Về tính chất phức tạp của hoạt động cho vay nên khi nói đến tín dụng ngời ta
thờng đề cập đến cho vay mà ít khi đề cập đến mặt thứ hai đó là đi vay. trong
khuôn khổ của chuyên đề, sinh viên thực hiện chỉ đề cập đến một khía cạnh trong
tín dụng cho vay là cho vay trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là khoản cho vay có thời hạn phát sinh khi ngời vay
có nhu cầu sử dụng vốn trong một thời gian dài. Tín dụng trung dài hạn nhằm
thoả mãn nhu cầu mua sắm máy mọc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất của một
doang nghiệp. Đôi khi nó cũng đợc sử dụng nh một bộ phận của vốn lu động trong
doanh nghiệp.
Trên cơ sở khái niệm tín dụng trên đây, vậy thì một khoản nh thế nào đợc coi
là có hay không đạt đợc chất lợng tín dụng?.
Chất lợng tín dụng đợc hiểu theo đúng nghĩa là vố cho vay của Ngân hàng đ-
ợc khách hàng sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ để tạo ra một
số tiền lớn hơn vừa để hàon trả ngân hàng gốc và lãi trang trải chi phí và có lợi
nhuận. Nh vậy, qua một quá trình chu chuyển vốn T-H-T
nh trên, ngân hàng sẽ
thu hồi vốn gốc và có lãi còn khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả. Xét về tổng
thể Ngân hàng vừa tạo ra đợc hiệu quả kinh tế, vùa tạo ra đợc hiệu quả xã hội.
Trên cơ sở đó, khi cho vay, ngân hàng phải tính toán cân nhắc để vừa đảm
bảo không vi phạm luật vừa giải quyết đợc đầu ra. Để thực hiện đợc điều này các
Ngân hàng phải nghiên cứu kỹ về tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài
chính, mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Đây chính là các cơ sở chủ yếu cho
việc đảm bảo chất lợng tín dụng. Nh vậy chất lợng đợc hình thành và đảm bảo từ
hai phía: Ngân hàng và khách hàng.
Và nh thế, hoạt động tín dụng sẽ mang lại hiệu quả khi mà nó càng ngày
càng thực hiện đợc nhiều món vay có chất lợng cao, góp phần tích cực cho sự phát
triển không chỉ riêng cho bản thân ngân hàng mà là cả sự phát triển của nênf kinh
tế xã hội. Hiệu quả hoạt động tín dụng ngày càng cao thể hiện mức độ đóng góp
của hoạt động ngân hàng đối với xã hội ngày càng lớn. Điều đó cũng có nghĩa
Trang 5
hoạt động tín dụng hiệu quả khi nó đạt đợc sự tăng trởng quy mô và nằm trong
tầm quản lý của Ngân hàng để giữ ổn định chất lợng tín dụng. Trong cơ chế thị tr-
ờng hiệu quả hoạt động tín dụng là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển
của ngành ngân hàng mà trớc hết là các tổ chức tín dụng là nơi trực tiếp kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
1.1.2. Các loại hình tín dụng.
Tín dụng cho vay tồn tại dới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy nhiên,
căn cứ vào một số các tiêu thức mà ngời ta có thể phân loại các loại hình nh sau:
1.1.2.1. Phân loại theo mụch đích:
- Cho vay bất động sản là cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thơng mại và
dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thơng mại là cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lu
động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
- Cho vay nông nghiệp là cho vay để trang trải các kinh phí sản xuất nh bón
phân, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nh mua
sắm các vận dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn cho vay để trang trải các
khoản chi phí thông thờng của đơi sống thông dụng dới tên gọi là tín dụng tiêu
dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
- Thuê mua và các loại tín dụng khác.
1.1.2.2. Phân loại theo thời hạn.
Theo cách này tín dụng cho vay phân làm ba loại:
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dới 12 tháng và đợc dùng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn. Đối với ngân hàng thơng mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao
nhất.
Trang 6
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay trung hạn thờng là cố định. Trớc đây
theo thời hạn của ngân hàng nhà nớc thì thời hạn cho vay trung hạn là 1-3 năm.
Tuy nhiên cho đến nay, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu vay của các doanh nghiệp,
các ngân hàng thơng mại đã đa thời hạn cuối cùng của vay trung hạn lên 5 năm
giải quyết đợc hai vấn đề. Thứ nhất là đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp
bởi lẽ đối với một số tài sản nhất định thời hạn sử dụng của chúng tơng đối dài nên
cần phải có thời gian đủ lớn doanh nghiệp mới có thể hoàn trả gốc và lãi cho Ngân
hàng. Thứ hai là tránh tình trạng tiền cho vay của ngân hàng bị chuyển vào nợ quá
hạn chỉ vì thể chế và quy định gây ra, trong khi doanh nghiệp vẫn làm ăn có lãi và
có đầt đủ khả năng trả nợ. Còn đối với các nớc trên thế giới, loại cho vay này có
thời hạn lên tới 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu đợc sử dụng để mua sắm tài
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng kinh doanh xây
dựng các dự án mới có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất Trong
nông nghiệp, cho vay trung hạn chủ yếu để đầu t vào các đối tợng nh máy cày,
máy bơm nớc, xây dựng các vờn cây công nghiệp nh cà phê, điều
- Cho vay dài hạn là loại cho vay mà thời hạn của nó là dài hơn đối với cho
vay trung hạn. Loại tín dụng này đợc cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn nh xây
dựng nhà ở, các thiết bị, các phơng tiện vận tải có quy mô lớn xây dựng xí nghiệp
nhà máy mới, các dự án đầu t phát triển nh cơ sở hạ tầng.
1.1.2.3. Phân loại theo căn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của ngời thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối với khách
hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có
hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn thu nợ bổ
sung.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay đợc ngân hàng cung cấp với điều kiện
phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng
không có uy tín cao đối với ngân hàng, thì khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm.
Trang 7
Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung
cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trờng
hợp nguơì vay vốn không có khả năng trả nợ.
1.1.2.4. Phân loại theo phơng thức hoàn trả tiền vay:
Theo cách này thì khoản cho vay có thể đợc hoàn trả theo hai cách. Cách thứ
nhất là trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn. Hai là khoản tiền vay sẽ đợc trả
làm nhiều lần theo nhiều kỳ nợ.
1.1.2.5. Phân loại theo hình thức giá tự có.
Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng đợc
thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau.
Hai là cho vay bằng tài sản loại này đợc áp dụng phổ biến dới hình thức
tài trờ thuê mua.
1.1.3. Các đặc trng của tín dụng trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là một loại trong số các loại hình tín dụng và nó đợc
phân biệt với các loại hình tín dụng khác qua một số đặc trng cơ bản sau đây:
Thời hạn cho vay:
Điểm khác biệt cơ bản đầu tiên giữa tín dụng trung dài hạn và tín dụng ngắn
hạn là thời hạn cho vay. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận vay theo hai loại
sau:
- Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đợc xác định phù hợp với chu kỳ sản
xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nh không quá 12 tháng.
- Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay đợc xác định phù hợp với thời hạn thu
hồi vốn của dự án đầu t, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn
của ngân hàng cho vay. Trong đó:
* Thời hạn cho vay trung hạn là trên 12 tháng đến 36 tháng hoặc 60 tháng
tuỳ theo quy định của từng ngân hàng.
* Thời hạn cho vay dài hạn là trên 36 tháng hoặc 60 tháng.
Đối tợng cho vay:
Trang 8
Đối tợng cho vay trung dài hạn là toàn bộ các chi phí cấu thành trong tổng
mức vốn đầu t của các dự án xây dựng mới, mở rộng cải tạo, khôi phục, thay thế,
đổi mới kỹ thuật và ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, đối tợng cho vay trung dài hạn là các
công trình, hạng mục công trình hoặc dự án đầu t xây dựng mua sắm, sửa chữa tài
sản cố định, của các đơn vị kinh tế, cơ bản luận chứng kinh tế kỹ thuật tốt, xác
thực và bản tổng dự toán đã phê duyệt. Nh vậy ngân hàng cho vay nhằm trang trải
các chi phí về máy mọc thiết bị, công nghệ chuyển giao, sáng chế phát minh, chi
phí nhân công, giá thuê, chuyển nhợng đất đai, giá trị các hợp đồng thuê, mua tài
sản cố định trong khuôn khổ pháp luật, chi phí mua bảo hiểm tài sản cố định thuộc
dự án đầu t và các chi phí liên quan khác.
Nguyên tắc và điều kiện cho vay vốn.
Khách hàng muốn vay vốn ngân hàng phải đảm bảo đợc ba nguyên tắc tín
dụng cơ bản sau:
- Sử dụng vốn vay mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi vay
trung dài hạn ngời vay phải soạn thảo dự án, chơng trình sản xuất kinh doanh. các
dự án, chơng trình này phải thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng việc sử dụng vốn
theo các mục đích cụ thể. Để đảm bảo cho dự án đợc thực hiện cần có sự thông
qua cho phép của các cơ quan có thẩm quyền. Đối với các phơng án cải tiến kỹ
thuật, công nghệ , mở rộng sản xuất cần có sự kết hợp, thoả thuận chặt chẽ giữa
ngân hàng và các nhà quản lý doanh nghiệp để tránh việc sử dụng vốn sai mục
đích.
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay dúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng.
- Phải đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của chính phủ và ngân hàng nhà
nớc.
Trên cơ sở các nguyên tắc tín dụng cơ bản là mỗi ngân hàng sẽ đề ra các
điều kiện ràng buộc các quy định mang tính bắt buộc để có thể thực hiện vay vốn
Trang 9
ngân hàng. Các đối tợng cho vay thờng có thời hạn sử dụng lâu dài, thời hạn thu
hồi vốn lâu theo mức độ hao mòn thực tế của tài sản đầu t. Mức vốn đầu t thờng
rất lớn theo giá trị của đối tợng vay vốn và nh thế mức độ rủi ro sẽ cao. Theo quyết
định 367/QĐNH1 của Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam về Ban hàng thể
lệ tín dụng trung dài hạn ngày 21/12/1997 đã quy định các điều kiện cho vay nh
sau:
- Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi, có vốn
tham gia tối thiểu bằng 20% tổng dự toán công trình đầu t.
- Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của nhà nớc về
quản lý đầu t xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung và dài hnạ của ngân hàng.
- Doanh nghiệp vay vốn phải mua bảo hiểm tài sản hình thành bằng vốn vay
tại một công ty bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
- Đối với các công trình xây dựng mới phải có đầy đủ các điều kiện.
+ Phải có giấy phép xây dựng và giấy phép sử dụng đất do các cơ quan có
thẩm quyền cấp.
+ Phải có lệnh hoặc hợp đồng phân phối vật t máy móc thiết bị và nếu là
nhập khẩu trực tiếp của nớc ngoài thì phải có giấy phép nhập khẩu.
- Đối với các công trình dự án của các đơn vị kinh tế và đang hoạt động kinh
doanh ổn định, đang có lãi thực sự, có xu hớng phát triển tốt phù hợp với cơ chế
kinh tế mới. Phải có vốn tối thiểu 30% tổng dự án đầu t công trình.
Hiện nay theo quy định mới của chính phủ các đơn vị kinh tế nếu chứng
minh đợc là mình làm ăn có hiệu quả thì sẽ có khả năng vay vốn mà không phải có
tài sản thế chấp.
Quy trình cho vay:
Quy trình cho vay là tập hợp các thao tác, thủ tục mà cns bộ tín dụng phải
làm khi thực hiện xem xét một khoản vay đối với ngời xin vay, quy trình tín dụng
là các quy định của các cơ quan cấp trên quản lý ngân hàng ban hành, buộc ngân
Trang 10
hàng và cán bộ tín dụng phải tuân thủ. Quy trình tín dụng cho vay bao gồm các b-
ớc cơ bản sau đây:
Bớc 1: Hớng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ vay vốn.
Bớc 2: Điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin về khách hàng và phơng án
vay vốn.
Bớc 3: Phân tích thẩm định khách hàng và phơng án vay vốn. Bớc này chủ
yếu gồm:
- Thẩm định t cách pháp nhân, các giai đoạn phát triển.
- Thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp.
Bớc 4: Thẩm định dự án đầu t.
- Thẩm định sự cần thiết phải đầu t.
- Thẩm địng phơng diện kỹ thuật, tổ chức quản lý, tài chính.
Bớc 5: Quyết định cho vay.
Bớc 6: Kiểm soát vốn cho vay và thu nợ.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn
của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là mỗi quan hệ qua lại giữa ngân hàng và
các chủ thể còn lại của nền kinh tế. Mối quan hệ này đợc đặt trong môi trờng kinh
tế xã hội nhất định. Vì vậy hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung và cho
vay trung dài hạn nói riêng chịu ảnh hởng của rất nhiều nhân tố.
1.1.4.1. Nhân tố khách quan.
* Đạo đức ngời vay.
Đạo đức ngời vay đợc dánh giá trên hai khía cạnh là năng lực pháp lý và uy
tín của ngời đó trên lĩnh vực vay nợ.
Năng lực pháp lý là những năng lực đợc quy định cụ thể về mặt pháp lý mà
ngời vay cần phải có. Một khách hàng đợc xem xét cho vay khi có đủ năng lực
pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.
Trang 11
Uy tín trên lĩnh vực vay nợ đợc hiểu nh sự sẵn có và lòng quyết tâm trả nợ và
thực hiện các điêủ khoản trong hợp đồng tín dụng. Uy tín đợc biểu hiện quan trọng
nhất trong tín dụng là tính thật thà, liêm chính của một con ngời và khi thực hiện
việc cho vay đối với các hãng kinh doanh hoặc cá nhân. Tuy nhiên việc đáng giá
uy tín ngời vay chủ yếu dựa trên phán đoán trình độ và kinh nghiệm của cán bộ tín
dụng bởi vì đây là điều rất khó lợng hoá.
* Khả năng trả nợ của ngời vay.
đây là nhân tố có ảnh hởng rất quan trọng đến hoạt động tín dụng của ngân
hàng. đối với ngân hàng điều quan trọng của việc thu hồi gốc và lãi phải từ lợi
nhuận thu đợc từ kết quả thu đợc từ kết quả hoạt động kinh doanh chứ không phải
là việc phát mại tài sản đảm bảo. Điều này đợc nhấn mạnh hơn bao giờ hết đối với
các món vay trung và dài hạn, rủi ro cao hơn. Khi ngân hàng cho vay trung dài
hạn, ngân hàng không chỉ là ngời cho vay mà còn là ngời bạn kề sát cánh ngay cả
tình huống khó khăn nhất. Chính vì vậy khi xem xét đánh giá khách hàng, Ngân
hàng phải đặc biệt quan tâm đến yếu tố khả năng, năng lực của khách hàng. Thành
công hay thất bại của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào khả năng quản lý của nhà
doanh nghiệp. Do vậy Ngân hàng phải tin chắc rằng doanh nghiệp đợc quản lý tốt
trớc khi chấp nhận một khoản vay. Các điều kiện kinh tế sự cạnh tranh và các yếu
tố kỹ thuật có thể thay đổi sau khi thực hiện cho vay trung dài hạn dứt khoát dẫn
tới những thay đỏi trong hoạt động của ngời vay. Việc quyết định xem xét những
thay đổi đó là gì và cách nào để thực hiện chúng có hiệu quả là chức năng của
ngời quản lý. Những nhà quản lý. Những nhà quản lý có thể thích ứng với một
môi trờng thay đổi, chấp nhận các t tởng và tiếp tục hoạt động mới. Khi đánh giá
một đơn vị vay trung dài hạn các Ngân hàng nhấn mạnh nhiều đến các điều kiện
trong ngành nghề sản xuất, vị thế cạnh tranh và tính ổn định của ngời vay. Các
doanh nghiệp có nhiều thay đổi bất thờng trong cho kỳ kinh doanh hoặc hoạt động
khi lên xuống không phải là khách hàng có nhiều triển vọng.
Trang 12
Bên cạnh việc xem xét đánh giá khả năng quản lý điều hành của ban lãnh
đạo, về môi trờng và điều kiện kinh doanh thì việc đánh giá dự án vay vốn là hết
sức quan trọng đặc biệt đối với cho vay trung dài hạn, Dự án có tính khả thi, có thể
đem lại lợi nhuận cho chủ đầu t, sẽ là nguồn trả nợ gốc và lãi Ngân hàng hết sức
dảm bảo. Để có thể xác định đợc điều này đòi hỏi công tác thẩm định dự án đầu t
cần phải đợc thực hiện một cách đầy đủ, hết sứa quan trọng và chính xác. Bởi vì
điểm này sẽ góp phần quan trọng trong việc quyết định chất lợng món vay từ đó
ảnh hởng ddến chất lợng tín dụng.
Chính vì vậy các khoản cho vay kém chất lợng, các khoản nợ quá hạn, nợ
khó đòi và các tổn thất mặc dù là kết quả của nhiều nguyên nhân nhng về cơ bản
là kết quả cuả sự không sẵn lòng chi trả của ngời vay hay không có năng lực thực
hiện lợi tức để giảm bớt d nợ hoặc trả toàn bộ nợ theo thoả thuận.
* Tài khoản đảm bảo:
Mặc dù hoàn trả tín dụng không phải là mục đích kinh doanh của Ngân hàng
nhng nó là cơ sở quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu kinh doanh. Để đảm bảo
đợc thu hồi nợ, Ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng đến uy tín và năng
lực của khách hàng, từ đó áp dụng các phơng pháp cho vay thích hợp. nếu khách
hàng đợc đánh giá tốt các hợp đồng kinh doanh trong quá khứ và có triển vọng
trong tơng lai thì ngân hàng có thể cho vay không cần đảm bảo. Ngợc lại nếu
khách hàng không đạt đợc các tiêu chuẩn đó thì để hạn chế rủi ro, ngân hàng
buộc phải cho vay có bảo đảm.
Bảo đảm tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý để có thêm một nguồn thu
nợ thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất. trong kinh doanh cho vay, nguồn thu nợ
thứ nhất là doanh thu đối với cho vay trung dài hạn để hình thành tài sản cố định.
trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là khoản thu nhập
cá nhân từ tiền luơng, các khoản thu nhập tài chính nh lãi cho vay, lãi chứng
khoán và các khoản thu nhập khác.
Trang 13
Đảm bảo tín dụng đợc coi là tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay, nh thấy rằng
đâty không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất. tuy nhiên trên tực tế hiện nay ở
Việt Nam các Ngân hàng xếp đảm bảo vào vị trí số một và thậm chí có nhiều tr-
oừng hợp đợc coi là tiêu chuẩn duy nhất. Chính t duy này đã dẫn đến xuất hiện
hàng loạt rủi ro trong cho vay của Ngân hàng. Mặc dù bảo đảm không phải là tiêu
chuẩn mang tính nguyên tắc nhng không phải vì thế mà đặt thấp vị trí của nó.
trong nền kinh tế thị trờng, các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và
phức tạp vì thế mọi dự toán rủi ro của Ngân hàng đều mang tính tơng đối. trong
môi trờng kinh doanh nh vậy, đảm bảo là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế
của nhà quản trị tín dụng cũng nh phòng ngừa những diến biến không thuận lợi
cho môi trờng kinh doanh.
Trên thực tế Ngân hàng thờng cấp tín dụng không bảo đảm cho những khách
hàng tốt đã đợc kiểm chứng qua một thời gian dài, các khách hàng còn lại cần phải
có đảm bảo khi quyết định cấp tín dụng.
trong hoạt động tín dụng trung dài hạn, Ngân hàng có thể dùng tài sản cố
định của công trình, dự án xin vay làm vật thế chấp. tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng
đối với cho vay trung dài hạn tài sản đảm bảo càng không phải là điều kiện số một
trong cho vay mà là khả năng sinh lợi của dự án.
1.1.4.2. Nhân tố chủ quan.
Các yếu tố thuộc về khả năng thực lực cửa Ngân hàng đợc coi là yếu tố quan
trọng nhất quyết định tới sự thành công hay thất bại của Ngân hàng đó. Một Ngân
hàng có sức mạnh , có thực lực riêng của mình sẽ tìm đợc cho mình một con đờng
đi đúng đắn, biện pháp thực hiện phù hợp có hiệu quả và nh thế nó vấn có thể
hoạt động tốt ngay cả trong điều kiện môi trờng kinh tế không ổn định và lựa chọn
những khách hàng làm ăn có hiệu quả.
Ta có thể đánh giá sức mạnh của một Ngân hàng qua các yếu tố sau:
Yếu tố vốn.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét