LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ VỐI": http://123doc.vn/document/569738-quan-ly-tong-hop-sau-benh-hai-doi-voi-cay-ca-phe-voi.htm
SÂU BỆNH HẠI ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ VỐI
Biên soạn: TS. Trần Thị Kim Loang
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
PHẦN 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SÂU BỆNH HẠI
ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ VỐI
Cà phê là loại cây công nghiệp có nhiều loại sâu bệnh phá hại, một số sâu
bệnh gây tổn thất lớn về năng suất và chất lượng cà phê. Càng thâm canh thì nguy
cơ xuất hiện sự phá hại của sâu bệnh càng nhiều nếu không có giải pháp quản lý
tổng hợp về sâu bệnh hại trên cây cà phê.
- Bệnh rỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix) đã gây tổn thất nghiêm trọng cho cà
phê chè trồng ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Năm 1868,
Xrilanac đã phải hủy bỏ toàn bộ cà phê chè bị bệnh nặng để chuyển sang trồng chè.
Indonesia, Việt Nam cũng huỷ bỏ nhiều diện tích cà phê chè để chuyển sang trồng
cà phê vối. Những năm gần đây, bệnh này cũng đã xâm nhập vào nhiều nước Châu
Mỹ La tinh, gây nhiều thiệt hại lớn và đe doạ nghề trồng cà phê tại đây.
- Cách đây 20 - 30 năm, bệnh thối thân cà phê do nấm Giberella xylarides
đã gây hại trên cây cà phê vối và mít đã làm tiêu diệt những vùng cà phê rộng lớn ở
một số nước Châu Phi, sau phải trồng thay bằng giống khác. Ở Ấn Độ bệnh này
cũng khá phổ biến trên cây cà phê vối làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng
hạt cà phê xuất khẩu.
Ở Việt Nam, bệnh rỉ sắt, sâu đục thân cà phê (Xylotrechus quadripes) được
xem là các nguy cơ lớn nhất đối với việc trồng cà phê chè của các đồn điền Pháp
trước đây tại miền Bắc. Trong khoảng 1945 đến 1954, do tác hại của nấm rỉ sắt, cơ
cấu giống cà phê trồng ở Việt Nam phải thay đổi, từ chủ yếu là cà phê chè chuyển
sang trồng chủ yếu là cà phê vối.
Hiện nay đối với cà phê vối ở Tây Nguyên đã và đang xuất hiện các loại
bệnh vàng lá do thối rễ tơ, rễ cọc mà nguyên nhân do tuyến trùng và nấm trong
đất gây hại. Bệnh này cũng đã phá hại hàng ngàn ha cà phê vối trồng ở Đắk Lắk
vào những năm 2000.
Bệnh Thối nứt thân do nấm Fusarium sp. cũng đã và đang là đối tượng gây
hại đáng chú ý hiện nay đối với các vườn cà phê vối.
1
Ngày nay, những thành tựu mới về khoa học trên lĩnh vực hoá học, sinh vật
học (chọn giống kháng bệnh, chống bệnh, dùng các chế phẩm sinh học đối
kháng ), nông học (chế độ bón phân, tưới nước, tạo hình, cắt cành ) đã đem lại
cho các nhà sản xuất cà phê những sự hỗ trợ rất đắc lực trong việc quản lý sâu bệnh
hại đối với cây cà phê. Tuy nhiên trước sự phá hại của một số đối tượng sâu bệnh
gây hại hiểm nghèo, người ta vẫn phải chấp nhận một số tổn thất nhất định khó
tránh khỏi do sâu bệnh gây nên.
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đã có những thành
công nhất định trong việc quản lý sâu bệnh hại đối với cà phê như chọn tạo giống
cà phê kháng bệnh rỉ sắt (TR3, TR4, TR5, TR6, TR10 ), quy trình phòng trừ
bệnh rỉ sắt, phòng trừ bệnh vàng lá cà phê, phòng trừ bệnh nấm hồng quy trình
phòng trừ các loại sâu hại như mọt đục cành, rệp sáp hại quả, rệp sáp hại rễ Tuy
nhiên do việc nhận thức chưa đầy đủ, việc tổ chức quản lý trong công tác phòng trừ
tổng hợp thiếu chặt chẽ, đầu tư và trang bị kỹ thuật chưa phù hợp, chưa đồng bộ
nên hiệu quả của việc phòng trừ chưa cao, còn gây tổn thất đến năng suất và chất
lượng ngành hàng xuất khẩu có giá trị này.
2. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU
BỆNH HẠI ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ VỐI
2.1. Các vấn đề về sự phát triển sâu bệnh hại trên đồng ruộng
2.1.1.Càng thâm canh càng phải tăng cường bảo vệ cây
Quá trình thâm canh ngày càng được đẩy mạnh, năng suất cây trồng ngày
càng tăng lên và những thiệt hại do sâu bệnh cũng ngày càng nhiều. Các nguyên
nhân dẫn đến tình trạng trên là:
- Các biện pháp thâm canh làm cây sinh trưởng, phát triển tốt và do đó làm
dồi dào nguồn thức ăn về cả chất lẫn lượng tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh
phát triển.
- Cây trồng khi được chăm sóc tốt và được thúc đẩy để đạt được mức năng
suất cao thường ở trong trạng thái hoạt động sinh lý với cường độ cao, dễ gây rối
loạn các chức năng sinh học. Trong trạng thái này cây chống chịu kém với các tác
động không thuận lợi của môi trường và với sâu bệnh.
2.1.2. Dịch hại là hậu quả của những hoạt động không bình thường của
các sinh vật trên đồng ruộng
Trên đồng ruộng không chỉ có cây trồng mà còn có rất nhiều loài sinh vật
khác. Trong số đó có những loài cần thiết cho hoạt động sống của cây, thiếu chúng
cây không thể sống được. Ví dụ: Các vi sinh vật phân giải lân, kali trong đất, các
vi sinh vật phân giải và dọn sạch các chất thải do cây tiết ra, các chất hữu cơ trong
2
đất. Ngoài ra còn có các sinh vật gây hại cho cây đó là: côn trùng, nấm, vi khuẩn,
virus, tuyến trùng, chim, chuột và đây là những đối tượng chúng ta cần phải tiêu
diệt. Các sinh vật gây hại này lại là thức ăn của một số sinh vật khác, người ta gọi
chúng là thiên địch (kẻ thù tự nhiên) của các sinh vật gây hại, đây là các loài sinh
vật có ích cho cây và con người.
Trên đồng ruộng các loài sinh vật này tồn tại hài hòa với nhau tạo ra một mối
cân bằng và người ta gọi đó là cân bằng sinh học. Mối cân bằng này sẽ bị phá vỡ
khi con người áp dụng không cân đối các biện pháp thâm canh hay tiêu diệt hoàn
toàn các sinh vật gây hại hay có ích, lúc đó sẽ xuất hiện dịch sâu bệnh.
2.1.3. Tính chất gây hại của sâu bệnh
Trong thực tế sản xuất, mỗi loài cây bị rất nhiều loài sâu bệnh khác nhau gây
hại. Mỗi loại ký sinh có cách lấy thức ăn riêng. Việc nắm được tính chất gây hại
của sâu bệnh có ý nghĩa lớn đối lớn đối với công tác phòng trừ sâu bệnh.
Một số loài sâu bệnh chỉ chuyên gây hại trên một loại cây trồng. Ví dụ: Nấm
rỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix) chỉ gây hại trên cà phê. Những loài và chủng sâu
bệnh này được gọi là nhóm sâu bệnh có tính chuyên tính cao. Các loài này có đời
sống gắn chặt với cây chủ và có nhiều đặc điểm thích nghi với đời sống cây chủ.
Trong sản xuất nông nghiệp nhóm này thường gây nhiều tác hại có ý nghĩa kinh tế.
Phương hướng cơ bản là phòng bằng cách tạo ra giống kháng dựa vào đặc điểm
chuyên tính của sâu bệnh, áp dụng các biện pháp canh tác thích hợp để hạn chế sự
phát triển của sâu bệnh hại.
Một số loài sâu bệnh khác có thể dùng nhiều loài cây trồng làm thức ăn.
Nhóm này được gọi là nhóm sâu bệnh đa thực. Ví dụ: Châu chấu gây hại cho lúa,
ngô, đậu đỗ, cà phê và nhiều loại cây trồng khác; nấm gây bệnh thối rễ, thối thân
(Fusarium oxysporum) có thể gây hại trên chuối, đậu, thuốc lá, cà chua, khoai lang,
cà phê, gừng ; rệp sáp có thể gây hại trên 2.000 loài cây trồng lẫn cỏ dại. Thường
đời sống và hoạt động của nhóm này chịu ảnh hưởng của nhiều loài sinh vật khác.
Các loài này thường bị nhiều loài thiên địch hạn chế phát triển làm cho chúng tuy
có nhiều thức ăn nhưng không thể tích lũy nhiều về số lượng được. Các loài sâu
bệnh thuộc nhóm này chỉ phát sinh thành dịch khi số lượng của các loài thiên địch
bị giảm hoặc do yếu tố thời tiết khí hậu thuận lợi.
2.2. Các nguyên tắc quản lý sâu bệnh hại tổng hợp đối với cây cà phê vối
2.2.1. Tạo môi trường sinh thái thích hợp đối với cây cà phê
Trước tiên cần tạo một môi trường sinh thái thích hợp đối với sinh trưởng và
phát triển của cây cà phê, tăng cường sức đề kháng của cây, khống chế sự phá hại
của sâu bệnh. Nấm rỉ sắt phát triển không giống nhau qua các năm mà phụ thuộc
vào diễn biến của thời tiết (mưa nhiều hay ít, sớm hay muộn ), tình trạng vườn
cây (cây bóng, chắn gió, mật độ cây trồng ), khả năng đề kháng bệnh của cây (bón
3
phân cân đối, tạo hình hợp lý ). Việc chặt bỏ cây che bóng ở một số nông trường, công
ty một cách đột ngột làm cho cân bằng tiểu sinh thái bị đảo lộn, làm cho cà phê phát dục
mạnh, sâu đục thân phát triển, trong khi đó các biện pháp chăm sóc và quản lý sâu bệnh
không hợp lý đã dẫn đến hậu quả là vườn cây xuống cấp trầm trọng.
2.2.2. Tăng cường các biện pháp thâm canh, làm cho cây cà phê có đủ sức
để hạn chế sâu bệnh thâm nhập
Nhiều loại bệnh như đốm mắt cua (Cercospora coffeicola), bệnh lở cỗ rễ
(Rhizobium), thối rễ trong vườn ươm (Fusarium sp.), bệnh khô cành (die- back)
chỉ có thể giải quyết tận gốc bằng cách tăng cường chăm sóc, bón phân cân đối làm
cho cây sinh trưởng khoẻ, tăng được sức đề kháng với các loại sâu bệnh hại.
2.2.3. Tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học
Việc hạn chế được sâu bệnh hại cà phê có thể đạt được hiệu quả cao khi
dùng các giống chống bệnh, dùng các chế phẩm sinh học như nấm đối kháng
(Trichoderma), thiên địch (nấm trắng, sâu đỏ trong phòng trừ bệnh rỉ sắt, bọ rùa
hại rệp )
2.2.4. Đảm bảo mối cân bằng sinh học trong tự nhiên
Tác hại của sâu bệnh là một hiện tượng khách quan theo qui luật tự nhiên.
Giải quyết các tác hại của sâu bệnh không chỉ gói gọn trong việc loại trừ các loài
gây hại. Không nên cố gắng tiêu diệt bằng hết các loài gây hại trên đồng ruộng
vì như thế sẽ phá vỡ mối cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Việc diệt trừ các
loài gây hại chỉ có ý nghĩa khi các loài này tích lũy đến một mật độ quá cao có
thể gây hại cho cây trồng và các biện pháp diệt trừ cũng chỉ nhằm giảm số lượng
các loài gây hại xuống dưới mức gây hại có ý nghĩa kinh tế. Công tác bảo vệ
thực vật chỉ có thể đạt kết quả tốt khi có sự phối hợp nhiều biện pháp khác nhau
một cách hợp lý trên cơ sở dự tính dự báo, thường xuyên theo dõi tình hình sâu
bệnh trên đồng ruộng, bảo vệ thiên địch. Người ta gọi phương pháp trên là quản
lý dịch hại tổng hợp (IPM).
2.2.5. Sử dụng thuốc hoá học thật sự khi cần thiết
Biện pháp hoá học trong nhiều trường hợp là cần thiết và là trợ thủ đắc lực
cho người sản xuất trong điều kiện hiện nay để phòng chống sâu bệnh cho cây cà
phê vối đạt hiệu quả. Tuy nhiên không nên lạm dụng thuốc một cách bừa bãi.
Thuốc phải dùng đúng nồng độ. Chỉ tiến hành phun cho cây trên cơ sở dự tính dự
báo thì mới đạt hiệu quả cao. Phun cục bộ, từ điểm ra diện. Phun đúng kỹ thuật.
Hạn chế quan điểm phun phòng, chỉ phun khi trên đồng ruộng xuất hiện sâu bệnh
với mức độ gây hại.
4
PHẦN 2
CÁC LOẠI BỆNH HẠI LÁ, THÂN, CÀNH, QUẢ
2.1. Rỉ sắt (Hemileia vastatrix B.& Br.)
2.1.1. Tác hại
Đây là loại bệnh phổ biến và nghiêm trọng trên cà phê, đặc biệt là cà phê chè.
Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, có thể xuất hiện trên thân, quả nhưng rất ít. Tác hại
của bệnh là làm rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém, và nếu nặng thì có thể chết.
Bệnh được phát hiện đầu tiên ở vùng hồ Victoria ở Châu Phi vào năm 1861 và
bệnh xuất hiện tiếp theo tại Sri Lanka vào năm 1868 ở Srilanca, bệnh đã gây nạn
dịch dữ dội có tính cách hủy diệt tại đây: Làm giảm hơn 75% sản lượng chỉ trong
vòng 10 năm (1869-1878), đến năm 1890 hầu như phải hủy bỏ toàn bộ diện tích cà
phê để thay bằng cây chè và cao su. Sau đó bệnh lan dần sang Châu Phi và Châu Á.
Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh đã có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai
Châu này và gây nhiều thiệt hại về kinh tế. Đến năm 1970 bệnh xuất hiện tại Châu
Mỹ ở bang São paulo của Brasil và lan dần khắp các bang khác, sau đó là Paraguay
(1972), Nicaragua (1976), Colombia (1983), Cuba (1985).
Tại nước ta, bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1888 và cũng đã gây nhiều
thiệt hại nghiêm trọng. ở miền Bắc, nhiều đồn điền của Pháp trước kia phải phá cà
phê chè và thay bằng cà phê mít. Tháng 3/1958 bệnh làm rụng lá toàn bộ cà phê
chè của Nông Trường Đông Hiếu. Tại Đắk Lắk bệnh đã hủy hàng nghìn ha cà phê
chè trong những năm 1940 - 1945, chỉ còn khoảng 60 ha vào năm 1957, toàn bộ
diện tích phải thay bằng cà phê vối.
Trong những năm gần đây, tại nước ta bệnh lại xuất hiện trên cà phê vối là
giống cà phê từ lâu được xem là kháng bệnh rỉ sắt. Tỉ lệ cây bệnh hiện nay đã lên
đến trên 50% số cây trên đồng ruộng, thậm chí có vườn 70 - 85%. Trên đồng ruộng
hiện nay đã xuất hiện những cây cà phê vối rụng gần hết lá do rỉ sắt.
2.1.2. Triệu chứng
Đầu tiên ở mặt dưới lá có những chấm nhỏ, màu vàng lợt như những giọt
dầu và chỉ thấy ở mặt dưới lá. Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện
những bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm rỉ sắt. Bào tử chuyển dần sang màu
trắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy. Các
vết cháy có thể liên kết với nhau thành các vết cháy lớn, dẫn dến việc cháy toàn bộ
lá và lá rụng. Nếu bệnh nặng cây có thể rụng hết lá dẫn đến hiện tượng khô cành,
sản lượng kém và chết.
5
2.1.3. Tác nhân gây bệnh
Bệnh rỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix B. & Br. gây ra. Đây là loại
nấm chuyên tính chỉ ký sinh trên cà phê. Gọi là Hemileia vì bào tử có dạng hình
bán nguyệt và tên loài là vastatrix vì bệnh có tính hủy diệt. Bào tử nấm nảy mầm,
xâm nhập qua các khí khổng ở mặt dưới lá. Bào tử nấm nảy mầm ở nhiệt độ từ
15
0
C - 28
0
C, tỷ lệ nảy mầm cao nhất ở 22
0
C. Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải có
sự hiện diện của nước.
Nước là yếu tố cần thiết cho sự nảy mầm của bào tử. Nhiều nghiên cứu cho
thấy mặc dầu có ẩm độ không khí bão hòa bào tử cũng không thể nảy mầm được
nếu không được tiếp xúc với giọt nước. Ánh sáng ngăn cản sự nảy mầm của bào tử,
do đó ban đêm là lúc thuận lợi cho sự nảy mầm.
Gió mang các bào tử đi, các bào tử này có thể nổi trên mặt nước, dính vào mặt
dưới hay mép lá và nước mưa làm bào tử nảy mầm. Cho đến nay người ta đã phát
hiện ra 32 chủng sinh lý của nấm H. vastatrix B. & Br. Tuy nhiên tại Việt Nam
chưa có đủ điều kiện để xác định chủng sinh lý của nấm rỉ sắt.
2.1.4. Sự phát sinh phát triển
Nhiệt độ và mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của
bệnh rỉ sắt. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình và mức độ phát triển của
bệnh là sự phân bố mưa, cường độ mưa, số lượng mầm bệnh có mặt trước khi khởi
đầu mùa mưa và số lượng lá trên cây.
Càng lên cao thì mức độ gây hại của bệnh giảm dần. ở độ cao 1830m ở
Kenya, với lượng mưa 830mm thì sự thiệt hại do bệnh rỉ sắt không có ý nghĩa về
mặt kinh tế. Cao điểm bệnh thường ở vào thời điểm bắt đầu mùa thu hoạch.
Sương đêm giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh rỉ sắt. Sương đêm
là nguyên nhân của gần 55% trường hợp xuất hiện của bệnh.
- Một dạng phát sinh từ đầu mùa mưa, phát triển vào tháng 7, 8, đạt đỉnh cao
vào tháng 10 - 11. Các cây ở dạng này là những cây bị bệnh nặng, tỷ lệ lá bệnh
trung bình cao nhất trên 90 %, chỉ số bệnh trên 30 %. Dạng này chiếm tỷ lệ khoảng
10 - 20 % số cây bệnh.
- Một dạng có mức độ bệnh rất nhẹ, phát sinh từ đầu mùa mưa nhưng đến
tháng 12 mới phát triển mạnh, đạt đỉnh cao vào tháng 1, tỷ lệ lá bệnh dưới 40 %,
chỉ số bệnh dưới 2 %. Dạng này cũng chiếm 1 tỷ lệ tương đối không nhiều, khoảng
20 - 30 % số cây bệnh.
- Dạng phổ biến trên đồng ruộng phát sinh từ tháng 6, phát triển mạnh từ
tháng 11, đạt đỉnh cao vào tháng 12 - 1 với tỷ lệ lá bệnh bình quân 80 %, chỉ số
bệnh từ 2 - 15 % . Dạng này chiếm 60 - 70 % số cây bệnh.
6
Mức độ nhiễm bệnh khác nhau giữa các cá thể trong cùng một vườn chứng tỏ
có sự quan hệ trực tiếp đến bản chất di truyền của chúng, tức khả năng kháng bệnh
của từng cá thể.
Trong mùa khô bệnh hiện diện dưới các vết nâu khô và hầu như không phát
triển. Các vết này là nguồn bệnh của năm sau. Nguồn bệnh từ các vết bệnh cũ trên
cây quan trọng hơn lá bệnh khô rụng dưới đất.
Vườn bị bệnh nặng thường giảm năng suất từ 30 - 40 % và có hiện tượng
mang quả cách năm.
2.1.5. Các biện pháp phòng trừ
2.1.5.1.Dùng giống kháng bệnh
Các kết quả điều tra về khả năng nhiễm bệnh rỉ sắt trên cà phê vối cho thấy
có sự khác nhau rất rõ về mức độ nhiễm bệnh rỉ sắt giữa các dòng vô tính. Trong
khi ở vườn được nhân giống bằng hạt bao giờ cũng có một tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh
rỉ sắt nặng chiếm tỷ lệ từ 10 - 20%. Do đó, đối với cà phê vối nhân giống vô tính là
một biện pháp có hiệu quả cao trong việc phòng trừ bệnh rỉ sắt.
Chương trình chọn lọc giống cà phê vối của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
Lâm nghiệp Tây Nguyên đã chọn ra được một số dòng vô tính có năng suất cao và
kháng được bệnh rỉ sắt như TR3, TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR10, TR11
2.1.5.2. Ghép chồi
Trên đồng ruộng các cây bị bệnh rỉ sắt nặng có thể dùng chồi của các cây có
năng suất cao, không bị nhiễm bệnh rỉ sắt trong nhiều năm để ghép thay thế cho
các cây bị nhiễm bệnh nặng, tốt hơn hết là dùng các dòng TR3, TR4 do Viện
Tây Nguyên chọn lọc (biện pháp sinh học).
2.1.5.3. Hóa học
Hiện nay có thể dùng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ bệnh rỉ sắt:
Impact 125 SC (2 - 3cc/200cc nước/gốc), Anvil 5 SC (0.2%), Bumper 250 EC
(0,2%), Tilt (0.1%), Sumi-eight 12,5 WP (0,1%), Opus 125 SC (0,1%) phun hai lần
cách nhau 1 tháng. Phun thuốc phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tưới hoặc phun thuốc sớm khi bệnh vừa xuất hiện. Trên cà phê vối, Impact
được tưới một lần trong mùa bệnh trước thời gian bệnh phát triển mạnh 2 tháng (tại
Đắk Lắk vào khoảng tháng 6), các thuốc khác được phun lần đầu vào khoảng tháng
8, tùy theo bệnh phát sinh sớm hay muộn.
- Bảo đảm lượng nước thuốc, ít nhất là 1lít dung dịch thuốc/cây cà phê kinh doanh.
- Nên phun kỹ dưới mặt lá.
2.2. Nấm hồng (Corticium salmonicolor)
2.2.1. Tác hại và triệu chứng
7
Bệnh gây hại trên quả và cành. Đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những
chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn. Những chấm này nhiều lên tạo thành
một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử của nấm, vì vậy gọi là bệnh
nấm hồng. Nếu xuất hiện ở cành thì thường nằm ở mặt dưới cành, nếu ở quả
thường từ cuống quả. Vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành và lan dần cả quả làm
cành bị chết khô, quả thì héo và rụng non.
Đây là bệnh gây hại nặng trên cà phê chè, cà phê vối cũng bị rải rác. Cây cà
phê kiến thiết cơ bản có thể chết nếu bị bệnh nặng. Trên cà phê vối kinh doanh
bệnh thường gây hại có tính cách cục bộ từng cây, làm chết từng cành, nếu nặng có
thể chết cả 1/2 tán cây. Cho đến nay chưa thấy có hiện tượng chết cả cây cà phê vối
kinh doanh do nấm hồng.
2.2.2. Phát sinh phát triển
Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao nhưng lại nhiều ánh sáng. Do đó
trong vườn cây, bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên, ít thấy ở tầng dưới.
Bệnh phát triển rất nhanh trên cây, tốc độ làm chết cành rất nhanh. Nhưng lây lan
từ cây này sang cây khác thì chậm. Thời gian phát triển của bệnh cũng không kéo
dài. Tại Tây Nguyên bệnh thường phát sinh từ tháng 6,7, phát triển mạnh từ tháng
7 đến tháng 9, cao điểm vào tháng 9. Sự phát sinh phát triển của bệnh chịu ảnh
hưởng nhiều bởi ẩm độ không khí. Năm nào mưa nhiều, ẩm độ không khí cao thì
bệnh nặng hơn. Các vườn cà phê rậm rạp, tạo hình không thông thoáng, vườn cây
ẩm thấp thưòng bị bệnh nặng hơn.
2.2.3. Các biện pháp phòng trừ
- Tạo hình thông thoáng cho vườn cây.
- Thường xuyên kiểm tra vườn cây nhất là những năm có mưa nhiều để phát hiện
bệnh sớm. Sau đó cắt, đốt các cành bệnh. Trên cà phê vối nếu cắt bỏ cành bệnh kịp
thời có thể phòng trừ bệnh nấm hồng mà không cần phải dùng thuốc hóa học.
- Nếu bệnh xuất hiện phổ biến trên đồng ruộng có thể phun Validacin 3L (2%)
hay Vali 3DD (2%) từ tháng 7, 8 phun 2 - 3 lần cách nhau 15 ngày. Nên phun lúc
chưa xuất hiện nấm màu hồng.
2.3. Đốm mắt cua (Cercospora coffeicola)
Bệnh gây hại trên lá, quả và cành. Cây bị bệnh nặng thường cằn cỗi, chậm
phát triển, lá vàng và rụng, quả vàng và chín ép.
Vết bệnh trên lá và quả thường có hình tròn, trong có nhiều vòng đồng tâm,
chính giữa màu xám có các chấm đen nhỏ, xung quanh nâu đỏ, ngoài cùng vàng.
Trên cành, vết bệnh chạy dọc theo chiều dài cành. Quả bị nấm gây hại nặng có thể
bị thối đen từng phần hoặc toàn bộ.
8
Bệnh xuất hiện phổ biến trong vườn ươm và thời gian kiến thiết cơ bản.
Bệnh phát triển quanh năm đặc biệt là trên các vườn chăm sóc kém, thiếu phân bón
hoặc trồng trên đất xấu.
Để phòng trừ cần chú trọng việc bón phân cân đối, tích cực chăm sóc để
vườn cây phát triển tốt. Trong trường hợp bệnh quá nặng có thể phun Anvil 5 SC
(0,2%), Tilt 250 EC (0,1%), Bumper 250EC (0,1%) 2- 3 lần cách nhau 15 ngày.
2.4. Thối nứt thân (Fusarium spp.)
Bệnh xuất hiện trên vườn kiến thiết cơ bản lẫn kinh doanh, thường xuất hiện trên
đoạn thân đã hóa gỗ. Bệnh làm nứt và thối đen lớp vỏ ngoài của thân cây, nếu bị nặng thì
lớp gỗ phía trong bị khô dẫn đến hiện tượng tắc mạch, cây thiếu nước nên héo và khô từ
đầu ngọn xuống. Vết bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của thân cây nhưng thường
ở đoạn giữa và gần gốc cây. Bệnh phát triển và lây lan nhanh.
Bệnh do nấm Fusarium spp. gây ra. Đây là loài nấm gây bệnh tắc mạch dẫn
và gây chết rất nhanh.
Bệnh thường xảy ra ở những vườn cây không thông thoáng, ẩm thấp hay
những năm mưa nhiều, ẩm độ không khí cao.
Phòng trừ: Cần phát hiện bệnh sớm khi thân cây vừa bị nứt hoặc có vết thối
đen nhỏ. Dùng dao cạo sạch phần vỏ thân bị bệnh, sau đó quét Viben C 50 BTN
(0.3%), Bendazol 50 WP (0,3%), Champion 77WP (0,3%), Manzate 80WP (0,3%).
Nếu cây đã bị khô ngọn cần cưa ngang và đốt bỏ phần bệnh, quét thuốc lên trên
mặt thân bị cưa và nuôi chồi mới. Các cây xung quanh cây bệnh dùng một trong
các loại thuốc trên phun nhiều lần để phòng ngừa bệnh lây lan.
2.5. Bệnh cháy lá (Colletotrichum gloesporioides)
Bệnh thường gây hại vào thời kỳ mưa kết hợp với thời tiết nóng ẩm. Lá bị
cháy ở phần thịt lá ở các vị trí khác nhau. Nếu gặp điều kiện thuận lợi thì lây lan rất
nhanh. Cây bị nặng thì lá rụng, làm cho quả rụng và dẫn đến khô cành.
Tại Gia Lai, hiện tượng cây cà phê bị bệnh cháy lá cũng đã xuất hiện ở một
số vườn của Công ty cà phê Gia Lai với tỷ lệ cây bị bệnh từ 10 - 15 %, đặc biệt có
vườn lên đến 30 - 40 %.
Phòng trừ:
- Tạo hình, cắt cành thông thoáng.
- Khi bị bệnh có thể dùng Tilt 250 EC (0,1%), Bumper 250 EC (0,1 %),
Anvil 5SC (0,2%), phun 2 - 3 lần cách nhau 15 - 20 ngày.
2.6. Bệnh khô cành, khô quả (Colletotrichum spp.)
Bệnh xuất hiện trên cả 3 bộ phận: Quả, cành và lá nhưng gây hại nặng trên
quả. Bệnh làm khô quả, khô cành và chết cây.
9
Triệu chứng trên quả bắt đầu bằng vết chấm nhỏ màu nâu trên vỏ quả, sau
lan rộng ra và có màu nâu sẫm, phần bị bệnh lõm sâu xuống. Đây là triệu chứng
đặc trưng của bệnh trên quả do Colletotrichum gây ra. Vết bệnh lan dần khắp vỏ
quả, ăn sâu vào trong nhân làm quả đen và rụng. Bệnh cũng có thể bắt đầu từ nơi
đính vào cuống hay tại điểm tiếp xúc giữa hai quả.
Trên cành bệnh xuất hiện đầu tiên từ những đốt giữa của cành. Đầu tiên là
những vết nhỏ màu nâu vàng sau đó nâu và nâu sẫm. Vết bệnh lan rộng khắp chiều
dài của đốt và lõm xuống so với các vùng kế bên. Lá trên cành rụng dần, cành khô
và chết, bệnh cũng có thể tấn công cả cành lớn và thân.
Lá bị bệnh có nhiều đốm nâu, sau đó lan rộng ra, chuyển sang màu nâu sẫm
hay nâu đen.
Phòng trừ:
- Trồng các giống chống bệnh.
- Bón phân cân đối
- Phun một trong các loại thuốc sau: Derosal 50 SC (0,2%), Tilt 250 EC (0,1
%), Viben C 50 BTN (0,2%), Carbenzim 500 FL (0,2 %) phun từ đầu mùa mưa
(tháng 5, 6), 2 - 3 lần cách nhau 1 tháng.
PHẦN 3
CÁC BỆNH HẠI RỄ
Hiện tượng vàng lá hiện nay đang xuất hiện rất phổ biến và gây hại nghiêm
trọng trên cà phê đặc biệt là vào giữa và cuối mùa mưa. Có nhiều nguyên nhân đưa
đến hiện tượng này nhưng nhìn chung đều xuất phát từ bộ rễ của cây bị tổn thương
nên không thể hấp thụ được nước và dinh dưỡng. Triệu chứng chung của các loại
bệnh này là cây sinh trưởng kém và vàng lá, rất dễ nhầm với triệu chứng vàng lá do
cây chăm sóc kém và thiếu dinh dưỡng. Mặc dù các triệu chứng ở rễ hoàn toàn
khác nhau ở từng loại bệnh nhưng khi bệnh nặng hầu hết các rễ đều bị thối đen, đôi
khi còn có sự xuất hiện đồng thời của nhiều loại bệnh trên cùng một vườn gây khó
khăn trong việc xác định bệnh.
3.1. Tuyến trùng hại rễ (Pratylenchus coffeae, Meloidogyne spp., Radopholus similis).
3.1.1. Tác hại và triệu chứng
Đây là loại bệnh nguy hiểm và hiện đang rất phổ biến tại các vùng trồng cà
phê chính ở Tây Nguyên. Hàng nghìn ha cà phê đã phải thanh lý vì bệnh này. Nguy
hiểm hơn cả là không thể trồng lại cà phê sau khi đã nhổ bỏ cây bệnh.
10
Tuyến trùng gây hại trên tất cả các loại tuổi cà phê, cả trong giai đoạn vườn
ươm. Cà phê chè thường bị hại nặng hơn cà phê vối. Trên đồng ruộng, triệu chứng
đầu tiên thường là 1 mảng hay 1vùng cây sinh trưởng kém trong khi các cây chung
quanh sinh trưởng tốt. Triệu chứng thể hiện rõ nhất là cây sinh trưởng kém, thiếu
dinh dưỡng (vàng lá), héo khi thời tiết nóng hay khô, làm giảm năng suất và chất
lượng. Vì thế để xác định bệnh được chính xác cần phải biết các yếu tố đất đai, chế
độ canh tác, phân tích rễ và đất để xác định sự hiện diện của các vi sinh vật gây
bệnh như nấm và tuyến trùng.
Ở cây cà phê kiến thiết cơ bản, bệnh xuất hiện chủ yếu trên các vườn trồng lại
trên đất các vườn cà phê già cỗi và các vườn kinh doanh đã bị tuyến trùng gây hại.
Cây có triệu chứng vàng lá rất rõ vào đầu mùa khô, sau khi dứt mưa và chưa tưới
nước do rễ cọc bị thối và đứt ngang (bệnh vàng lá do thối rễ cọc). Bộ rễ tơ gần mặt
đất phát triển mạnh, ở cây nặng rễ tơ cũng bị thối. Trong mùa mưa nếu được chăm
sóc tốt cây vẫn xanh nhờ hệ thống rễ tơ gần mặt đất nhưng do không có rễ cọc nên
các cây bệnh dễ bị nghiêng khi có gió to. Cây bị bệnh rất dễ nhổ lên bằng tay.
Ngoài triệu chứng vàng lá đây là triệu chứng dễ nhận dạng được bệnh trên đồng
ruộng. Nếu không được chăm sóc tốt bộ rễ tơ phát triển kém, cây sẽ còi cọc, vàng
lá hay chết ngay trong năm trồng. Cây cà phê thường bị bệnh rõ vào năm thứ 2
hoặc thứ 3 sau trồng.
Trên cà phê kinh doanh, cây bị bệnh chậm phát triển (mặc dầu đã được chăm
sóc, bón phân đầy đủ), lá vàng dần, rất dễ nhầm với triệu chứng vàng lá do cây
chăm sóc kém và thiếu dinh dưỡng, cành khô, rễ tơ bị thối đen từ chóp rễ vào
(bệnh vàng lá do thối rễ tơ). Ở cây bị bệnh nặng, rễ lớn cũng bị thối từ lớp vỏ ngoài
vào, rễ bị mục, dần dần cây không hấp thu được dinh dưỡng và chết. Cây thường
có biểu hiện vàng lá từ tháng 8, 9 trở đi và đến mùa khô thì giảm. Nếu bị bệnh nhẹ,
sau khi tưới nước cây sẽ xanh lại nhưng đến mùa mưa năm sau sẽ vàng lại. Bệnh
phát triển chậm, cây sinh trưởng kém và giảm dần năng suất nên rất khó phát hiện
sớm. Thường khi cây đã thể hiện những triệu chứng ở các bộ phận khí sinh thì hầu
như không thể trị được.
3.1.2. Sự phát sinh phát triển
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tuyến trùng Pratylenchus coffeae,
Meloidogine spp. chích hút rễ gây vết thương hay tạo các nốt sưng trên rễ kết hợp
với nhiều loại nấm, chủ yếu là Fusarium solani,, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia
solani, Rhizoctonia bataticola trong một số trường hợp còn có sự phối hợp với rệp
sáp. Các ký sinh này có sẵn trong đất và rễ của các vườn cà phê già cỗi và chỉ làm
suy yếu các vườn này nhưng lại dễ dàng gây chết cho cà phê kiến thiết cơ bản khi
trồng lại. Đối với các vườn cà phê kinh doanh, bệnh thường xuất hiện ở những
vườn cho năng suất cao trong một thời gian dài nhưng không được bổ sung phân
11
hữu cơ cũng như bón phân hóa học không cân đối khiến cây kiệt sức và giảm sức
đề kháng.
Tuyến trùng gây hại cây chủ yếu sống trong đất. Trứng của tuyến trùng có thể
tồn tại rất lâu trong đất và trên các tàn dư thực vật khi không có cây ký chủ hay khi
gặp điều kiện không thuận lợi. Cho đến nay 100%, số vườn được trồng lại trên đất
cũ ở các nông trường và hộ gia đình đều bị bệnh, mức độ bệnh thay đổi tùy vườn,
tùy vào mức độ vệ sinh đồng ruộng và thời gian để cho đất nghỉ sau khi khai hoang
để trồng lại cà phê. Tỷ lệ cây chết ở các vườn không được rà và thu gom rễ cẩn thận
sau khi thanh lý có thể lên đến 70-80 %. Ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho
tuyến trùng phát triển, tuy nhiên đất quá ẩm hay quá khô cũng làm chết tuyến
trùng. Đa số tuyến trùng chết ở nhiệt độ 50-55
0
C. Tuyến trùng có thể di chuyển
theo nước nên biện pháp tưới tràn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh lây lan
nhanh. Việc xới xáo, vét bồn trong các vườn đã bị bệnh cũng tạo điều kiện cho
bệnh lây lan và phát triển vì tạo vết thương cho rễ.
3.1.3. Các biện pháp phòng trừ
* Trong vườn ươm: Không sử dụng đất có nguồn tuyến trùng để ươm cây.
Phải thay đổi vị trí của vườn ươm nếu phát hiện có tuyến trùng.
* Đối với cà phê kiến thiết cơ bản trồng lại
- Trong quá trình khai hoang phải rà rễ nhiều lần, nhặt sạch các rễ cũ còn sót
lại. Sau đó phải tiến hành các biện pháp cải tạo đất, luân canh bằng các cây lương
thực ngắn ngày hoặc cây phân xanh đậu đỗ ít nhất trong 2-3 năm.
- Xử lý hố trước khi trồng bằng cách đốt hố, bón vôi (1 kg/hố) kết hợp với bón
lót phân chuồng, rải thuốc tuyến trùng như Mocap 10G (50g/gốc), Vimoca 20ND
(0,3%, 2lít dung dịch/gốc), Marshal 5G (50g/gốc), Oncol 20EC (0,3%, 2lít dung
dịch/gốc). Hoặc có thể dùng chế phẩm Trichoderma với lượng khoảng 40g/hố cùng
với phân chuồng bón lót để xử lý hố trước khi trồng 15-10 ngày
* Đối với cà phê kinh doanh
- Bảo đảm qui trình kỹ thuật như cây trồng xen, cây che bóng, đai rừng chắn
gió để tạo cho vườn cây có năng suất ổn định.
- Bón phân đầy đủ, cân đối, đồng thời tăng cường việc bón phân hữu cơ và
các chế phẩm sinh học cải tạo đất nhất là đối với các vườn cây đã cho năng suất
cao trong nhiều năm.
- Hạn chế xới xáo, làm bồn trong những vườn cây đã bị bệnh để tránh sự lây
lan bệnh qua việc làm tổn thương bộ rễ.
- Không tưới tràn từ vườn bệnh sang vườn không bệnh.
- Hóa học không thể được xem là biện pháp chính trong việc phòng trừ tuyến
trùng vì vừa đắt tiền mà hiệu quả lại không cao. Hơn nữa đa số các thuốc trị tuyến
12
trùng đều là những thuốc rất độc cho con người. Do đó việc sử dụng thuốc hóa học
để phòng trừ tuyến trùng rất hạn chế. Đa số chỉ sử dụng để xử lý đất trong vườn
ươm hay đối với cây mới trồng. Đối với các vườn vừa chớm bệnh có thể đào đốt
các cây bệnh sau đó xử lý hố như phương pháp đã làm đối với cà phê kiến thiết cơ
bản. Các cây xung quanh vùng bệnh dùng thuốc tuyến trùng kết hợp với Viben C
50 BTN, Bendazol 50WP (0,5%, 5 lít dung dịch/gốc) tưới 2 lần cách nhau 15 ngày
để phòng và cô lập nguồn bệnh. Việc tưới thuốc nên thực hiện trong mùa mưa (tốt
nhất đầu mùa mưa - tháng 4, 5) khi đất có đủ độ ẩm, nếu tưới thuốc trong mùa khô
thì phải tưới thuốc sau khi tưới nước. Sau khi tưới thuốc cần bổ sung phân chuồng
và phân bón lá cho cây.
3.2. Lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani,Fusarium spp.)
Bệnh gây hại ở phần cổ rễ cây con trong vườn ươm và trong giai đoạn kiến
thiết cơ bản
3.2.1. Trong vườn ươm
Phần thân tiếp giáp với mặt đất (gọi là cổ rễ) bị thối đen và teo lại làm cho
nước không dẫn được từ rễ lên nên phần lá phía trên bị héo và chết. Bệnh thường
xuất hiện ở các vườn ươm có ẩm độ đất cao, ít thoáng, đất trong bầu bị dí chặt.
Phòng trừ:
- Không tưới nước quá ẩm.
- Không che vườn ươm quá dày (để khoảng 50% ánh sáng ngoài trời)
- Xới xáo, bóp bầu để tạo thông thoáng trong bầu.
- Nhổ bỏ các cây bệnh.
- Phun Validacin 3 DD (2%), Viben C 50 BTN (0.3%).
3.2.2. Đối với cà phê Kiến thiết cơ bản
Bắt đầu là cây chậm sinh trưởng, một phần cổ rễ (phần thân tiếp giáp với rễ
cọc, cách mặt đất khoảng 10 - 20 cm) bị khuyết dần vào trong. Sau đó vết khuyết
ăn sâu hơn, toàn cổ rễ bị mất, cây vàng lá dần và chết. Bệnh phát triển từ từ và lây
lan qua việc làm cỏ, cuốc xới, nước mưa.
Bệnh thường xuất hiện trong mùa mưa, ở những nơi ẩm, đất ít được xới xáo.
Nguồn bệnh có thể bắt đầu từ các cây con đã bị bệnh trong vườn ươm. Đất pha cát
dễ bị bệnh này hơn đất đỏ.
Phòng trừ:
- Đất trồng cà phê phải có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, nước ngầm thấp.
- Cây con phải đạt tiêu chuẩn trồng, không có triệu chứng của bệnh lở cổ rễ
trong vườn ươm.
13
- Tránh tạo vết thương trên phần gốc cây qua việc làm cỏ và đánh chồi sát gốc.
- Phát hiện sớm khi cây vừa chớm bệnh lở cổ rễ. Tưới kết hợp Validacin
3 DD (3%) và Viben C 50 BTN (0.5%), mỗi gốc tưới 2 lít dung dịch thuốc cho mỗi
loại, tưới 2 - 3 lần cách nhau 15 ngày.
3.3. Thối cổ rễ (Fusarium spp.)
Thường xuất hiện vào giữa mùa mưa trên cà phê 1- 2 năm tuổi. Triệu chứng
đầu tiên là cây bị long gốc sau đó cổ rễ bị thối đen. Những cây bị bệnh nhẹ mặc dù
lá còn xanh nhưng một phần cổ rễ đã thối đen. Những cây bị bệnh nặng, lá vàng,
toàn cổ rễ thối đen, nhỏ lại so với thân, phần gỗ bên trong bị khô. Bệnh phát triển
và lây lan rất nhanh, thường những cây vừa chớm vàng thì phần cổ rễ đã thâm đen
hết nên rất khó phát hiện sớm để phòng trừ. Năm 1996-1997 bệnh đã gây hại nặng
trên nhiều vùng trồng cà phê ở Tây Nguyên.
Đa số các vườn bị bệnh thường không trồng cây chắn gió, cây đai rừng
trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Các cây con có hệ thống rễ xấu phát triển kém
hoặc cong rễ dễ bị gió lây làm long gốc tạo vết thương nơi cổ rễ và nấm sẽ xâm
nhập vào gây thối rễ.
Phòng trừ:
- Trồng cây chắn gió tạm thời (2 - 3 hàng cây cà phê trồng một hàng cây chắn
gió) trong các vườn từ 1 - 3 năm tuổi
- Nhổ và đốt các cây bệnh nặng
- Đối với các cây bị thối cổ rễ nhẹ (cây xanh, long gốc) dùng Viben C 50 BTN
(0,5%), Bendazol 50WP (0.5%), tưới 2 lít dung dịch/gốc, 2 - 3 lần cách nhau 15 ngày.
PHẦN 4
CÁC LOẠI SÂU HẠI
4.1. Các loại rệp hại thân, lá, quả
- Rệp vẩy xanh ( Coccus viridis )
- Rệp vẩy nâu ( Sassetia hemisphaerica )
- Rệp sáp hại quả (Pseudococus sp )
- Rệp sáp hai đuôi(Pseudococus sp)
14