biết cái thế và địa vị là đủ để cậy nhờ, còn sự khôn ngoan sáng suốt không
đủ cho ta hâm mộ.
Hàn Phi Tử là người kết hợp cả ba phái: Pháp - Thuật - Thế. Trong
hoàn cảnh xã hội lúc đó Phi đau xót: Các vua chúa, trước hết là nước Hàn
chẳng lo soi sáng pháp chế, nắm lấy cái thế để chế ngự bầy tôi, lo cho nước
giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi, trái lại họ nghe theo bọn sâu
mọt làm hại nước. Ông có sẵn kiến thức vô cùng uyên bác để tiếp thu Tuân
Tử, ông kiểm soát lại tình hình chính trị của các thời đại, lý giải tại sao
nước này mạnh, nước kia yếu, thời kỳ này cường thịnh thời kỳ kia suy đồi.
Ông thấy lý do là rất đơn giản. Những người nhà vua cần dựa vào để bảo
vệ đất nước là những người tài giỏi, binh sĩ, người cày thì vứt bỏ. Trái lại
nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước, không ai chịu xây dựng một
kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh và chỉ vâng theo ham
thích nhất thời. Càng hiểu được sự thực ông càng thất vọng. Ông phẫn uất
trong cảnh cô độc, thấy cái khó trong việc nói sự thực. Phi là người có tật,
ông nói ngọng - không thành công trong việc nói, ông dốc hết tâm trí vào
việc viết, mong để lại cho đời sau các học thuyết mà ông tin là sẽ làm cho
dân yên nước mạnh.
Việc pháp gia chọn phương pháp - pháp trị không phải xuất phát từ
ý muốn chủ quan mà xuất phát từ những tiền đề lý luận, tiền đề lịch sử xã
hội quan niệm về đạo đức luân lý nhất định. Đó là bản tính ác của con
người được khởi xướng từ Tuân Tử mà Hàn Phi đã vận dụng phép trị nước
của mình.
Hàn Phi lý luận: Sự thay đổi về dân số và số lượng của cải trong xã
hội. Đàn ông không cần cày cấy vì đã có sản phẩm cây cỏ đủ ăn, đàn bà
không cần dệt vải vì đã có lông chim, da thú để mặc, lúc đó người ít, của
cải dư thừa, mọi người không tranh giành nhau nên không cần thưởng phạt,
lúc ấy con người cai trị tự nhiên. Khi con người đã đông (chúng ta vẫn nói
5
người khôn, của khó) của cải ít đi, mọi người làm việc vất vả mà vẫn không
đủ ăn, cho nên phải tranh giành nhau, cướp giật, gây chiến tranh lúc này
phải cần đến pháp luật.
Trong pháp luật thì thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất, dân dù
đông bao nhiêu cũng trị được đó là lợi thế của pháp trị so với nhân trị.
Ở thời Xuân Thu - Chiến quốc Pháp gia đã hình thành nên 4 phái
cơ bản: Phái Trọng Thực của Lý Khôi, phái Trọng Thế của Thận Đáo,
phái Trọng Thuật của Thân Bất Hại, phái Trọng Pháp và biến pháp của
Thương Ưởng.
Tư tưởng pháp trị được hình thành bởi Hàn Phi. Ông đã tập hợp ba
quan điểm Pháp - Thế - Thuật thành một học thuyết có tính hệ thống trên
nền tảng học thuyết về "đạo", "vô vi" của Lão giáo, tư tưởng "chính danh",
"tôn quân" của Nho gia. Trong đó "Pháp" là nội dung của chính sách cai trị,
"thế" và "thuật" là phương tiện để thực hiện chính sách đó.
Pháp gia kế thừa tư tưởng "chính danh" của Nho gia ở chỗ nếu Nho
gia "chính danh" là danh và thực phải đi với nhau mỗi người đều phải làm
tròn bổn phận của mình, phải có suy nghĩ, việc làm, hành động Đúng với
danh phận. Theo Nho giáo có "Nhân", có "Lễ" và "chính danh" thì là tốt, xã
hội ổn định.
Pháp gia kế thừa "chính danh" trên cơ sở danh và thực phải đi đôi
với nhau. Nhưng ai ở phận nào chỉ được làm tròn ở phận ấy, không được
làm quá bổn phận của mình, ai làm không được hay quá bổn phận đều bị
phạt chỉ được làm đúng chức trách được giao. Pháp gia kế thừa tư tưởng
"vô vi" của Lão Tử ở nhiều lĩnh vực trong pháp, Thuật, Thế. Theo Lão Tử
"Đạo" "Vô vi" là không, hữu là cố, vô là không và ở giữa không và có. Tư
tưởng của Lão Tử vĩ đại ở chỗ. Cai trị, mà không gì không cai trị cả thế
mới là cai trị. Pháp gia kế thừa trong "thế" tức là uy quyền, thế lực làm cho
người khác phải sợ đó là cái "Vô". Còn "thuật" là mưu mẹo là cái giấu kín
ở trong bụng không để người khác biết đó cũng là cái "Vô" trong thuật.
6
Pháp Hàn Phi kế thừa tư tưởng của Lão Tử trong thi hành pháp luật.
Lão Tử nói trị nước như cá củ nhỏ nếu cứ lật đi lật lại thì cá sẽ nát. Phép trị
nước nếu thay đổi liên tục thì dân không biết đâu mà theo, nước sẽ loạn.
Tư tưởng chính trị cơ bản của Hàn Phi có thể tóm tắt theo những
nét chính sau đây:
Thứ nhất; Tư tưởng coi trọng pháp luật
Theo Hàn Phi, việc dùng pháp luật là tất nhiên bởi vì bản tính người
không phải là thiện, số người thiện tuy có nhưng ít, chờ người ta làm điều
thiện không phải là cách cai trị hiệu quả, vừa phải dùng pháp luật để khiến
người ta không làm điều ác. Hàn Phi khẳng định tầm quan trọng của pháp
luật: "Bỏ pháp luật và thuật trị nước mà lấy cái tâm để trị thì Nghiêu cũng
không chỉ chỉnh đốn được một nước. Bỏ cái quy, cái củ mà lấy ý mà đo đạc
bừa thì Hề Trọng (quan coi xe cộ của Hạ Vũ) không thể làm thành một
bánh xe. Bỏ thước tấc để so sánh cái dài, cái ngắn, thì Vương Nhĩ (tên
người vợ khéo ngày xưa) không thể nêu được chỗ ở giữa. Nhưng nếu một
ông vua trung bình nắm lấy pháp luật mà trị nước, một người thợ vụng giữ
cái quy, cái củ, cái thước, cái tấc, thì vạn điều không sai một điều. Kẻ làm
vua chúa nếu có thể bỏ được các điều mà người giỏi cũng không làm được,
để giữ cái mà người vụng làm vạn điều không sai một thì sức người dùng
được hết mà công danh được xác lập" [4, tr. 252] pháp luật phải công khai:
"Pháp luật là cái chép để ở trong sách vở, đặc nơi cửa công, ban bố cho
trăm họ". Đã lập pháp luật thì cả nước đều biết, không ai được tự ý thay
đổi: "Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình
theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ,
kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần,
thưởng cái đúng không bỏ kẻ thất phu. Cho nên đều sửa chữa được sự sai
lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được
điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật" [4, tr. 62].
7
Có pháp luật rồi để khen thưởng hay trừng phạt thì phải xét cái sự
thực đã làm ra (hình) và tên gọi của công việc (danh) có phù hợp với nhau
không. Điều này đã được Hàn Phi nêu rõ: "Bậc làm vua muốn cấm chuyện
gian tà thì phải xét kỹ tên gọi và việc làm xem có hợp với nhau không, phải
xét xem việc làm có hợp với lời nói không. Bằng lời trình bày lời nói mà
giao công việc, rồi căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả phù
hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu kết quả
không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói thì phạt" [4,
tr. 65].
Ông vua có hai cái quyền thưởng và phạt Hàn Phi gọi đó là "hai cái
cán" mà ông vua không thể trao cho ai. Cái thế của ông vua là ở đấy. Ông
vua phải thưởng, phạt nghiêm mà giữ lấy cái thế của mình, ông nói: "Bậc
vua sáng suốt sở dĩ lãnh đạo và chế ngự được bầy tôi chẳng qua chỉ nhờ hai
cái cán mà thôi. Hai cái cán ấy là hình và đức" [4, tr. 63]. Hàn Phi đề cao
đến mức tuyệt đối hóa việc thưởng phạt: "Giết chóc gọi là hình phạt, khen
thưởng gọi là ân đức. Kẻ làm tôi sợ bị giết, bị phạt mà có lợi ở chỗ được
khen thưởng. Cho nên kẻ làm vua nếu tự mình dùng hình phạt và ân đức thì
bầy tôi sợ cái uy của nhà vua mà chạy theo cái lợi của họ" [4, tr. 63]. Ông
còn so sánh nếu quyền uy này lọt vào tay của bề tôi, không khác nào hổ
trao nanh vuốt cho chó, khi đó hổ lại phải phục tùng chó. Ông dùng hình
ảnh rất cụ thể, dễ hiểu để nói lên triết lý cuộc sống. Ông vua dùng hình phạt
và ân đức để khống chế bầy tôi, nay ông vua bỏ hình phạt và ân đức của
mình để trao cho bầy tôi sử dụng thì ông vua sẽ bị bầy tôi khống chế. Ông
đưa ra hai ví dụ trong lịch sử để khẳng định hình và đức phải đi đôi với
nhau, người cầm quyền phải giữ được tôn hai quyền ấy nếu không sẽ bị
mất quyền lực.
Ví dụ thứ nhất là vua để cho người khác lấn mình việc khen
thưởng: "Điền Thường ở trên thì xin trước lộc để ban cho quần thần, ở dưới
làm những đấu hộc lớn hơn đấu hộc thưởng để làm ơn với trăm họ (Điền
8
thường cho vay thì dùng đấu lớn, người ta trả thì đong bằng thứ đấu nhỏ
nên người Tề quý ông ta). Thế là Tề Giản Công đã bỏ mất ân đức mà Điền
Thường lại dùng cái ân đức ấy. Cho nên Từ Giản Công bị giết.
Ví dụ thứ hai là một ông vua buông lơi việc kỷ luật, trao vào tay
người khác quyền này mà bị cướp mất ngôi báu: Tử Hãn nói với vua Tống:
"Việc khen thưởng và tăng cấp là điều dân chúng thích xin bệ hạ tự làm
lấy. Việc giết chóc và dùng hình phạt là điều dân chúng ghét, thần xin nhận
làm". Do đó, vua nước Tống bỏ mất hình phạt để giao cho Tử Hãn sử dụng.
Kết quả vua Tống bị cướp ngôi. Điền Thường chỉ dùng ân đức mà Giản
Công bị giết, Tử Hãn chỉ dùng hình phạt mà vua Tống bị cướp ngôi. Như
vậy pháp là căn cứ khách quan để định rõ danh phận, phải trái, công tội từ
đó mọi người biết rõ bổn phận của mình tất cả cứ đúng mực thước, đúng
pháp luật mà làm thì xã hội ổn định.
Thứ hai: Trọng thuật
Hàn Phi phê bình Thương Ưởng rằng, chỉ có pháp luật nhưng
không có thuật thì không biết rõ kẻ gian. Dù pháp luật có tô vẽ giải thích ra
rõ mười phần, người làm tôi vẫn ngược lại dùng nó để làm chỗ dựa để mưu
đồ lợi riêng Do vậy người làm chúa phải có "thuật", theo Hàn Phi
"Thuật" là cái nằm kín đáo trong bụng, để so sánh các đầu mối của sự việc
và ngấm ngầm cai trị các bề tôi. Dùng "Thuật" thì làm cho kẻ thân gần gũi
cũng không ai biết được. Dùng "Thuật" để biết tính trung hay gian của "bầy
tôi", do đó mà điều khiển được "bầy tôi", "bầy tôi" không làm hết trách
nhiệm của mình hay vượt quá trách nhiệm của mình đều bị xử phạt. Dùng
"Thuật" cũng biết được "công", "danh", "lời nói", "việc làm" của "quần
thần". Những cái đó không xứng với nhau cũng bị phạt. Thuật còn là sử
dụng nhân tài của các bậc đế vương. Thực chất "thuật" của Hàn Phi chỉ là
thủ đoạn của "người làm vua" dùng để điều khiển cho các quan lại phải giữ
gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh. Nhưng thuật của Hàn Phi là phải đi
kèm với tính chất và hiệu lực của pháp luật.
9
Theo Lão Tử: Thuật vô vi là lý thuyết của ông. Nhưng Đạo đức kinh
của Lão Tử thuần túy là tác phẩm tư biện, Hàn Phi đã biến thành tác phẩm
thuần túy thực dụng, chứa đựng toàn mánh khóe mưu mô. Đây cũng là đóng
góp riêng của ông về thuật trị nước. Hàn Phi chỉ rõ "vô vi" là danh từ kép "cái
làm của cái vô", cái vô cũng không có gì bí hiểm, đó là cái lẽ tự nhiên, khách
quan của sự vật, do đó mà thực tế có vẻ như không làm cái gì hết. Con người
là ích kỷ, ham lợi, sợ trừng phạt đó là cái lẽ tự nhiên. Con người "vô vi" chấp
nhận các quan hệ khách quan, không việc gì chống lại nó. Anh ta đạt đến cái
lợi của mình bằng cách sử dụng các quan hệ ấy theo lợi ích của mình. Hàn Phi
viết: "Trời có cái lẽ tự nhiên của nó, con người có cái lẽ tự nhiên của nó. Mùi
thơm, vị ngon, rượu nồng, thịt béo làm ngon miệng nhưng sinh bệnh cái
quyền không nên lộ ra, bản chất của nó là vô vi. Bậch thánh nhân nắm lấy cái
chủ yếu, bốn phương đến phục dịch. Mình hư tâm (không có thành kiến) đối
xử, người ta tự họ thi hành. Bốn biển đã đầy đủ, do âm mà thắng dương.
Những người xung quanh đã xác lập xong, mở cửa để đón tiếp. Nói chung sự
vật đều có chỗ thích nghi của nó, mỗi người đều đứng vào chỗ đứng của mình
cho nên trên dưới vô vi. Khiến con gà gáy sáng, khiến con mèo bắt chuột, mọi
vật đều dùng cái tài của nó cho nên trên dưới vô sự" [4, tr. 67 - 68].
Thuật dùng người: Vua dùng bầy tôi theo cách chính danh, căn cứ
vào đó để thưởng, phạt, tức là lời nói, việc làm của bầy tôi phải tương
xứng. Nói mà không làm cũng như làm mà không nói. Làm không hết chức
trách cũng có tội như làm quá chức trách: "Khi bậc vua sáng nuôi bầy tôi,
bầy tôi không được vượt quá chức quan để có công lao, không được nói
những lời không đúng chỗ, vượt qua chức quan thì chết. Nói những lời
không đúng chỗ thì bị tội. Nếu những người làm quan nói những lời nào
cũng xác thực thì bầy tôi không thể kết bè, kết đảng với nhau được" [4, tr.
66]. Hàn Phi còn nêu rõ bảy thuật làm cho an và sáu đường làm cho nguy.
Ông phân tích từng thuật để thấy rõ từ cái lợi, cái hại của nó. Chẳng
hạn như: Tập hợp sự khôn ngoan. Tập hợp những người khôn để hỏi thì
10
những người không khôn sẽ trở thành khôn. Hiểu sâu một vật thì những
điều kín đáo đều biến mất.
Thứ ba là Trọng Thế
Hàn Phi cho rằng chỉ có hai điều "pháp luật" và "thuật" mà thiếu
quyền lực để cưỡng bức người thì dẫu người làm vua có "thuật" điều khiển
các "bầy tôi", cũng không thể bảo đảm cho "bầy tôi" phục tùng sự cai trị
của vua. Đồng thời dẫu có pháp luật nhưng nhân dân không tuân theo cũng
không thể đảm bảo cho pháp luật được thực hiện có hiệu lực. Cho nên ông
cho rằng "Thế" là điều đặc biệt cần thiết. Quan niệm về "Thế" của Hàn Phi
là một thứ quyền lực đặt ra cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật chứ
không phải thứ quyền lực nảy sinh một cách "tự nhiên" trong "chủ nghĩa
nhân trị". "Thế" còn là vị thế, địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu
chính thể, là xu thế của lịch sử. Ông ví Ngựa trở được nặng và đi được xa
là vì sức gân, chúa chinh phục được vì có uy thế.
Mối quan hệ giữa "Thuật" và "Thế":
"Thuật" và "Thế" quan hệ chặt chẽ với nhau: Một nước là gì? là cái
xe của nhà vua, "Thế" là gì? là ngựa của nhà vua. Không có thuật để điều
khiển xe ngựa ấy, dẫu cho thân vất vả, cũng không tránh khỏi loạn, có thuật
để điều khiển xe ngựa ấy, thân vẫn ở nơi an nhàn mà lại được công to bằng
các bậc đế vương. Quan hệ giữa "thế" và "pháp":
Theo Hàn Phi nếu cái thế (quyền lực) nằm trong tay người kém
cũng có thể làm rối loạn pháp luật và gây tai họa cho nước. Cho nên quyền
lực (thế) được đặt ra cho những "người trung bình". "Pháp" và "Thế" không
tách rời nhau. "người trung bình" là người ở giữa người tài giỏi (như
Nghiêu, Thuấn) và người kém (như Kiệt Trụ) và biết giữ gìn "Pháp" và
"Thế" thì nước yên trị, nếu trái "pháp", bỏ "thế" thì nước nổi loạn.
Thưởng phạt là công cụ rất quan trọng. Vì vậy nếu thưởng phạt
không thỏa đáng sẽ không răn được ai và xã hội sẽ loạn. Nhưng để có được
11
thưởng phạt thỏa đáng thì phải có các tiêu chuẩn phải trái, khen chê được
đặt ra như những mực thước quy củ.
Theo Hàn Phi, hình phạt nghiêm khắc sẽ loại bỏ được sáu hạng
người: bọn hàng giặc chạy dài, sợ chết, bọn tự cao học đạo, tự lập ra các học
thuyết và bọn lìa xa pháp luật, bọn ăn chơi xa xỉ, bọn bạo ngược, ngạo mạn,
bọn dung thứ lũ giặc, giấu giếm kẻ gian, bọn nói khéo, khoe khôn dối trá.
Dùng hình phạt nghiêm là để khuyến khích sáu loại người: Những
người lăn mình vào chốn hiểm nghèo, hy sinh thành thực, những người ít
nghe lời bậy, tuân theo pháp luật, những người dốc hết sức mà làm ăn, làm
lợi cho đời, những người trung hậu, thật thà ngay thẳng, hiền lành, những người
trọng mạng mình, những người giết giặc trừ gian, làm sáng tỏ lệnh trên.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi lấy pháp luật làm công cụ trị nước
là phù hợp với xu hướng thống nhất, trên cơ sở thiết lập chế độ phong kiến
chuyên chế Trung ương tập quyền của giai cấp địa chủ phong kiến mới,
phủ định hình thức chính trị địa phương, phân tán và phong tỏa địa phương
của tầng lớp phong kiến cũ. Lý luận này đã có tác động chỉ đạo cả một thời
gian dài trong các chế độ chính trị chuyên chế về sau.
Sở dĩ học thuyết của Hàn Phi có giá trị trong công cuộc trị nước đã
được Tần Thủy Hoàng áp dụng và đã thống nhất được Trung Quốc là vì
ông đã tổng hợp được ba học thuyết Nho, Lão, Pháp mà ở đó Nho là tài liệu
xây dựng, pháp là bản thiết kế, lão là kỹ thuật thi công của ngôi nhà đó.
Trong tác phẩm Hàn Phi Tử có 20 quyển được chia thành 55 thiên,
mỗi thiên có những nội dung khác nhau nhưng đọc và suy nghĩ thì chúng ta
thấy tuy tác phẩm của ông đã viết cách đây 2.300 năm nhưng vẫn còn giá
trị cho đến ngày hôm nay.
Chẳng hạn ở quyển V, thiên XV: Những điềm mất nước Hàn Phi đã
đưa ra 47 điềm cảnh báo, điềm 1 nói chung, khi nước của nhà vua thì nhỏ
mà các nhà riêng thì lớn, quyền mình thì ít mà bầy tôi thế mạnh thì có thể
12
mất nước. Ý nói đến lợi ích cá nhân nhiều hơn việc nước thì mất nước điều
này cũng cho chúng ta liên tưởng đến xã hội của chúng ta hôm nay, khi mà
một số quan chức giàu lên nhanh chóng, số nhân dân lao động nghèo khó
lại tăng lên, nguy cơ cảnh báo xã hội không ổn định, nếu Nhà nước không
có những chính sách hợp lý. Điềm 19 có ghi nước nhỏ mà không chịu nhún
nhường, sức yếu mà không sợ nước mạnh, vô lễ làm nhục nước láng giềng
lớn; tham lam bướng bỉnh lại vụng giao thiệp thì có thể mất. Điều này cũng
giúp chúng ta vận dụng trong chính sách ngoại giao hiện nay nhất là chính
sách đối với các nước lớn. Nếu chúng ta không linh hoạt, mềm dẻo thì
những vấn đề bất lợi vẫn có thể xảy ra. Trong những năm gần đây nước ta
đã có sách lược ngoại giao mềm dẻo, Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả
các nước trên thế giới. Quan hệ với Trung Quốc chúng ta thực hiện 16 chữ
vàng. Song đất nước ta còn khó khăn do ảnh hưởng của hai cuộc chiến
tranh kéo dài, việc phát triển kinh tế là rất cần thiết đòi hỏi chúng ta cần
phải có những quyết sách đúng đắn hơn nữa.
Điềm 41 ghi kho nhà nước trống rỗng mà quan đại thần nhiều của
cải. Các hộ dân trong nước nghèo mà dân trú ngụ giàu. Kẻ sĩ lo cày và
chiến đấu thì nghèo, dân làm nghề ngọn được lợi thì có thể mất. Câu này
liên tưởng đến chúng ta hiện nay, với 80% nhân dân lao động của chúng ta
còn khó khăn, vất vả đầu tắt mặt tối nhưng chỉ tạm đủ ăn, trong khi chi phí
tiêu dùng lại quá lớn, tiền con cái học hành, ốm đau trong khi đó một bộ
phận nhỏ cán bộ làm ở vị trí hậu hĩnh lại giàu có, làm nhức nhối trong xã
hội, một số doanh nghiệp thì chỉ lo bóc tách của nhà nước chứ không lo sản
xuất hàng hóa đây cũng là điều chưa tốt cho xã hội chúng ta hôm nay.
Trên đây chỉ là một vài điểm được minh chứng để làm rõ thêm tư
tưởng của Hàn Phi về những điềm ông đã cảnh báo. Những điềm mất nước
đó không phải là nói rằng thế nào cũng mất nước, mà là có thể mất. Hai
Nghiêu không thể cùng làm cho nhau thành vương. Hai Kiệt không thể làm
13
cho nhau mất. Cái then chốt khiến cho nhà vua mất nước là ở chỗ nơi trị
nơi loạn, nơi mạnh nơi yếu khác xa nhau.
Cây gỗ bị gãy thế nào cũng có mọt ở trong. Cái tường bị đổ thế nào
cũng có lỗ hở ở trong. Thế nhưng cây gỗ tuy bị mọt nhưng không có gió
mạnh thì không gãy. Cái tường tuy có chỗ hở nhưng không có mưa to thì
không đổ. Bậc vua chúa có muôn cỗ xe, biết dùng thuật trị nước thi hành
pháp luật để làm mưa làm gió đối với những ông vua có điềm mất nước thì
việc thôn tính thiên hạ là không khó vậy.
Cũng ở Quyển V thiên XVI ông có nói ba điều phải giữ. Ba điều
này ông cảnh báo cho nhà cầm quyền phải giữ nếu không trọn vẹn thì ba
điều ức hiếp nảy sinh. Ba điều phải giữ đầy đủ thì ba điều ức hiếp bị ngừng
lại. Ba điều ức hiếp bị ngừng lại thì làm vương vậy.
Quyển V thiên XVII đề phòng bên trong có ý nêu bậc vua sáng
không làm những việc mà mình không kiểm tra được, không ăn thức ăn
khác thường, nghe và nhìn gần để xem xét những sai sót bên trong và bên
ngoài. Xét những lời giống nhau và khác nhau để phân biệt bè đảng. Xét
điều xiên điều không nên để biết được sự thực trong việc trình bày, nắm lấy
cái sau để cho ứng với cái trước. Dựa vào pháp luật để cai trị mọi người.
Tập hợp cái điều mới để xem xét. Không thưởng kẻ sĩ vì mình yêu. Không
thưởng vượt quá việc đã làm, giết thì phải cho đúng. Kẻ có tội thì không
tha. Như vậy thì bọn gian tà mới không có cách nào che giấu điều riêng tư
của họ được.
Sưu dịch nhiều thì khổ sở. Đâu khổ sở thì kẻ có quyền thế nổi lên.
Kẻ có quyền thế nổi lên thì việc sưu dịch càng nặng. Việc sưu dịch càng
nặng thì kẻ sĩ càng giàu sang, làm dân khổ sở mà những kẻ giàu sang nổi
lên, trao cái thế cho bọn bầy tôi, đó không phải là cái lợi lâu dài của thiên hạ.
Nước thắng được lửa, điều đó đã rõ, nhưng lấy cái nồi để ngăn
nước lại thì ở trên nước sôi, bốc hơi cho đến cạn, nhưng ở dưới lửa vẫn cứ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét