Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mục lục
Lời nói đầu 2
Chơng I : cơ sở lý luận của đề tài 4
I -/Bản chất con ngời 4
II-/ con ngời trong đời sống xã hội và trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất 4
Chơng II: công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam 6
I -/ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì ? 6
II-/ Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá 7
III-/ Con ngời Việt Nam trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá 9
Chơng 3: Phát huy yếu tố con ngời trong sự nghiệp 11
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá 11
Kết luận 15
Danh mục các tài liệu tham khảo 16
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và đã có rất nhiều nớc
đã trở thàmh những nớc công nghiệp lớn, vậy chúng ta có cần bàn luận thêm về phạm trù
con ngời và vấn đề về con ngời trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiện
nay không. Điều đó có phải là vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phơng thức duy nhất để
phát triển nền kinh tế thế giới và bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở
nên quá chậm, quá lạc hậu so với bớc đi của thế giới hay là vì con ngời là chủ thể, là mấu
chốt, là điểm khởi đầu cũng nh là cái đích của quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
này.
Việt Nam là một trong số các quốc gia nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng
lạc hậu, làm ăn tản mạn, tuỳ tiện của sản xuất nhỏ, sản xuất còn mang tính chất tự cấp, tự
túc, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngời
thuộc loại thấp nhất thế giới, tốc độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nớc trong khu vực. Vì
vậy muốn không bị tụt hậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất
yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tại hội nghị lần thứ VI Ban chấp
hành trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII đã xác định nớc ta Chuyển dần sang
một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, nhằm
tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng
đầu trong thời gian tới. Chủ trơng này tiếp tục đợc hoàn thiện và có bớc phát triển mới ở
các Đại hội VII, VIII, IX và trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Trung ơng.
Để tiến hành sản xuất và tổ chức xã hội, con ngời phải dựa vào hai nguồn tài nguyên
là: thiên nhiên và lao động của con ngời, trong đó cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con
ngời là trí tuệ. Mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn
kiệt. Nhng sự hiểu biết của con ngời sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài
nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để
con ngời nhận thức tính vô tận của thế giới vật chất, bắt thế giời vật chất phục vụ các nhu
cầu của con ngời. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con ngời là nguồn lực vô tận của sự phát triển
xã hội, phát huy đợc yếu tố này đảm bảo thành công của con ngời trong sự nghiệp Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
Thực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của Mác về vị trí,
vai trò không gì thay thế đợc của con ngời trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại,
của xã hội loài ngời. Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang
từng bớc thực hiện với những thành công bớc đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi
chúng ta phải nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố
con ngời, phải thấy rõ vai trò của con ngời trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội. Bởi
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vậy để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo định hớng Xã HẫI
CHẹ NGHĩA và đa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nớc vẫn còn
trong tình trạng lạc hậu nh nớc ta, chúng ta không thể không phát triển con ngời Việt Nam,
nâng cao đội ngũ những ngời lao động nớc ta lên một tầm cao chất lợng mới. Nhận định
này đã đợc khẳng định trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng:
Nâng cao dân trí, bồi dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhận định này tiếp tục
đợc khẳng định và có bớc phát triển mới ở Đại hội IX và nhiều Nghị quyết quan trọng của
Trung ơng.
Với những phân tích ở trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài con ngời trong sự nghiệp
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là hết sức cần thiết. Qua đó, triết học tiếp tục khẳng định vị
trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nớc. Sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta đợc tiến hành nh thế nào, quy mô và nhịp độ của nó
ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng góp của triết học.
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chơng I : cơ sở lý luận của đề tài.
I -/Bản chất con ngời
Đối với Mác con ngời không phải là một tồn tại trừu tợng, ẩn náu đâu đó ngoài thế
giới
1
. Đó là những con ngời sống trong một thời đại nhất định, một môi trờng xã hội nhất
định, có những quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát
triển của văn minh.
Bản chất con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu cá nhân riêng biệt trong
tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội
2
. Đây là một
luận đề nổi tiếng của Mác nói lên bản chất con ngời với sự trừu tợng khoa học, đó là sự
khái quát từ đời sống cụ thể, từ thuộc tính của con ngời hiện thực, thế hệ này qua thế hệ
khác, bản chất con ngời đợc thể hiện và chỉ có thể đợc thể hiện thông qua tổng thể các quan
hệ xã hội. Muốn tìm bản chất con ngời thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên
ngoài đời sống hiện thực của con ngời. Nếu đứng trên quan điểm sinh vật học mà xét thì
không thể hiểu đợc thực chất của con ngời, khả năng đối xử có tính ngời đối với thế giới và
đối với những ngời khác, khả năng lao động, giao tiếp với những ngời chung quanh, khả
năng t duy, những tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ. Tất cả những cái đó đều
không phải là đặc tính của cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn
lịch sử xã hội, tiêu biểu cho thực chất của con ngời trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể
của nó. Những nét ấy đợc hình thành nhờ con ngời tham gia vào hệ thống các quan hệ xã
hội, vào quá trình hoạt động lao động. Chính trong quá trình này con ngời đã tự sáng tạo ra
bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản
thân với t cách là con ngời. Một tiêu chuẩn cho phép ngời ta phân biệt con ngời- đó là sản
xuất ra công cụ lao động cũng bằng chính công cụ. Đồng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện
của văn hoá con ngời là giới tự nhiên mà con ngời dùng để xây dựng nền văn hóa của mình
bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo. Con ngời xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử,
sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy, con ngời hoàn toàn mang tính xã hội.
II-/ con ngời trong đời sống xã hội và trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất
Khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài ngời là sự thay thế lẫn nhau
của các hình thái kinh tế xã hội, Các Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con
ngời làm thớc đo chung cho sự phát triển xã hội. Các Mác cho rằng, tiến trình phát triển
của lịch sử xã hội loài ngời đợc quy định bởi sự phát triển của lực lợng sản xuất trong đó
bao gồm con ngời và những công cụ lao động do con ngời tạo ra. Sự phát triển của lực lợng
sản xuất tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con ngời chiếm lĩnh và sử
1
C.Mac-F.Anghen tuyển tập, tập I. NXB Sự thật Hà Nội- 1981, trang 13,14.
2
C.Mac-F.Anghen tuyển tập, tập VI. NXB Sự thật Hà Nội- 1981, trang 257.
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dụng ngày càng nhiều lực lợng tự nhiên với t cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất
và đời sống xã hội của chính con ngời. Sản xuất là quá trình hoạt động thực tiễn cơ bản của
con ngời nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Nhu cầu của con ngời tăng lên không
ngừng, do đó mà con ngời phải mở rộng sản xuất thông qua việc nâng cao năng suất lao
động, đảm bảo chất lợng, hiệu quả của sản xuất, giảm nhẹ lao động. Vì vậy có thể nói, chỉ
trong quá trình hoạt động, trớc hết và quan trọng hơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ
óc và bàn tay con ngời không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ sở, là nguồn
vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, đa dạng, phong phú của
con ngời. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con ngời đã đợc thể hiện bằng
việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ
khác và đợc ghi nhận nhân cách cụ thể, trớc hết ở sự biến đổi của công cụ sản xuất. Hay nói
cách khác, sức mạnh trí tuệ con ngời không ngừng đợc vật thể hoá trong công cụ sản xuất,
trong lực lợng sản xuất nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con ngời đợc biểu hiện ở sự biến
đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong quá
trình phát triển của xã hội. Những cuộc cách mạng của lực lợng sản xuất diễn ra trong lịch
sử xã hội loài ngời là những điểm mốc đợc đánh dấu bởi sự phát triển ngày càng cao của
công cụ sản xuất: từ lửa đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và
công nghệ trí tuệ ngày nay
Nhng bên cạnh vai trò con ngời là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố hàng đầu
đóng vai trò quyết định trong lực lợngsản xuất của xã hội, con ngời còn là chủ thể hoạt
động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con ngời sáng tạo ra lịch
sử của chính mình, sáng tạo ra lịch sử của xã hội loài ngời. Kết quả là xã hội loài ngời đã b-
ớc từ thời đại văn minh này sang thời đại văn minh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự
nhiên.
Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất ngày
càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lợng của toàn xã hội và sự phát triển
mới của nền sản xuất do việc đó mang lại sẽ cần đến những con ngời hoàn toàn mới. Các
Mác đã khẳng định: sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội trớc hết có ý nghĩa là sự
phát triển phong phú của bản chất con ngời, coi nh là một mục đích tự thân
3
. Bởi vậy theo
Các Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con ngời
toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá của con ngời, giải phóng con ngời, loại trừ ra
khỏi cuộc sống con ngời mọi sự tha hoá để con ngời sống với cuộc sống đích thực của
mình.
Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nớc, chỉ có con ngời-yếu tố quan
trọng nhất trong lực lợng sản xuất của xã hội mới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính
quyết định sự thành công hay thất bại. Nhng con ngời cũng là mục tiêu, là cái đích của sự
3
C.Mac-F.Anghen toàn tập, tập 26, phần II. NXB Chính trị Quốc gia Hà nội- 1995, trang 168.
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phát triển, sự đổi mới này. Hay nói cách khác, công cuộc đổi mới đất nớc mà cụ thể là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con ngời, phụ thuộc vào con ngời và vì con ngời.
Chơng II: công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam
I -/ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì ?
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng công nghiệp hoá là đa đặc
tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một nớc), các nhà máy, các
loại công nghiệp Quan niệm này mang đợc hình thành trên cơ sở khái quát quá trình
hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nớc Tây Âu, Bắc Mỹ.
Nghiên cứu định nghĩa phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô, ta thấy
rằng công nghiệp hoá là phát triển đại công nghiệp, trớc hết là công nghiệp nặng, sự phát
triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên
tiến.
Quan điểm công nghiệp hoá này đã đợc chúng ta tiếp nhận và áp dụng thiếu sự phân
tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của nớc ta. Cuốn Từ điển tiếng Việt đã giải thích
công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của
nền kinh tế quốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị
kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc những năm 60, ta đã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế
vẫn không thoát khỏi nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu
kém Mặc dù không đạt đợc mục tiêu nhng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nớc ta đã
xây dựng đợc một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế quốc
phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo đợc phần nào đời sống nhân dân.
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc đã đa ra một định nghĩa:
Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này, một bộ phận
ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một
bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm
bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền
kinh tế và xã hội. Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều
mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.
Còn theo quan niệm mới phù hợp với điều kiện nớc ta thì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công nghệ, xây dựng cơ
cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trởng bền vững và có hiệu quả
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nói tóm lại Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đó là sự phát triển của lực lợng sản xuất từ
thấp đến cao, từ cha hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp hoá là nhằm phát
triển kinh tế-xã hội, đa nớc ta theo kịp các nớc tiên tiến trên thế giới.
II-/ Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi tr-
ờng chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh: nguồn lực con ngời, vốn, tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nớc ngoài. Các nguồn
lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nhng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con ngời là yếu tố quyết định.
Vai trò của nguồn lực con ngời quan trọng nh thế nào đã đợc chứng minh trong lịch sử
kinh tế của những nớc t bản phát triển nh Nhật Bản, Mỹ, Nhiều nhà kinh doanh nớc ngoài
khi đến tham quan Nhật Bản thờng chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy móc và coi đó là nguyên
nhân tạo nên sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Nhng họ đã nhầm, chính ngời Nhật Bản
cũng không quan niệm nh vậy. Ngời Nhật cho rằng kỹ thuật và công nghệ có vai trò rất to
lớn nhng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn đến thành công
của họ là con ngời. Cho nên họ đã tập trung cao độ và có những chính sách hiệu quả phát
triển yếu tố con ngời.
Ngày nay đối với những nớc lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu
không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại của các nớc phát
triển. Nhng không phải cứ chuyển giao công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính
đến yếu tố con ngời. Công nghệ tiên tiến của nớc ngoài khi đợc tiếp thu sẽ phát huy tác
dụng tốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con ngời
khi sử dụng chúng. Nhiều công ty chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhng vì không
chú ý đến yếu tố con ngời nên đều thất bại. Một học giả của Mỹ đã viết: Điều mỉa mai lớn
nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hiện đổi mới, nhng lại có ít công ty
thực hiện đủ mức để đạt tới thành công. Nhiều công cuộc đổi mới đã tiến hành nhng thất
bại vì các công ty đó đã không đa vào cấu tạo của kế hoạch đổi mới hoặc chơng trình đổi
mới của họ một nhân tố khó nhất để thành công- con ngời.
Nh mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con ngời và do nguồn lực này quyết định. Các lý
do làm minh chứng cho nhận định này có thể kể ra nh sau:
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, các nguồn lực khác nh vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý tự nó chỉ
tồn tại dới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi đợc kết
hợp với nguồn lực con ngời thông qua hoạt động có ý thức của con ngời. Con ngời là nguồn
lực duy nhất có t duy, có trí tuệ, có ý chí, và biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn chúng
kết lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lợng sản xuất, ngời lao động
là yếu tố quan trọng nhất, là lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại.
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, trong khi đó nguồn lực con ngời lại là vô tận.
Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát
triển về chất trong con ngời xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ
sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời phát triển nh một quá
trình vô tận xét trên bình diện cộng đồng nhân loại. Nhờ vậy con ngời đã từng bớc làm chủ
tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có
hiệu quả hơn, đa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.
Thứ ba, trí tuệ con ngời có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó đợc vật thể hoá, trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó
con ngời có thể sáng tạo ra những ngời máy bắt chớc hay phỏng theo những đặc tính trí
tuệ của chính con ngời. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn
tay khối óc con ngời làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ
trong lịch sử phát triển của mình.
Thứ t, kinh nghiệm của nhiều nớc và thực tiễn của chính nớc ta cho thấy sự thành công
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đờng lối, chính
sách cũng nh tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động
thực tiễn của con ngời. Khi tiến hành công nghiệp hoá thì mặt chất lợng, cơ cấu và cơ chế
sử dụng nguồn nhân lực rất quan trọng. Cơ cấu lao động cần cho quá trình Công nghiệp hoá
- Hiện đại hoá phải bao gồm: các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả,
các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề Không có
các chính khách, các học giả tài ba thì khó có thể có đợc những chiến lợc, chính sách phát
triển đúng đắn. Không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có ngời sử dụng
một cách có hiệu quả các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ. Sự thiếu vắng hay kém cỏi của
một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ làm chậm quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc.
Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con ngời là nguồn lực có vai
trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Do vậy,
muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu
t cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
con ngời cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất
trong công cuộc đổi mới hiện nay.
III-/ Con ngời Việt Nam trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
Có rất nhiều nớc trên thế giới đã thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc với nguồn lực chủ đạo là con ngời. Trong công cuộc đổi mới ở Việt
Nam hôm nay, với những thế mạnh và những hạn chế của mình con ngời Việt Nam có thực
hiện đợc vai trò của mình hay không? Trong phần này giúp chúng ta tìm hiểu xem nguồn
nhân lực của Việt Nam có những đặc điểm gì để phát huy và những hạn chế gì cần phải
khắc phục.
Những thế mạnh phải nói đến đó là:
Thứ nhất, theo thống kê của năm 2001 cả nớc hiện có 39.489 nghìn ngời từ 15 tuổi trở
lên đang có việc làm ổn định, khu vực thành thị 9.182 nghìn ngời, khu vực nông thôn có
30.307 nghìn ngời. Nh vậy tỉ lệ lao động có việc làm 97,24%, tỉ lệ thất nghiệp 2,76%
Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọng tơng đối cao về lao động trẻ, phần lớn có học vấn phổ
thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến
thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lực lợng lao động có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ đợc đào tạo tơng đối lớn (so với các nớc có thu nhập nh nớc ta).
Tính đến năm 2001 lực lợng lao động có chuyên môn kỹ thuật lên tới 22,2% có khoảng gần
1 triệu ngời tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng đó còn cha kể tới 120.000 ngời có bằng thạc sỹ
và tiến sỹ.
Thứ ba, chúng ta có một lợng tơng đối lớn Việt kiều làm ăn sinh sống sống ở nớc
ngoài, tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ ngời có trình độ
cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể. Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần
phát triển đất nớc, là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công
nghệ và các quan hệ quốc tế.
Thứ t, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con ngời Việt Nam.
Truyền thống đó cần đợc nuôi dỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm bắt, tiếp thu và vận
dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại
phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc. Tính cộng đồng, ý thức trách
nhiệm với cộng đồng đợc phát huy mạnh mẽ sẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc
truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, tạo
dựng và phát triển cơ nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm, góp phần làm giảm
sức ép về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truyền thống biết chịu đựng gian
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khổ để tiết kiệm, tích luỹ cho đầu t mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế n-
ớc nhà nói chung.
Nhng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những điểm yếu kém
sau đây:
Thứ nhất, số ngời lao động đợc đào tạo quá ít chỉ chiếm 20% tổng số lao động, 77,71%
lao động sản xuất nông nghiệp đồng nghĩa với con số trên là tỷ lệ qua đào tạo hết sức hạn
chế, ớc tính hiện nay nớc ta số lao động cha qua đào tạo chiếm 51,74% (học vấn từ tiểu học
trở xuống). Đây là trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hoá trong nông nghiệp trong
kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Điều tra ở 17 trờng đại học cho thấy số
cán bộ giảng dạy dới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên đại học
đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ và tiến
sĩ, hơn 70% giáo s và hơn 90% giáo s đều ở độ tuổi này, trong khi đó sinh viên giỏi sau khi
tốt nghiệp đều không muốn ở lại trờng. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ
gặp không ít khó khăn.
Thứ ba, việc bố trí sử dụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các ngành:
trên 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí. Đa số các
cán bộ khoa học của ta làm việc trong các viện nghiên cứu, các trờng học, còn trong các
ngành sản xuất vật chất thì rất ít. Chẳng hạn, trong các ngành nông lâm ng nghiệp chỉ có
8,1% cán bộ có trình độ đại học và 6,49% cán bộ có trình độ sau đại học. Nhìn vào một số
nớc trong khu vực, cán bộ khoa học làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao
nh Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lợng lao động
không hợp lý này gây nên hiện tợng thừa thiếu giả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong
lao động tri thức. Qua điều tra, trên cả nớc số sinh viên ra trờng có việc làm chiếm 70%.
Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa lại thiếu cán bộ
khoa học kỹ thuật.
Thứ t, thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Sự phát triển
về phơng diện sinh lý và thể lực dờng nh chững lại.
Thứ năm, ngời lao động nớc ta nói chung cha có nếp lao động công nghiệp, quen theo
kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phơng đông, cha truyền con
nối.
Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngời ở Việt Nam với những thế mạnh
cũng nh các mặt hạn chế. Phải có những nố lực phi thờng bằng hành động thực tiễn trong
việc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện đại hoá mới có thể thành
công. Đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một cuộc cách
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mạng con ngời mà thực chất là cách mạng về chất lợng nguồn lao động. Cách mạng con
ngời với công nghiệp hoá hiện đại hoá là hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bởi vậy, mỗi bớc tiến lên của cuộc cách mạng con
ngời sẽ đem lại những thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ng-
ợc lại.
Chơng 3: Phát huy yếu tố con ngời trong sự nghiệp
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
Xã hội loài ngời chỉ đợc phát triển khi phát triển tối đa từng cá nhân. Vấn đề phát triển
cá nhân không còn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu thiết yếu trong thực tiễn xã hội ta
ngay từ hôm nay. Cụ thể để công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành một cuộc
cách mạng con ngời nhằm tạo ra một số lợng lớn các nhà khoa học một đội ngũ đông đảo
các nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tơng đối cao và những ngời lao động lành nghề.
Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục bồi dỡng nhân tài phải phát triển tơng ứng.
Với một số nớc t bản phát triển, họ rất coi trọng công tác giáo dục. Chẳng hạn thời kỳ
đầu sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, nhng chính phủ Nhật bản không
hề giảm chi phí giáo dục, tỷ trọng kinh phí giáo dục luôn chiếm 20% trở lên trong kinh phí
hành chính của Nhật còn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nớc cho giáo dục chiếm 4,2% GDP
và chiếm 12,8% chi tiêu của nhà nớc. Thực tế đã chứng minh, ở Mỹ nếu đầu t cho giáo dục
1$ thì sẽ lãi 4$, còn ở Nhật thì 1$ sẽ lãi 10$.
Trong nhiều năm qua, nhà nớc ta đã chú ý phát triển nguồn lực con ngời bằng những
chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không tránh khỏi một số hạn chế do điều
kiện kinh tế hạn hẹp. Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó - chính sách phát triển
giáo dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tìm ra bớc đi tiếp theo để hoàn thành cuộc cách
mạng con ngời ở Việt Nam. Có thể khái quát tình hình giáo dục ở Việt Nam nh sau:
Trải qua 15 năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục - đào tạo nớc ta có bớc phát triển về quy
mô, chất lợng, hình thức đào tạo cơ sở vật chất. Trình độ dân trí và chất lợng nguồn nhân
lực đợc nâng lên đáng kể.
Quy mô giáo dục - đào tạo đợc nâng tiếp tục mở rộng ở tất cả các bậc học, ngành học,
đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân. Hiện nay gần 94% dân c từ 15 tuổi
trở lên biết chữ; tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nớc đều đạt chuẩn quốc gia về xoá mù
chữ và phổ cập tiểu học. Một số tỉnh và thành phố đã và đang tiến tới đạt chuẩn phổ cập
trung học cơ sở. Số năm đi học trung bình của dân c đạt 7,3. Năm học 2000 - 2001 cả nớc
có 17.866.673 hoc sinh phổ thông, số sinh viên trên vạn dân đạt 118 ngời. Đã đào tạo đợc
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
một lực lợng lao động có chuyên môn kỹ thuật khoảng 8 triệu ngời, chiếm 18,3% trong
tổng số 43,8 triệu lao động cả nớc. Số ngời học về tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ quản lý
phát triển nhanh.
Chất lợng giáo dục - đào tạo có chuyển biến bớc đầu. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp
cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên ngày càng đợc nâng cao. Số học sinh
phổ thông đạt các giải quốc gia và quốc tế theo một số môn học ngày càng tăng, khẳng
định tiềm năng trí tuệ to lớn của học sinh nớc ta. Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, cao
đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập, năng động. Một số ngành khoa
học cơ bản và khoa học công nghệ đã nâng cao một bớc chất lợng đào tạo.
Cơ sở vật chất kỹ thuật các trờng đợc nâng cáp, cải thiện. Số trờng lớp đợc xây dựng
mới ngày càng nhiều. Mạng lới trờng phổ thông phủ đợc hầu hết các địa bàn dân c, tạo
thuận lợi cho ngời học. Mạng lới các trờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
từng bớc sắp sếp lại. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề phát triển rộng khắp. Giáo dục ở các
vùng dân tộc thiểu số có những chuyển biến tích cực, đã thành lập trên 100 trờng dân tộc
nội trú.
Tuy vậy sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn bộc lộ một số mặt yếu kém nh:
Chất lợng giáo dục đào tạo đại trà ở các cấp bậc học còn thấp. Đa số học sinh, sinh
viên quen cách học thụ động thiếu năng lực t duy độc lập, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng vào sản xuất và đời sống. Một số học sinh,sinh viên ít quan tâm đến việc rèn luyện
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Thể lực đa số học sinh, sinh viên còn yếu. Các điều
kiện cơ bản để đảm bảo chất lợng còn bất cập nh đội ngũ giáo viên thiếu về số lợng, cơ cấu
không đồng bộ và chất lợng thấp, phơng pháp giáo dục lạc hậu, phơng tiện giảng dậythiếu
thốn.
Hiệu quả hoạt động giáo dục thấp. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp so với nhập học
còn thấp, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa (năm học 1999 -2000 tỷ lệ này ở tiểu học là
70,9%, trung học có sở 69,4%, trung học phổ thông 78,2%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn
thấp làm cho khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ mới gặp nhiều khó khăn. Cha có giải
pháp hữu hiệu trong việc đào tạo nhân lực để tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để
phát triển nông thôn, phục vụ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động. Đào tạo đại học
và giáo dục nghề nghiệp cha phù hợp với nhu cầu về lao động của xã hội, một số đáng kể
những ngời tốt nghiệp không làm đúng ngành nghề, thiếu tự giác, trung thực trong lao
động, thiếu trách nhiệm không tôn trọng quy trình kỹ thuật tham ô lãng phí nguyên vật
liệu.
Cơ cấu đào tạo nhân lực về trình độ, ngành nghề và vùng miền cha hợp lý. Phần lớn
học sinh phổ thông chỉ chọn một con đờng là học lên đại học, việc học nghề ở các trình độ
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khác còn hạn chế. Việc tăng vi mô đào tạo đại học cha đợc định hớng vào nhu cầu của xã
hội. Phân bố học sinh, sinh viên theo ngành nghề, theo vùng miền cha phù hợp với nhu cầu
kinh tế xã hội của cả nớc và của địa phơng, gây nên tình trạng nơi thừa nơi thiếu. Khoảng
cách về trình độ phát triển giáo dục đào tạo giữa các vùng trong nớc cha đợc thu hẹp.
Có thể nói giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang đứng trớc những thách thức lớn lao,
trớc yêu cầu đổi mới kinh tế-xã hội, trớc yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, tr-
ớc sức ép về nguy cơ tụt hậu so với các nớc trong khu vực. Trong những năm tới, giáo dục
Việt Nam phải thực hiện đợc các mục tiêu sơ bản là nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dỡng nhân tài theo hớng khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, trên
cơ sở nỗ lực của bản thân và kinh nghiệm, cùng sự giúp đỡ của các nớc phát triển.
Muốn vậy nhà nớc phải có các chính sách, biện pháp phù hợp nh:
Tăng ngân sách giáo dục và đào tạo, sử dụng ngân sách đó một cách có hiệu quả. Nâng
tỷ lệ chi cho giáo dục - đào tạo trong ngân sách Nhà nớc từ 15% năm 2000 lên 18 % năm
2005và 20% năm 2010.
Đồng thời, nhà nớc phải chăm lo đến đời sống của đội ngũ giáo viên, cải thiện chế độ
tiền lơng, tăng phụ cấp cho giáo viên để giáo viên có thể nâng cao vị trí xã hội của mình.
Mặt khác, phải chú ý đào tạo tập trung vào các ngành kỹ thuật, công nghệ nhiều hơn cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Nâng cao chất lợng của các bậc tiểu học, làm tiền đề vững chắn cho chất lơng của các
cấp học tiếp sau.
Những phân tích trên đây mới chỉ đề cập đến phát triển giáo dục và đào tạo - một yếu
tố một cơ sở để con ngơi Việt Nam có thể thực hiện vai trò của mình.
Vì vậy tồn tại song song với phát triển giáo dục, nhà nớc ta còn phải thực hiện những
nhiệm vụ cấp bách sau đây:
Một là, căn cứ vào yêu cầu phát triển của các ngành và các vùng lãnh thổ, cần tổ chức
bố trí lại lực lợng lao động một cách hợp lý trên phạm vi cả nớc theo hớng đổi mới công
nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn.
Hai là, cần trả lơng đúng và đủ cho ngời lao động, trong đó chú ý đến đội ngũ cán bộ
khoa học. Cần nhấn mạnh rằng, bản thân tiền lơng không đơn giản chỉ là việc trả công, mà
nó còn tái sản xuất ra sức lao động ( nhiều hay ít), kích thích những phẩm chất (tích cực
hay tiêu cực) của ngời lao động.
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ba là, tiến hành đào tạo bồi dỡng lại lực lợng lao động hiện có và đào tạo lực lợng mới
theo chuyên ngành nhất định. Trong đó, bảo đảm sự cân đối và đồng bộ giữa lao động phổ
thông, lao động kỹ thuật và lao động khoa học.
Bốn là, tiến hành một cách thờng xuyên đồng bộ hoạt động giáo dục đối với ngời lao
động về các mặt chính trị-t tởng, lợi ích, ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân, truyền
thống. Trong điều kiện hiện nay, chỉ quan tâm đến lợi ích vật chất mà không thực hiện
công tác giáo dục thì sẽ dẫn đến sai lầm, tại hại, làm h hỏng con ngời, thậm chí cả một thế
hệ ngời. C.Mác đã từng nhắc nhở chúng ta, trong phát triển kinh tế phải gắn sự nghiệp giải
phóng con ngời với cuộc đấu tranh chống lại biểu hiện thực tiễn cực đoan của sự tha hóa
con ngời
4
. Không nghi ngờ gì rằng, mặt trái của nền kinh tế thị trờng đã và đang tác động
đến từng cá nhân, từng gia đình và mỗi tập thể của chúng ta. Trong xã hội hiện nay, có tình
trạng một số ngời có kinh tế khá, thậm chí là giàu có nhng vẫn tham ô, móc ngoặc, ăn cắp,
buôn lậu. Trái lại, một số ngời nghèo, thậm chí rất nghèo nhng không chịu lao động chân
chính, chuyên dùng thủ đoạn lừa bịp, ăn cắp Bên cạnh đó, còn một lớp ngời (thờng là trẻ
tuổi) không chịu học hành, làm việc, chỉ lo ăn chơi và từ đây dẫn đến tội phạm.
Năm là, phải nâng cao thể lực cho thanh niên. Mặc dù đây là một vấn đề đòi hỏi phải
có thời gian để giải quyết trên cơ sở nâng cao dần mức sống của nhân dân về vật chất cũng
nh về tinh thần. Trớc mắt, cần tập trung giải quyết cho đợc các mục tiêu của chơng trình
chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong các năm tới, đầu t nâng cao chất lợng của chơng trình giáo
dục thể chất và y tế học đờng; đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong thanh thiếu
niên, tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên duy trì phong trào khoẻ vì ngày mai lập nghiệp,
khoẻ để bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện những nhiệm vụ trên đây có nghĩa là về cơ bản nhà nớc ta đã hoàn thành
cuộc cách mạng con ngời , biến con ngời Việt Nam thành nguồn lực quyết định đa sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đi đến thành công.
4
C.Mac-F.Anghen toàn tập, tập 1. NXB Chính trị Quốc gia Hà nội- 1995, trang 561.
Con ngời trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại ho dất n ớc
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét