.
* Tố chất mềm dẻo, khéo léo:
Giai đoạn này tố chất mềm dẻo – khéo léo của các em phát triển rất
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 13
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh lớp 7
trường THCS Thị Trấn.
tốt. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển thành tích thể thao của các
em sau này. Có thể tập luyện và phát triển tốt các môn như thể dục nhịp
điệu, nhào lộn…
2.Cơ sở thực tiễn:
Thực tế giáo dục hiện nay với yêu cầu ngày càng cao của công tác
giáo dục tích cực đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển giáo dục
toàn diện thì bên cạnh đó TDTT nói chung bộ môn thể dục nói riêng cũng
phải được nâng cao phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội và mục tiêu
giáo dục thể chất trong nhà trường. Do đó việc nghiên cứu ứng dụng bài
tập bổ trợ nâng cao thành tích cho học sinh phù hợp với mục tiêu yêu cầu
trên là vấn đề cần thiết .
Nhằm tìm hiểu hiệu quả việc sử dụng các bài tập thể lực chuyên môn
để nâng cao thành tích chạy cự li ngắn cho học sinh. Kết quả nghiên cứu
có thể góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn chạy cự li ngắn cho
học sinh cấp học trung học cơ sở tạo một nền tảng vững chắc cho các em
bước qua cấp trung học phổ thông.
3.Nội dung vấn đề:
Điền kinh là một môn học trọng điểm của chương trình, thông qua tập
luyện và tập luyện môn điền kinh sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể,
cải thiện và nâng cao chức năng các cơ quan nội tạng, phát triển toàn diện các tố
chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản cho học sinh nâng cao sức khỏe nói
chung.
Chạy là môn thể thao có tính chu kì, là năng lực hoạt động cơ bản nhất của
con người nó là nền tảng của các môn thể thao khác. Nhiệm vụ của giảng dạy
môn chạy là phát triển các tố chất thể lực như sức nhanh, mạnh bền mềm dẻo,
khéo léo, linh họat và nhịp điệu, thúc đẩy cơ thể, các cơ quan vận động, thúc đẩy
phát triển các công năng của cơ quan nội tạng, làm cho học sinh nắm vững các
kiến thức cơ bản kĩ năng và kĩ thuật cơ bản của môn chạy, nắm được tư thế chạy
đúng, nâng cao năng lực chạy.
Bài tập bổ trợ là các bài tập sử dụng để nâng cao tố chất thể lực có liên
Người thực hiện: Bùi Thị Thu Thuỷ Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét