quyết định đến kết quả nuôi quảng canh, từ việc cung cấp con giống cho đầm nuôi
đến cung cấp thức ăn có sẵn trong đầm cho con giống sinh trởng và phát triển.
Nuôi quảng canh thô sơ là hình thức cần hạn chế trong tơng lai. Nó thờng
mang lại giá trị kinh tế thấp và ảnh hởng tiêu cực đến môi trờng. Chỉ sau vài vụ
nuôi môi trờng đất, nớc bị thoái hoá nhanh sẽ làm giảm năng suất nuôi và tác động
đến các tài nguyên đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nớc ven biển, sông. Đặc biệt
là việc nuôi quảng canh thô sơ trong các rừng ngập mặm đã dẫn đến chặt phá rừng
ngập mặn để làm thoáng mặt đầm.
b. Nuôi quảng canh cải tiến.
Nuôi quảng canh cải tiến là hình thức nuôi mà ngời nuôi đã cải tiến phơng
pháp nuôi từ hình thức nuôi quảng canh thô sơ bằng cách thu hẹp diện tích, sửa
chữa quy cách cống, làm bờ đầm chắc, mua thêm con giống để thả và bổ xung
thức ăn cho con giống nuôi.
Diện tích ao nhỏ từ 0,2- 2 ha, diệt hết các loài có hại cho con giống nuôi.
Mật độ nuôi thấp. Có chế độ chăm sóc quản lý, cho ăn thức bổ sung và phân bón.
c. Nuôi bán thâm canh.
Nuôi bán thâm canh là hình thức nuôi trồng thuỷ sản đợc tiến hành trên một
diện tích nhỏ. Mật độ nuôi cao và sử dụng thức ăn hỗn hợp. Quy trình nuôi có áp
dụng khoa học kỹ thuật.
Hình thức nuôi thâm canh phù hợp với điều kiện kinh tế còn đang phát triển
và trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật cha cao. Hình thức này cần đợc mở rộng
để xoá bỏ phơng pháp nuôi quảng canh và tạo ra tiềm lực về kinh tế cho đầu t vào
phơng pháp nuôi tiên tiến hơn.
d. Nuôi thâm canh.
Nuôi thâm canh là hình thức phát triển lên cao của hình thức bán thâm
canh. Thuỷ sản đợc nuôi với mật độ cao trong các hệ thống khép kín, phần lớn
trong các bể hoặc trong các ao nuôi nhân tạo, lồng và các hầm có các dòng nớc lu
thông để cung cấp dỡng khí và chuyển tải thức ăn. Các loài thuỷ sản đợc nuôi ở
các khu vực khác nhau tuỳ theo tuổi của chúng. Các hệ thống này thờng dùng thức
ăn công nghiệp và điều khiển môi trờng theo yêu cầu nghiêm ngặt.
e. Nuôi công nghiệp.
Nuôi công nghiệp là phơng pháp nuôi hiện đại, sử dụng một tạp hợp các
máy móc và thiết bị để tạo ra cho các đối tợng nuôi có một môi trờng sinh thái và
các điều kiện sống khác tối u.
Nuôi công nghiệp có diện tích mặt nớc nhỏ, thờng nuôi trong các bể nhân
tạo, mật độ thả cao, chu kỳ nuôi ngắn, việc sinh trởng và phát triển của thuỷ sản
không bị hạn chế bởi thời tiết và mùa vụ.
2.2. Các hình thức nuôi trồng thuỷ sản.
a. Nuôi nớc mặn.
Hình thức này đợc tiến hành nuôi trong các lồng bè và nuôi ở trong đăng
quầng trong các đầm phá, vịnh, các vùng có biển có dòng chảy không quá mạnh
hoặc quá yếu. Các đối tợng nuôi nh : tôm hùm, cá song, cá hồng, cá cam.
b. Nuôi nớc lợ.
Nuôi nớc lợ là hình thức nuôi thuỷ sản trong các ao, đầm trong mô hình
khép kín, nuôi trong ruộng ( vụ tôm + vụ lúa ) và nuôi trong rừng ngập mặn. Đối
tợng nuôi chủ yếu là tôm sú, tôm he, tôm bạc thẻ, tôm nơng, tôm rảo.
Hình thức nuôi này hiện nay chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh, nuôi bán
thâm canh và thâm canh ít.
c. Nuôi nhuyễn thể.
Đối tợng chính là ngao, nghêu, sò huyết, trai cấy ngọc. Hình thức nuôi
nhuyễn thể chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến tiến tới nuôi thâm canh ở vùng cửa
sông bãi ngang và nuôi bằng lồng ở eo vịnh biển.
d. Nuôi cua biển.
Hình thức nuôi gồm nhiều dạng: nuôi cua thịt, nuôi cua vỗ béo và nuôi cua
lột. Cua thờng đợc nuôi thả theo phơng thức nuôi quảng canh tự nhiên, nuôi xen
với ghép với tôm trong vụ phụ ở các ao nuôi tôm quảng canh tự nhiên.
e. Nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ nớc ngọt.
Là hình thức nuôi mà ngời dân củng cố hệ thống ao đầm bằng cách kiên cố
hoá bờ ao và củng cố hệ thống xử lý nớc. Việc nuôi trồng thuỷ sản ở các ao hồ
nhỏ thờng phát triển mạnh ở các trang trại qui mô gia đình theo mô hình VAC ( v-
ờn- ao chuồng ) hoặc mô hình VACR ( vờn- ao- chuồng- rừng).
Đối tợng nuôi chủ yếu là :cá mè, cá trắm, cá chép, lơn, ếch Hình thức
nuôi là bán thâm canh và thâm canh.
f. Nuôi thuỷ sản ruộng trũng.
Sự phát triển ổn định về công nghiệp cùng với xu hớng phát triển của nông
nghiệp sạch với sự quản lý theo hệ thống IPM đang đợc phổ biến rộng rãi là những
thuận lợi để có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản rộng rãi trên các khu ruộng
trũng.
Các hệ thống canh tác ruộng trũng là:
- Nuôi thuỷ sản nớc ngọt kết hợp với trồng lúa: một phần diện tích của ruộng
lúa sẽ đợc sử dụng nh chỗ chú ẩn của các đàn cá, tôm. Đối tợng nuôi chính là cá
rô phi, trôi, chép, cá quả, cá sặc, tôm càng xanh.
- Nuôi thuỷ sản một vụ, cấy lúa một vụ: đợc dành cho những khu ruộng trũng
có một mùa ngập nớc sâu, còn một mùa có thể tháo ra. Hệ thống nuôi cá này th-
ờng là bán thâm canh vì bên cạnh nguồn thức ăn tự nhiên, ngời nông dân thờng sử
dụng thức ăn bổ sung cho các đàn cá.
- Cải tạo các vùng trũng thành các vùng chuyên thả cá kết hợp với việc trồng
cây ăn quả trên bờ: mô hình này càng ngày sẽ càng đợc phát triển do lợi thế của
nuôi trồng thuỷ sản so với trồng lúa bấp bênh trên một diện tích canh tác.
g. Nuôi thuỷ sản các mặt nớc lớn.
Mặt nớc lớn bao gồm các hồ tự nhiên, hồ thuỷ lợi, hồ thuỷ điện và các mặt
sông. Hồ chứa và mặt nớc lớn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nuôi
trồng thuỷ sản ở các vùng trung đợc và miền núi.
Hình thức nuôi các hồ chứa và sông ngòi thờng đợc sử dụng:
-Thả cá vào các hồ chứa để gia tăng năng suất tự nhiên của các hồ chứa
nhằm tạo ra lợng cá trong sông và trong hồ tăng khả năng khai thác tự nhiên của
các cộng đồng ng dân sống dựa vào các mặt nớc lớn và tăng nguồn tái tạo nguồn
lợi thuỷ sản cho các dòng sông hồ chứa, các vùng đồng bằng ngập nớc.
- Nuôi cá lồng bè trên các mát nớc lớn: đây là hình thức trang trại đợc giao
một diện tích nhất định ở trong các mặt nớc lớn để tổ chức nuôi lồng bè. Đối tợng
nuôi là các loại cá có giá trị kinh tế cao ( cá basa, cá bống tợng, cá rô phi, cá quả )
và các loại cá dễ nuôi cho năng suất cao (cá trắm cỏ, cá chép ).
- Nuôi cá trong các eo ngách của các hồ chứa: đây là hình thức nuôi theo
kiểu trang trại. Một số các eo ngách trong các hồ chứa đợc chắn lại bằng các bờ t-
ờng lới tạo thành các khu nuôi bán thâm canh có diện tích rộng lớn đem lại hiệu
quả kinh tế khá cao cho ngời nuôi.
3. Vai trò của nuôi trồng thuỷ sản đối với phát triển kinh tế xã hội.
Nuôi trồng thuỷ sản là một hoạt động kinh tế do đó sự phát triển của lĩnh
vực này sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Ta có thể
thấy đợc sự đóng góp của lĩnh vực này với nền kinh tế qua các vai trò của nó với
phát triển kinh tế xã hội nh sau:
Thứ nhất, cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa.
Những năm tới xu thế đời sống nhân dân ngày một khá lên, mức tiêu dùng
thực phẩm sẽ tăng. Do vậy cá và sản phẩm gốc là thuỷ sản làm thực phẩm chiếm
phần quan trọng. Trong đó cá nuôi cung cấp tại chỗ, ít chi phí vận chuyển bảo
đảm đợc tơi sống càng có vai trò quan trọng hơn. Nhiều nớc đang phát triển đã đẩy
mạnh việc nuôi cá và coi đó nh là một chính sách quốc gia để giải quyết nhu cầu
đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân.
Thứ hai, cung cấp nguyên liệu cho chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
Nuôi trồng thuỷ sản là hớng đi tất yếu để cung cấp nguyên liệu cho chế biến
thuỷ sản khi nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên trái đất bị hạn chế. Nguyên liệu cho
chế biến thuỷ sản đợc đáp ứng từ hai nguồn chính là khai thác và nuôi trồng thuỷ
sản. Nguồn lợi tự nhiên về hải sản trong các đại dơng thế giới không phải là vô tận
và luôn có chiều hớng suy giảm do nhiều tác động nh đánh bắt quá mức, ô nhiễm
môi trờng, ngăn chặn các dòng sông làm thuỷ lợi, thuỷ điện và thuỷ lợi hoá ruộng
đất để phát triển nông nghiệp. Hơn nữa việc khai thác biển và các đại dơng thế
giới hiện nay đã đợc báo động đạt đến mức giới hạn ( khả năng khai thác đại dơng
thế giới vào khoảng 150 triệu tấn đã khai thác khoảng 120 triệu tấn). Càng ngày
việc khai thác tự nhiên càng phải đối mặt với các khó khăn thực tế trong công
nghệ và giá thành khai thác. Chính vì thế nuôi trồng thuỷ sản càng có vai trò quan
trọng cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu trong thời gian tới.
Thứ ba, giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Nuôi trồng thuỷ sản là một cơ hội làm giàu, là lĩnh vực có thể tạo thêm
nhiều công ăn việc làm ở nông thôn.
Nuôi trồng thuỷ sản đã thu hút một số lợng lớn ngời lao động vào hoạt động
sản xuất. Mức giải quyết việc làm hàng năm của lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản góp
phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự trị an. Do đó nó có tác động tích
cực đến việc đạt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Đặc biệt, lợng lao
động mà nuôi trồng thuỷ sản thu hút phần lớn đều ở nông thôn, ven biển có mức
sống thấp và cơ hội tìm việc thấp. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản còn là giải pháp
để làm giảm sức ép di dân về thành phố.
Thu nhập từ nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt
của ngời lao động nghèo từ đó nâng cao trình độ văn hoá xã hội của họ. Điều đó
có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, thực hiện
sự phát triển toàn diện và công bằng xã hội. Chính vì thế phát triển nuôi trồng thuỷ
sản là một trong những hoạt động chiến lợc để phát triển nông thôn, miền núi, ven
biển làm giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng kinh tế và
làm giảm xung đột chính trị trong xã hội
Thứ t, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Góp phần tăng trởng kinh tế.
Là một bộ phận trong cơ cấu ngành thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản ngày càng
phát triển mạnh theo hớng sản xuất hàng hoá, gắn với chế biến tiêu thụ, tăng
nhanh tỷ trọng trong cơ cấu sản xuất của ngành thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tích cực, đúng hớng, tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Nuôi trồng thuỷ sản cũng là một
trong những lĩnh vực giúp hội nhập vào thế giới, mở rộng thị trờng. Qua đó nuôi
trồng thuỷ sản thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Thứ năm, mở ra lĩnh vực mới cho các hoạt động khoa học.
Một trong những vai trò quan trọng tiềm tàng cuả nuôi trồng thuỷ sản là nó
mở ra một lĩnh vực mới cho các hoạt động khoa học. Phải nói rằng công nghệ sinh
học trong nuôi trồng thuỷ sản cha theo kịp đợc những tiến bộ mà nền công nghiệp
hiện đại đã tạo dựng đợc. Do vậy cần nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học
trong nuôi trồng thuỷ sản sẽ có ý nghĩa rất lớn, nhất là các lĩnh vực chọn giống,
chọn gen, cải tạo gen, công nghệ thực phẩm và xử lý nớc.
II. Một số yếu tố thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ
sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
1. Tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
a. Vị trí địa lý.
Vị trí địa lý là một tiềm năng vật chất và lợi thế quan trọng để phát triển
kinh tế nói chung và một ngành sản xuất nói riêng.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có vị trí vào khoảng 80
0
40-11
o
0 vĩ độ Bắc và
104
0
8- 106
0
50 độ kinh Đông. Phía bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây
bắc giáp Căm- pu-chia, phía tây nam giáp biển Tây ( thuộc vịnh Thái Lan), phía
đông và phía nam giáp biển Đông. Đồng Bằng Sông Cửu Long có độc quyền kinh
tế rộng lớn, gần 360.000 km
2
chiếm 37,1% tổng diện tích đặc quyền kinh tế của
cả nớc. Là một vùng có trên 750 km bờ biển và chiếm khoảng 23,4% tổng chiều
dài bờ biển toàn quốc.
Đồng Bằng Sông Cửu Long nằm trong vùng phát triển kinh tế tơng đối
năng động. Mặc dù số đô thị trong vùng cha phát triển nhng dân c ở vùng này có
truyền thống và thói quen tiêu dùng vào việc ăn uống cao hơn nhiều so với các khu
vực miền Bắc và miền Trung. Điều đó tạo điều kiện thuận và mở ra một thị trờng
lớn cho các sản phẩm thuỷ sản. Cùng với một hệ thống đô thị đang hình thành, sự
phát triển mạng lới giao thông đã tạo ra cho các tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long tiếp cận đợc với một trung tâm đô thị lớn nhất Việt Nam là Thành Phố Hồ
Chí Minh với gần 5 triệu dân, tập trung sự phát triển công nghiệp và thơng mại và
là nơi hội tụ của các du khách, các nhà đầu t, làm cho nhu cầu thực phẩm từ thuỷ
sản rất lớn. Nền công nghiệp chế biến, đặt biệt là chế biến thuỷ sản ở Nam Bộ phát
triển nhất, dân chúng lại a dùng thực phẩm chế biến, điều kiện giao thông thuỷ bộ
cũng thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá thuỷ sản của cả vùng .
b. Địa hình.
Địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc lu trữ, lan toả, thâm nhập của
các nguồn tài nguyên nớc, là yếu tố quan trọng đối với nuôi trồng thỷ sản. Địa
hình Đồng Bằng Sông Cửu Long là một lợi thế thuận lợi đối với sự phát triển nuôi
trồng thuỷ sản của cả vùng.
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm 12 tỉnh, trong đó có 8 tỉnh ven biển
(Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên
Giang ) và 4 tỉnh nội đồng ( Cần Thơ, Đồng Tháp , Vĩnh Long, An Giang). Toàn
vùng đồng bằng có địa hình tơng đối bằng phẳng, có địa hình lòng chảo, cao dần
ra phía bờ biển (cao nhất xấp xỉ 1,81 m ở các vùng giồng cát cửa sông), còn đa số
địa hình thấp (khoảng 0,2- 0,4 m ). Vì vậy ảnh hởng của thuỷ triều có thể vào rất
sâu, thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nớc lợ. Hai bờ Tây và Đông
(Biển Đông và vịnh Thái Lan ) cao và thoải dần vào phía trung tâm. Với sự chênh
lệch thuỷ triều giữa biển Đông và biển Tây rất lớn càng làm cho việc đa mặn vào
sâu rất thuận lợi, tạo lên một vùng nớc lợ rộng lớn trong đất liền. Đây là lợi thế
cho phát triển nuôi tôm nói riêng và nuôi hải sản nói chung, hiếm thấy trên thế
giới.
c. Đất đai và thổ nhỡng.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích dất tự nhiên 3,97 triệu ha, trong đó
diện tích đất nông nghiệp chiếm 2,912 triệu ha, đất lâm nghiệp 308600 ha, đất cha
sử dụng 436000 ha ( Đất Việt Nam Hội khoa học đất Việt Nam, nhà xuất bản
Nông nghiệp, năm 2000 ).
Khu địa lý thổ nhỡng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 8 loại đất khác
nhau, trong đó có năm nhóm đất chính: đất phèn, đất mặn, đất phù xa, đất xám và
đất cát. Trong đó chủ yếu là các nhóm đất phèn, đất phù xa, đất mặn và chúng
chiếm một tỷ lệ diện tích lớn (Bảng 01).
Bảng 01: Thành phần các loại đất vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu
Long .
TT Loại đất % Diện tích (ha)
1 Đất cát 2,60 41.926,97
2 đất mặn 46,15 744.203,71
3 Đất phèn 39,42 635.677,36
4 đất phù xa 1,91 30.781,00
5 Đất than bùn 1,32 21.286,00
6 Đất xám 0,15 2.534,00
7 Đất xói mòn 0,14 2.290,00
8 Đất khác 8,31 134.005,00
Tổng cộng 100,00 1.612.575,76
Nguồn: Phân viện khảo sát và Qui hoạch thuỷ sản Nam Bộ, 1998.
Trong tổng số hơn 1,6 triệu ha đất vùng cửa sông ven biển của vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long, có tới 85% diện tích là đất phèn và đất mặn đều có nguồn
gốc từ trầm tích sông biển, rất giàu mùn bã hữu cơ do có xác thực vật ngập mặn.
Đó là tiền đề quan trọng cho xích thức ăn phế liệu mà trong đó có nhiều loài
không xơng sống ( nh tôm ) sử dụng làm thức ăn. Đây là cơ sở thuận lợi cho
nuôi trồng thuỷ sản, nhất là hình thức nuôi bán thâm canh rất đang phổ biến ở các
tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long.
d. Khí hậu.
Đối với nuôi trồng thuỷ sản thì khí hậu đóng vai trò rất quan trọng. Nó
quyết định thời gian nuôi, thành phần loài, tốc độ sinh trởng, khả năng dịch bệnh
và hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi. Do đó, với u thế tuyệt đối của vùng nhiệt
đới, Đồng Bằng Sông Cửu Long đợc lợi thế về khí hậu cho nuôi trồng thuỷ sản so
với toàn quốc, kể cả trong vùng và thế giới.
Chế độ nhiệt: Do năng lợng bức xạ dồi dào và ảnh hởng thờng xuyên của
khối không khí biển xích đạo, Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và giải ven
biển nói riêng có nền nhiệt độ cao, khá đồng nhất. Nhiệt độ trung bình vào khoảng
27- 28
0
C. Đó là điều kiện thuận lợi cho các sinh vật, thuỷ vật phát triển quanh
năm.
Chế độ bức xạ: nguồn năng lợng bức xạ trong vùng rất phong phú, trung
bình hàng năm giao động từ 110- 170 Kcal/ cm
2
. Số giờ chiếu sáng cao và tơng đối
đồng đều trong năm, là tiền đề thuận lợi cho các quá trình quang hợp, tổng hợp
chất hữu cơ của thực vật. Đây chính là cơ sở thức ăn quan trọng cho nhiều loài
sinh vật khác nhau, trong đó có các loài thuỷ vật đặc biệt là các loài thuỷ vật có
giá trị kinh tế cao nh tôm sú, cua biển Do vậy, chế độ bức xạ của vùng có tác
động thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản.
Chế độ gió: Đồng Bằng Sông Cửu Long có chế độ gió mùa tơng đối đồng
nhất. Năng lợng và sức tàn phá của gió trong vùng yếu hơn rất nhiều so với miền
Bắc và miền Trung. Các hiện tợng thời tiết khác nh bão, áp thấp nhiệt đới ít xảy ra
hơn so với các vùng Duyên Hải miền Trung và Đồng Bằng Bắc Bộ. Đây là điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và nuôi trồng thuỷ sản nói riêng.
Chế độ ma: nhìn chung, toàn vùng phân hai mùa rõ rệt, mùa ma từ tháng 5
đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
Trong mùa ma, nớc trên đồng ruộng và trong các kênh rạch đều đợc ngọt
hoá là điều kiện thuận lợi cho việc thau rửa nớc mặn trong cánh đồng và nhanh
chóng có thể tạo ra vùng trồng lúa rộng lớn ở các vùng đợc bố trí nuôi tôm vào
mùa khô. Đây là một đặc điểm sinh thái rất có lợi cho việc bố trí nuôi sinh thái
xen canh một vụ tôm một vụ lúa vừa đảm bảo tính bền vững, giảm nguy cơ dịch
bệnh và vừa đảm bảo an ninh lơng thực.
Nhìn chung khí hậu vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thuận lợi cho phát
triển nuôi trồng thuỷ sản và đa dạng hoá các loài thuỷ sản mà rất ít vùng có đợc,
kể cả trên phạm vi thế giới.
e. Chế độ hải văn.
Độ mặn: Độ mặn tại vùng cửa sông ven biển của vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long đạt gía trị thấp nhất vào khoảng tháng 10 là 28,7
0
/
00
ở tầng mặt và 33,4
0
/
00
ở tầng đáy, đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 là 34,4
0
/
00
ở tầng mặt và 34,6
0
/
00
ở
tầng đáy. Trong ngày, độ măn giao động với biên độ 2,4
0
/
00
ở tầng mặt và 1
0
/
00
ở
tầng đáy. Với độ mặn nh trên, rất thuận lợi cho phát triển nuôi các loài thuỷ sản
mặn lợ.
Sóng biển: Sóng biển là yếu tố ảnh hởng quyết định đến phát triển nuôi
biển. Sóng thềm lục địa biển Đông thờng là sóng hỗn hợp gió lừng, độ cao và
trung bình năm là 1,6m và 5,5 giây tơng ứng. Sóng ven bờ biển Đông có xu hớng
chủ đạo nằm trong cung từ Đông- Đông Bắc đến hớng Đông- Đông Nam. Do đó,
sóng biển có ảnh hởng tốt cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng này.
Dòng chảy: Hải lu là yếu tố quyết định đến việc chọn vị trí nuôi biển. Chế
độ hải lu trên biển ven bờ Đồng Bằng Sông Cửu Long là kết quả tổng hợp của các
tơng tác gió, sự lan truyền triều, tính chất của dòng lục địa, độ dốc của nền đáy và
cấu tạo của đờng bờ Trong các ngày có gió mùa đông bắc, dòng chảy có h ớng
tây và tây nam, vận tốc lớn nhất khi triều lên. Ngợc lại, vào thời kỳ gió mùa tây
nam, dòng chảy có hớng đông bắc, vận tốc lớn nhất khi triều xuống. Với đặc trng
của chế độ hải lu này, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long có thể chọn các vị trí
nuôi biển thích hợp.
1.2. Tiềm năng mặt nớc và tài nguyên sinh vật.
a. Tiềm năng mặt nớc.
Thứ nhất, tiềm năng nớc mặn: Nớc mặn từ biển Đông vào Đồng Bằng Sông
Cửu Long qua các sông chính nh Vàm Cỏ Đông ,Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền và Sông
Hậu. Phạm vi ảnh hởng của nớc mặn là giải đất ven biển thuộc các tỉnh Long An,
Tiền Giang, Bến Tre,Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
Phía biển Tây, nớc mặn ảnh hởng đến các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau thông
qua rạch Giang Thành, kênh Vàm Rẫy, Rạch Giá, Rạch Sỏi và sông Cái Lớn,
sông Cửa Lớn, sông Ông Đốc
Hiện nay, sự xâm nhập mặn vào các dòng sông đang có xu hớng tăng lên.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: từ năm 1986 trở về trớc, mức độ xâm nhập mặn ở
các vùng tứ giác Long Xuyên không sâu quá 5 km vào đất liền. Nhng vào mùa khô
năm 1998, nớc mặn xâm nhập vào vùng tứ giác Long Xuyên đạt đợc 10-12 km.
Quá trình nóng lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính dẫn đến hàng loạt những biến
đổi môi trờng toàn cầu, trong đó có vấn đề nâng cao mực nớc biển và tạo điều kiện
xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền. Theo nghiên cứu của Tổng cục Khí tợng
thuỷ văn theo dõi sự biển động mực nớc biển nhiều năm ở nớc ta sơ bộ đánh giá
là: ở Việt Nam trung bình nớc biển dâng cao 2 mm/ năm và có khả năng nớc biển
trong vòng 50- 70 năm sau sẽ cao hơn từ 50- 60 cm.Thực tế các 3 ngày đầu tháng
3 năm 1999 nhiều tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bị xâm nhập mặn rất lớn.
Theo số liệu của chi cục thống kê Thuỷ lợi Tiền Giang (từ năm 1939 đến năm
1997) cho biết độ mặn cao nhất đo đợc vào các năm là 8 g/l, riêng năm 1998 độ
mặn lên tới 10,44g/l. Điều đó tạo điều kiện tốt cho phát triển nuôi trồng các loài
thuỷ sản mặn, lợ.
Thứ hai, tiềm năng nớc ngọt và ngọt- lợ: Đồng Bằng Sông Cửu Long đợc tới
nhuần bởi sông Cửu Long, hàng năm tải ra biển qua 9 cửa sông một lợng nớc ngọt
khổng lỗ xấp xỉ 500 tỷ m
3
, với lợng bùn cát trên 100 triệu tấn, các chất khoáng
khoảng75 triệu tấn. Sông Mê Kông có mùa lũ (từ tháng 8 đến tháng 11), nớc sông
lên từ từ (mùa nớc nổi). Nớc lũ tràn ngập 1/3 Đồng Bằng. Bên cạnh những tác hại
do nó mang lại, nó cũng mang lại những lợi ích là mang về nhiều tôm cá tự nhiên.
Do đó tạo điều kiện cho cá, tôm sinh sản ở khắp nơi, lắng đọng phù xa làm phì
nhiêu đất đai và rửa trôi những chất độc hại tồn đọng trong môi trờng tạo tiền đề
tốt cho nuôi trồng thuỷ sản.
Từ tiềm năng mặt nớc đã đề cập ở trên cho thấy khả năng về diện tích mặt
nớc nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nh sau:
.Tiềm năng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn lợ: Vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long có 8 tỉnh có vùng đất rộng lớn để nuôi trồng thuỷ sản
nớc mặn lợ là: Long An , Tiền Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc
Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau.
Trên toàn quốc có khoảng 1 triệu ha diện tích có tiềm năng nuôi trồng thuỷ
sản vùng triều, chiếm 7,37 % tổng diện tích tự nhiên. Trong khi đó tổng diện tích
có khả năng nuôi trồng thuỷ sản vùng triều vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là
804.740 ha chiếm 28,21 % tổng diện tích đất tự nhiên của 8 tỉnh ven biển Đồng
Bằng Sông Cửu Long (2.852.429 ha) và chiếm 80,47% tổng diện tích có khả năng
nuôi trồng thuỷ sản vùng triều trên toàn quốc (Bảng 02).
Bảng 02: Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn, lợ vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long đến năm 2002.
Đơn vị : Diện tích (ha)
TT Tỉnh Tổng diện tự
nhiên
Vùng triều Vùng biển
ven bờ
Tiềm năng Khả năng nuôi
trồng
1 Long An 444.866 15.650 10.000 6.390
2 Tiền Giang 232.609 18.860 7.150 8.882
3 Kiên Giang 624.560 86.650 64.000 12.500
4 Trà Vinh 235.351 21.560 40.000 10.455
5 Bến Tre 230.000 65.870 65.000 32.262
6 Bạc Liêu 241.813 187.500 187.500 88.445
7 Sóc Trăng 322.230 88.650 60.000 41.200
8 Cà Mau 521.000 320.000 320.000 244.040
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét