5
tín dụng đối với các DNNQD, học viên mạnh dạn chọn đề tài “ Phát triển
kinh tế tư nhân từ giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Mục đích của luận văn
Luận văn nhằm đến các mục đích sau:
Thứ nhất: nghiên cứu lý luận chung về các loại hình kinh tế thuộc khu vực
kinh tế tư nhân và các lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng. Tứ đó
thấy được sự cần thiết phát triển kinh tế tư nhân từ giải pháp nâng
cao khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
Thứ hai: phân tích và dánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở
Tp.HCM và khả năng cung ứng vốn cho DNNQD của hệ thống các
NHTM trong thời gian qua. Thấy được những ưu điểm, tồn tại và
nguyên nhân của những tồn tại trong việc vay vốn các NHTM.
Thứ ba: đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao khả năng tiếp cận
nguồn vốn đối với các DNNQD tại các NHTM trên đòa bàn TP.
HCM.
3. Phạm vi nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, nội dung của luận văn hướng tập
trung vào các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của các doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế tư nhân trên đòa bàn Tp.HCM, không đi sâu vào vào một ngành
hay nột số ngành cụ thể. Luận văn sử dụng số liệu tổng hợp có nguồn gốc
đáng tin cậy từ năm 2000 đến năm 2004 để phân tích và đánh giá thực trạng
và kiến nghò các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng
của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
6
Tuy nhiên dù tác giả đã rất cố gắng trong việc thu thập số liệu, song kết
quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mà luận văn đạt được.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp phân tích
và tổng hợp. Nhờ phương pháp này có thể nghiên cứu được quá trình phát
triển cũng như thấy được những hạn chế trong quá trình phát triển của kinh tế
tư nhân và khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của khu vực này. Từ đó
đề xuất những giải pháp cơ bản mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Tp. HCM.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp
thống kê, phương pháp diễn giải và qui nạp, phương pháp so sánh….
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, chữ viết tắt, luận văn
có 96 trang với kết cấu như sau:
Chướng I: Lý luận chung về kinh tế tư nhân và vấn đề tín dụng ngân hàng
đối với sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Chương II: Thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Tp.HCM và tình
hình tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng phát
triển khu vực kinh tế tư nhân trên đòa bàn Tp.HCM.
7
Chương I
: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VẤN
ĐỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
I.1 Tổng quan về khu vực kinh tế tư nhân
I.1.1 Khái niệm chung về doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thò trường ở nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác nhau, tương ứng với mỗi hình thức sở hữu có thể chia cấu trúc nền kinh
tế thành ba khu vực chính: đó là khu vực kinh tế nhà nước (còn gọi là kinh tế
quốc doanh), khu vực kinh tế tư nhân (ngoài quốc doanh) và khu vực đầu tư
nước ngoài. Còn một khu vực kinh tế khác đó là khu vực kinh tế hỗn hợp giữa
quốc doanh và ngoài quốc doanh. Khu vực này khi xét vốn đầu tư của bên
nào chiếm tỷ lệ khống chế thì có thể xếp vào khu vực quốc doanh hay khu
vực ngoài quốc doanh. Cách chia cơ cấu kinh tế như vậy chỉ mang tính tương
đối và tương ứng với mỗi khu vực kinh tế có các loại hình doanh nghiệp khác
nhau.
Doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp được hiểu là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dòch ổn đònh, được đăng ký kinh doanh
theo qui đònh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước gọi là DNNN. Đây
là các tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ
phần, vốn góp chi phối và hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn nước ngoài bao gồm doanh nghiệp
liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh
8
là doanh nghiệp do hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp đònh ký kết giữa Chính phủ Việt
Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp
liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là các doanh nghiệp do
cá nhân làm chủ và tự chòu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về
mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư
nhân tồn tại dưới các hình thức tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, có tư
cách pháp nhân như: công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh,
doanh nghiệp tư nhân và các hộ, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh.
I.1.2 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trước hết ta tìm hiểu khái niệm sở hữu tư nhân. Sở hữu tư nhân là hình
thức chiếm hữu, trong đó tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng là của riêng
cá nhân. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở nảy sinh kinh tế tư nhân.
Xuất phát từ bản chất của chế độ sở hữu tư nhân, có thể hiểu kinh tế tư
nhân là tổng thể các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ra đời và tồn tại trên cơ sở
sở hữu tư nhân về vốn và tư liệu sản xuất và được gọi là khu vực kinh tế tư
nhân hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Kinh tế tư nhân hoàn toàn tự
chủ, tự chòu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh dòch vụ.
Cụ thể như tự chủ về vốn, qui mô hoạt động, tự chủ lựa chọn phương thức sản
xuất kinh doanh, hình thức tổ chức quản lý… và tự chòu trách nhiệm trước
pháp luật về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
9
Các đơn vò kinh doanh thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bao
gồm: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân và các nhóm, cá thể kinh doanh. Sau đây ta tìm hiểu một số đặc điểm
của các đơn vò kinh doanh này:
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 và Luật Doanh nghiệp, ta có
thể hiểu Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó: thành viên chòu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghóa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Phần vốn góp của thành
viên chỉ được chuyển nhượng theo qui đònh. Thành viên có thể là tổ chức, cá
nhân, số lượng thành viên không được vượt quá 50. Công ty TNHH không
được quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và
các nghóa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác, trừ trường hợp qui đònh không được chuyển nhượng trong Luật
này. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa. Có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng theo qui đònh của pháp luật về chứng khoán.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành
viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp
vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín
nghề nghiệp và phải chòu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghóa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn chỉ chòu trách nhiệm về các
10
khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp
danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chòu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
Ngoài các hình thức tổ chức trên của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
còn bao gồm các cá thể kinh doanh và các nhóm kinh doanh. Sự khác nhau
cơ bản với chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty là cá thể kinh doanh và các
nhóm kinh doanh không cần vốn pháp đònh.
I.1.3 Sự cần thiết phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thò trường
đònh hùng XHCN ở Việt Nam
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều
kiện tiềm lực và khả năng của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể chưa đủ
mạnh để có thể đảm đương được việc đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong khi
đó các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ… có khả năng phát
triển mạnh, sự có mặt của khu vực kinh tế tư nhân tạo động lực mới trong nền
kinh tế, tiếp tục giải phóng mọi lực lượng sản xuất, huy động khai thác các
tiềm lực dồi dào về vốn, kinh nghiệm quản lý, ngành nghề truyền thống
thúc dẩy tăng trưởng kinh tế, phát triễn đất nước. Vì vậy, khuyến khích phát
triển kinh tế ngoài quốc doanh là nội dung quan trọng của đổi mới kinh tế ở
nước ta.
Vậy, để tiến hành nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần
huy động tối đa các thành phần kinh tế tham gia, trong đó có thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh là một tất yếu khách quan, là bộ phận cấu thành không
thể thiếu được trong nền kinh tế nước ta cũng như các nước khác trên thế
11
giới. Sự cần thiết phát triển kinh tế tư nhân bộc lộ rõ hơn ở
vai trò
của nó
được thể hiện ở những mặt cụ thể sau:
Thứ nhất huy động mọi nguồn lực trong dân để phát triển kinh tế
Một trong những mục tiêu của nền kinh tế thò trường đònh hướng
XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân chủ trương thực hiện trong thời kỳ
quá độ lên CNXH là giải phóng mọi sức sản xuất để làm ra nhiều của cải vật
chất và tinh thần nhằm cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân. Mục
tiêu ấy chỉ có thể thực hiện khi huy động được các nguồn lực trong nước, khai
thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sức lao động tiền vốn để mở rộng
sản xuất. Phát triển kinh tế tư nhân là một trong những giải pháp quan trọng
để thực hiện mục tiêu này là vì cho phép khai thác có hiệu quả mọi nguồn
lực của đất nước.
Kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò to lớn trong việc huy động vốn
đầu tư rộng rãi trong nhân dân cho phát triển sản xuất, tạo động lực và môi
trường cạnh tranh sống động, linh hoạt, sáng tạo cho sự phát triển, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều của cải hàng hoá cho xã hội, đóng
góp vào ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá các ngành sản xuất. Theo ươc tính của các chuyên gia tài chính
ngân hàng thì nguồn vốn dưới các dạng trong dân còn rất lớn khoảng trên 20
tỷ USD, vì thế phát triển kinh tế ngoài quốc doanh mới có thể khai thác tốt
được nguồn vốn trong dân.
Vậy, sự tồn tại kinh tế tư nhân ở nước ta là một đòi hỏi bức thiết của
thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước nhằm khơi dậy và phát huy các tiềm
năng về vốn, sức lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, tính
năng động, nhạy bén linh hoạt, sáng tạo của kinh tế tư nhân. Góp phần giải
12
phóng đáng kể lực lượng sản xuất xã hội, tăng trưởng kinh tế, từng bước khắc
phục sự nghèo đói, cải thiện đời sống nhân dân.
Thứ hai tạo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển về hình thức sở hữu, về quản lý và
về phân phối tạo nên sự phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất ở các ngành, các lónh vực sản xuất, từ đó tạo khả năng huy động rộng rãi
tiềm năng nguồn lực trong toàn xã hội để đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều
của cải làm giàu cho mình và cho đất nước. Các loại hình tổ chức của kinh tế
tư nhân được tự do phát triển, Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích đầu tư
sản xuất kinh doanh, được luật pháp bảo hộ và là biểu hiện dân chủ hoá đời
sống kinh tế trong xã hội ta. Từ đó khơi dậy và phát huy tính năng động, nhạy
bén.cần cù sáng tạo của quần chúng nhân dân trong lao động và sản xuất,
thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, góp phần to lớn vào sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá. Mặt khác quá trình dân chủ hoá đời
sống kinh tế được mở rộng nói trên sẽ tác động và đòi hỏi sự cải tiến về tổ
chức, quản lý của nhà nước theo hướng hiện đại, văn minh, tiến bộ cũng như
thúc đẩy nâng cao đời sống văn hoá dân trí và tinh thần trong toàn xã hội.
Phát triển khu vực kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu đối với bộ máy quản
lý nhà nước phải chuyển đổi và thích nghi. Sự chuyển đổi bộ máy và chức
năng quản lý của nhà nước phải theo hướng tăng cường quản lý vó mô và
giảm thiểu tối đa sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp.
Sự có mặt của khu vực kinh tế tư nhân đòi hỏi phài có sự hoàn chỉnh
hệ thống luật pháp, trước hết là hệ thống pháp luật về kinh tế. Hệ thống luật
pháp vừa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thò trường đònh hướng XHCN vừa
phải phù hợp với thông lệ quốc tế hiện chưa có đầy đủ ở nước ta. Sự tồn tại
13
khu vực kinh tế tư nhân buộc nhà nước phải xây dựng hệ thống luật pháp
hoàn chỉnh, đồng bộ, một yêu cầu cấp bách của quản lý vó mô của nhà nước.
Thứ ba tạo động lực cho các thành phần kinh tế khác phát triển
Phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo cơ chế thò trường dưới sự quản
lý của nhà nước sẽ thúc đẩy mọi thành viên trong xã hội nỗ lực đầu tư năng
động trong việc khai thác mọi nguồn lực làm ra của cải đáp ứng nhu cầu cho
mình và đóng góp cho xã hội. Tác động tích cực này tác động nhiều đến khu
vực kinh tế nhà nước. Giá thành sản phẩm rẻ, mẫu mã hàng hoá đa dạng và
luôn luôn đổi mới của khu vực sản xuất tư nhân có sức cạnh tranh mạnh mẽ
và là động lực thúc đẩy kinh tế nhà nước năng động lên.
Vậy, sự hợp tác liên doanh của kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể như một tất yếu nảy sinh, khi phát triển kinh tế tư nhân sẽ tạo
thêm động lực cho hai thành phần kinh tế này phát triển vượt qua năng lực
của nó, khắc phục những hạn chế của khu vực quốc doanh, nhờ đó sẽ phát
huy hết tiềm năng.
Thứ tư góp phần tích cực vào sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế tư nhân góp phàn tích cực vào sự chuyển dòch theo
hướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại. Ưu thế nổi trội của doanh nghiệp ngoài
quốc doanh là năng động, nhạy bén, linh hoạt trong đầu tư sản xuất kinh
doanh, nắm bắt và đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu thò trường để tìm kiếm hiệu
quả, lợi nhuận. Do vậy họ luôn tìm kiếm phát hiện ngành, lónh vực mặt hàng
xã hội đang thiếu, đang cần đầu tư sản xuất, đồng thời không ngừng cải tiến
kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có ưu thế
trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận, từ đó thúc đẩy sự dòch chuyển cơ cấu
kinh tế theo hướng hợp lý, ngày càng hiện đại.
14
Ngoài ra phát triển kinh tế tư nhân sẽ tạo ra một đội ngũ những nhà
doanh nghiệp năng động, nhạy bén dám nghó, dám làm, chấp nhận thách thức
của thò trường. Góp phần đồng bộ và hoàn thiện những tiền đề, điều kiện cho
sự phát triển kinh tế thò trường đònh hướng XHCN.
Thứ năm giải quyết việc làm, chuyển dòch cơ cấu lao động và phát
triển nguồn nhân lực
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển khắp các vùng của đất nước tạo khả
năng to lớn trong giải quyết việc làm và đời sống của người lao động. Trong
cơ chế cạnh tranh thò trường, để nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh
doanh, kinh tế tư nhân phải tìm mọi cách tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo,
nâng cao trình độ, năng lực, tay nghề của người lao động, cũng như bố trí sử
dụng hợp lý, khoa học… từ đó góp phần to lớn vào sự phát triển lực lượng lao
động xã hội, đáp ứng yêu cầu kinh tế thò trường hội nhập kinh tế quốc tế.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đông đảo với nhiều qui mô, nhiều
ngành nghề không những thu hút nhiều lao động, giải quyết nhiều việc làm
mà còn là lò luyện đội ngũ các nhà doanh nghiệp sau khi họ tốt nghiệp các
trường cao đẳng, đại học và các trường khác.
Thứ sáu phát triển kinh tế đối ngoại
Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá cùng với xu thế và đặc
điểm thời đại về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là môi trường và điều kiện
cho kinh tế tư nhân phát huy các ưu thế, hiệu quả của mình cho nền kinh tế.
Kinh tế tư nhân góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hiện đại hoá
sản xuất: sự phát triển của kinh tế tư nhân tạo ra khối lượng lớn về hàng xuất
khẩu đồng thời mở rộng khả năng và là đối tác thu hút các nguồn vốn đầu tư
từ nước ngoài vào Việt Nam, nhập về máy móc thiết bò công nghệ tiên tiến…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét