Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Lịch sử áo dài truyền thống phụ nữ Việt Nam

Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ÁO DÀI TRUYỀN THỐNG
PHỤ NỮ VIỆT NAM
I. Đôi nét về quá trình phát triển của trang phục áo dài phụ nữ Việt Nam.
Thế kỷ XVII – XVIII
Có giả thuyết cho rằng áo dài Việt Nam xuất xứ từ phương Bắc do năm 1744, Chúa
Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, khi xưng Vương đã yêu cầu thay đổi trang phục Việt
Nam trên cơ sở kiểu áo Trung Hoa. Bộ quần áo có nút thay thế cho váy và áo xẻ ngực thắt
dây. Nhưng áo dài là loại trang phục riêng của người Việt vì những khi lễ lạt, người xưa
phải khoác ra ngoài áo dài một cái áo lễ, thí dụ như áo tấc áo dấu, áo tràng ngoài dân gian;
hoặc áo bào, áo mệnh phụ trong triều.
Với bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ 17, trang phục áo dài tứ thân chịu ảnh hưởng bởi
nhiều quan niệm phong kiến đương thời. Điều này thể hiện qua kiểu dáng áo rộng, màu sắc
đơn giản, các họa tiết trang trí trên áo hầu như không có, hơn nữa, áo dài tứ thân còn phần
nào thể hiện vai trò thứ yếu của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thời bấy giờ. Áo dài
tứ thân được sử dụng khá nhiều ở nông thôn miền Bắc cho đến những năm đầu thập niên
1930.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
5
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Khoảng giữa thế kỷ 17-19, áo dài ngũ thân được những người phụ nữ quyền quý ở
thành thị miền Bắc và miền Nam mặc. Áo dài ngũ thân thể hiện sự giàu sang cũng như địa
vị xã hội của người phụ nữ, và cũng là biểu tượng của ngũ hành: Kim, Mộc, thủy, Hỏa,
Thổ. So với áo dài tứ thân, áo dài ngũ thân đã có nhiều khác biệt về chất liệu vải, màu sắc
cũng như các họa tiết trên áo. Tuy nhiên, về kiểu dáng, áo dài ngũ thân vẫn giữ nguyên kiểu
áo rộng, che phủ hình thể của người mặc.
Thế kỉ XIX-XX
Năm 1819, cách ăn mặc của người dân vẫn giống như từ hơn hai thế kỷ trước đó với
quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá chân. Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông
áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà
khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân
trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất
là 40cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến
gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm. Cổ áo chỉ cao
khoảng 2 - 3cm.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
6
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Riêng ở miền Bắc khoảng năm 1910 – 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết
phụ độ 3cm bên phải cổ áo và cài khuy cổ lệch ra. Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn
và cũng để khoe chuỗi hột trang sức quấn nhiều vòng quanh cổ. Phần nhiều áo dài ngày
xưa đều may kép, tức là may có lớp lót. Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi vì thế được may
đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo
lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba, quần may rộng vừa phải, với đũng thấp.
Làn sóng văn hoá Tây Âu du nhập vào Việt Nam đã ảnh hưởng tới thị hiếu của
người dân, đặc biệt là quan niệm về thẩm mỹ đối với áo dài. Điều này đã tạo ra một phong
trào cách tân về kiểu dáng, biến chiếc áo dài trở thành một trang phục tôn vinh vẻ đẹp của
người phụ nữ. Với áo dài cách tân, địa vị xã hội của người phụ nữ dường như đã được xác
lập và tạo nên phong trào bình quyền nam nữ thời bấy giờ. Thời kỳ này một nhân vật có tên
là Cát Tường, tung ra kiểu áo dài mới gọi là áo dài Le Mur, chữ Lemur trong tiếng Pháp có
nghĩa là “cái tường”, là một cách đặt tên theo họa sĩ Cát Tường. Chiếc áo dài này được cắt
may theo kiểu Tây phương nối vai ráp tay phồng, cổ bồng hoặc được khoét hở cổ. Vài
năm sau khi áo dài Le Mur xuất hiện và có nhiều trào lưu khen chê khác nhau, họa sĩ Lê
Phổ đã cải tiến chiếc áo này, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung hòa với
kiểu áo ngũ thân cũ tạo ra kiểu áo cổ kín vạt dài ôm sát thân người để hai tà áo tự do bay
lượn.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
7
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi
phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần
chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ
xòe rộng thêm. Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi
nhiều, gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20cm, thường được mặc với quần
trắng hoặc đen.
Những cách tân đầu tiên
Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ
chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Tay áo vẫn
may nối. Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội.
Năm 1939 nhà tạo mẫu này tung ra một kiểu áo dài được Âu hóa. Áo Le Mur vẫn
giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim. Có
khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ. Vai áo may bồng, tay nối ở vai. Khuy
áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1943.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
8
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may có eo. Các thợ may lúc đó đã
khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, nhất là ở phần
mông, để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong
được cắt ngắn dần từ giai đoạn này. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp
xuống.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
9
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Áo dài được thay đổi nhiều nhất trong thập kỷ 60. Vì nịt ngực ngày càng phổ biến
hơn, nên áo dài bắt đầu được may chít eo, nhiều khi rất chật, để tôn ngực. Eo áo cắt cao lên
hở cạp quần, gấu áo lúc này cắt thẳng ngang và may dài gần đến mắt cá chân. Vào những
năm 1960, vì muốn thấy cổ phụ nữ dài thêm, bà Trần Lệ Xuân đặt ra loại áo dài cổ thuyền.
Nhiều người sau đó còn may áo dài với cổ khoét tròn. Mẫu áo dài hở cổ lần đầu tiên xuất
hiện tại Sài Gòn. Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được “phá cách” với họa
tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược. Thiết kế mới này trở thành đề tài được dư luận
xã hội đánh giá theo nhiều ý kiến khác nhau. Không chỉ là thời trang, áo dài hở cổ còn là
trang phục thể hiện phong cách sống tươi trẻ, tự tin của các thiếu nữ Sài Gòn.
Đến gần cuối thập kỷ 60, áo dài màu trở thành thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn,
có khi đến đầu gối. Áo may rộng hơn, không chít eo nữa, nhưng vẫn giữ đường lượn theo
thân thể. Cổ áo thấp xuống còn 3cm. Tay áo cũng được may rộng ra. Đặc biệt trong khoảng
thời gian này, vai áo dài bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn, nhăn ít, mà
lại đỡ tốn vải. Tay áo được nối với thân từ chéo vai. Quần may rất dài với gấu rộng đến
60cm và nhiều khi được lót hai ba lớp.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
10
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Mặc dù không tồn tại lâu nhưng áo dài Hippy lại là một điểm đáng chú ý trong lịch
sử áo dài. Hình ảnh thiếu nữ trong trang phục áo dài với các sác màu rực rỡ đã thể hiện nét
đặc trưng của người phụ nữ hiện đại cuối những năm 1950. Tuy nhiên, trào lưu áo dài
Hippy chủ yếu diễn ra tại miền Nam Việt Nam nơi mà làn sóng Hippy của nền văn hoá
phương Tây tác động một cách mạnh mẽ (1968).
Từ thập kỷ 70 đến 90, áo dài không thay đổi nhiều hơn. Thỉnh thoảng cách mặc có
đổi mới, thí dụ như quần với áo đồng màu, nhưng không tạo ra được phong trào sâu đậm.
Năm 1989, cuộc thi Hoa hậu áo dài lần đầu tiên được tổ chức tại Sài Gòn, đánh dấu
sự hồi sinh phát triển mạnh mẽ của áo dài với hàng loạt các thiết kế mới. Trong đó, nổi bật
là hai trường phái: áo dài vẽ do họa sĩ Sĩ Hoàng khởi xướng (1989) và áo dài thổ cẩm do
nhà thiết kế Minh Hạnh thực hiện trên chất liệu thổ cẩm.
Áo dài thổ cẩm
Ngày nay, áo dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ
tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài. Nhiều du khách nước ngoài đã có những ấn
tượng rất tốt về tà áo dài Việt Nam. Họ cảm thấy được tiếp đón rất nồng hậu khi những tà
áo dài bay bay trước gió ở phi trường. Thật tiếc cho những ai đến Việt Nam mà không
mang về một chiếc áo dài làm kỷ niệm và để khoe với những ai chưa từng đến Việt Nam.
Áo dài trong các cuộc thi sắc đẹp lớn, trong cuộc hội nghị quan trọng của thế giới, áo dài
trắng thướt tha của nữ sinh Tất cả đều mang trong mình vẻ đẹp tiềm ẩn, vẻ đẹp rất Việt
Nam
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
11
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Kiều Khanh sau đêm chung kết hoa hậu áo dài báo Phụ nữ 1989
Năm 1995 là năm của chiếc áo dài dân tộc. Chiếc áo dài của Trương Quỳnh Mai
được chọn là trang phục dân tộc đẹp nhất tại cuộc thi hoa hậu quốc tế Tokyo. Áo dài Hoàng
Hoa mặc với kiểu thiết kế của Sỹ Hoàng làm say đắm lòng người và được chọn là chiếc áo
dài đẹp nhất tại cuộc thi hoa hậu áo dài Thành phố Hồ Chí Minh lần 2,với sự đăng quang
của Đàm Lưu Ly.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
12
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
Hoa hậu áo dài Đàm Lưu Ly (1995)
Áo dài năm 1995 cách tân phù hợp với thời đại và đẹp hơn. Tà áo dài chít bên ngực,
eo, lưng. Cổ cao, lượn tròn góc từ 4 – 7 cm, tay áo dài vừa ôm sát tay. Áo dài nhung, thêu,
vẽ, in bông… đã tạo nên những vẻ đẹp kiêu sa hơn nữa, nâng cánh áo dài Việt Nam bay
lên.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
13
Khoa Dệt May & Thời trang Đồ án tốt nghiệp
II. Sắc thái trang phục áo dài các miền.
A/ Sắc thái trang phục áo dài miền Bắc:
Áo của phụ nữ miền Bắc có nhiều loại: áo cánh ngắn,các loại áo dài mặc ngoài, áo
ấm, áo lễ… Phụ nữ ở thành thị khi ra đường, khi tiếp khách ít khi mặc áo cánh mà thường
mặc thêm áo dài. Áo dài phụ nữ có loại tứ thân, năm thân.
Tên gọi “tứ thân” hay “năm thân” bắt nguồn từ khổ vải dệt thủ công thường hẹp,
phần lưng phải ghép hai khổ vải ở giữa đường sống lưng thành hai thân sau, còn hai thân
trước là hai tà áo, khi mặc áo thường bỏ buông hay thắt hai vạt áo vào nhau ở trước bụng
hay sau lưng.
Phụ nữ thành thị hay người sang thôn quê hay mặc áo dài năm thân, hai thân trước
phía ngoài gọi là vạt cả, một thân bên trong gọi là vạt con. Loại áo này cài cúc bên sườn,
nhưng thường khi mặc, người ta khép vạt cả lên trên vạt con rồi dùng thắt lưng buộc lại cho
chặt. Cũng có khi mặc áo dài năm thân với yếm, nên khi đó mấy hàng cúc ở cổ không cài
để hở một phần yếm cổ xây bên trong. Không biết chính xác áo dài năm thân xuất hiện ở
nước ta từ thời kỳ nào, nhưng rõ ràng phải xuất hiện sau áo tứ thân và có sự hòa nhập giữa
áo tứ thân truyền thống với lại áo cổ cao, cài khuy nách đặc trưng của các dân tộc phương
Bắc. Thời Nguyễn, loại áo này đã được sử dụng phổ biến trong giới quan lại quý tộc, thị
dân. Tới những năm đầu thế kỷ, nhất là những năm 30, trên cơ sở áo dài năm thân này,
người ta đã cải tiến thành áo dài tân thời như ngày nay. Trong đó áo dài Hà Nội là một
phong cách bên cạnh áo dài Huế - Sài Gòn
Với áo dài năm thân, phụ nữ xưa hay mặc kiểu “mớ ba”, “mớ bẩy”, tức là cùng một
lúc người ta mặc bộ ba hoặc bảy áo dài chồng lên nhau, mỗi cái mang màu sắc khác nhau,
thường ngoài cùng là áo dài the màu thâm, nâu hoặc tam giang, còn các màu trong là màu
mỡ gà, cánh sen, vàng chanh, hồ thủy… Mặc “mớ ba”, “mớ bảy” là kiểu mặc của kẻ sang,
nên không thể tùy tiện về màu sắc, thứ tự và kiểu may cắt trong một bộ. Nghệ thuật của
người mặc “mớ ba”, “mớ bảy” là làm sang, làm dáng vẫn kín đáo. Nếu nhìn thẳng khi ngồi,
lúc đi ta chỉ thấy màu áo ngoài giản dị, nhưng nhìn bên ta vẫn thấy tà áo trong lấp ló với
nhiều màu sắc khác nhau. Nhất là, khi mặc kiểu này, người ta không cài hàng cúc từ cổ tới
nách để các lô áo màu bên trong đều phô ra ngoài bằng diềm vạt nhỏ. Đó cũng là cách tạo
lên dáng đẹp, hài hòa giữa mầu áo, yếm, làm tôn thêm vẻ cao thon của cổ ba ngấn.
Phạm Minh Đức
Lớp CN May & Thời trang _ K50
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét