Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động ở công ty gạch ốp lát hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động ở công ty gạch ốp lát hà nội": http://123doc.vn/document/1055366-mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-to-chuc-su-dung-von-luu-dong-o-cong-ty-gach-op-lat-ha-noi.htm


Chơng I
Vốn lu động và một số biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lu động của doanh nghiệp
I. Vốn lu động và nguốn vốn lu động của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trờng
1. Vốn lu động của doanh nghiệp
1.1. Vốn lu động, nội dung vốn lu động của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có 3 yếu tố :
t liệu lao động (TLLĐ), đối tợng lao động (ĐTLĐ) và sức lao động (SLĐ). Khác
với các TLLĐ, ĐTLĐ (nh nguyên vật liệu, bán thành phẩm ) chỉ tham gia vào
một chu kì sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của
nó đợc chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những ĐTLĐ nói trên, nếu xét về hình thái biểu hiện trong quá trình sản
xuất kinh doanh đợc coi là các TSLĐ. Trong các doanh nghiệp, TSLĐ đợc chia
thành TSLĐ sản xuất và TSLĐ lu thông.
- TSLĐ sản xuất bao gồm các ĐTLĐ nh nguyên nhiên vật liệu và các t
liệu dự trữ cho sản xuất, các sản phẩm dở dang.
- TSLĐ lu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại
vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán.
Đối với doanh nghiệp thơng mại, dịch vụ thuần tuý chỉ có TSLĐ lu thông
không có TSLĐ sản xuất.
5
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lu
thông luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh đợc tiến hành liên tục và thuận lợi.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lu thông, các doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu t ban
đầu nhất định. Số vốn ứng trớc này đợc gọi là vốn lu động(VLĐ) của doanh
nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ của doanh nghiệp luôn vận
động, thay đổi hình thái biểu hiện và trải qua 3 giai đoạn :
Sự vận động của VLĐ qua các giai đoạn đợc mô tả theo sơ đồ sau :
T - H (SX) H
'
- T
'
(đối với các doanh nghiệp sản xuất)
T - H - T

(đối với các doanh nghiệp thơng mại)
Trong đó : T
'
= T + T
Sự vận động của VLĐ trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ hình thái
ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật t hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình
thái tiền tệ gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Quá trình này diễn ra liên tục và lặp đi
lặp lại có tính chất chu kỳ nên còn gọi quá trình chu chuyển của VLĐ. Sau mỗi
chu kỳ sản xuất, VLĐ hoàn thành một vòng luân chuyển.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách th-
ờng xuyên, liên tục nên VLĐ cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu chuyển
vốn và tại mọi thời điểmVLĐ có thể cùng tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau,
cả trong sản xuất và lu thông hàng hoá.
Từ những phân tích ở trên ra có thể rút ra : VLĐ của doanh nghiệp là số
tiền ứng ra để hình thành nên TSLĐ của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thờng xuyên,
liên tục và trong quá trình chu chuyển, giá trị của VLĐ đợc chuyển dịch toàn bộ
một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm.
1.2 Phân loại VLĐ của doanh nghiệp
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phần loại VLĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Có những cách phân loại sau:
6
Dựa vào hình thái biểu hiện, VLĐ đợc chia thành 2 loại :
- Vốn bằng tiền:
Là bộ phận VLĐ không biểu hiện bằng hình thái hiện vật.Vốn bằng tiền
gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản phải thu,
các khoản đầu t chứng khoán ngắn hạn.
- Vốn vật t, hàng hoá:
Là bộ phận VLĐ biểu hiện dới hình thái hiện vật trong doanh nghiệp.
Vốn vật t, hàng hoá bao gồm : nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có cơ sở để tính toán kiểm tra
kết cấu tối u của VLĐ để dự thảo những quyết định tối u về mức tận dụng số
VLĐ đã bỏ ra. Mặt khác, nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng
thanh toán của mình.
Dựa vào vai trò của VLĐ suốt quá trình sản xuất kinh doanh có thể chia
VLĐ thành 3 loại :
- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất :
Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,
động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- VLĐ trong khâu sản xuất :
Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản
chi phí chờ kết chuyển.
- VLĐ trong khâu lu thông :
Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá
quý ); các khoản vốn đầu t ngắn hạn (đầu t chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn ) các khoản thế chấp, ký cợc, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong
thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng ).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét đánh giá tình hình
phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình chu chuyển VLĐ, từ đó đề ra các
biện pháp tổ chức quản lý thích hợp.
7
1.3 Kết cấu VLĐ và các nhân tố ảnh hởng :
1.3.1. Kết cấu VLĐ
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành
phần VLĐ chiếm trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.
Việc phân tích kết cấu VLĐ giúp cho doanh nghiệp thấy đợc tình hình
phân bổ và tỷ trọng của mỗi khoản vốn trong quá trình sản xuất. Từ đó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc thay đổi kết cấu VLĐ
trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy đợc những biến đổi tích cực hay
những hạn chế về mặt chất lợng trong công tác quản lý VLĐ của từng doanh
nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hởng đến kết cấu của VLĐ.
Các nhân tố ảnh hởng đến kết cấu VLĐ của doanh nghiệp có nhiều loại,
có thể chia thành 3 nhóm chính :
- Nhóm nhân tố về mặt sản xuất :
+ Chu kỳ sản phẩm có ảnh hởng rất lớn đến tỷ trọng vốn sản phẩm dở
dang. Nếu chu kỳ sản phẩm càng dài thì lợng vốn ứng ra cho sản phẩm dở dang
càng lớn và ngợc lại.
+ Đặc điểm của quy trình công nghệ và của sản phẩm. Nếu sản phẩm càng
phức tạp thì lợng vốn ứng ra sẽ cao hơn.
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất có ảnh hởng đến sự khác nhau về tỷ trọng
VLĐ bỏ vào khâu dự trữ và khâu sản xuất. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất
đồng bộ, phối hợp đợc khâu cung cấp và sản xuất một cách hợp lý sẽ giảm bớt đ-
ợc một lợng dự trữ vật t sản phẩm dở dang.
- Nhóm nhân tố về mua sắm vật t và tiêu thụ sản phẩm :
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với đơn vị cung ứng vật t, khoảng cách
giữa doanh nghiệp với ngời mua hàng. Khoảng cách càng xa thì việc dự trữ vật t,
thành phẩm càng lớn.
+ Điều kiện và phơng tiện giao thông vận tải cũng có sự ảnh hởng đến vốn
vật t, thành phẩm dự trữ. Nếu nh thuận lợi thì dự trữ ít và ngợc lại.
8
+ Khả năng cung cấp của thị trờng : Nếu là loại vật t khan hiếm thì cần
phải dự trữ nhiều và ngợc lại.
+ Hợp đồng cung cấp hoặc hợp đồng về tiêu thụ sản phẩm : Tuỳ thuộc vào
kỳ hạn cung cấp và giao hàng, số lợng vật t nhập và xuất, nếu việc cung cấp th-
ờng xuyên thì dự trữ ít hơn.
- Nhóm nhân tố về mặt thanh toán :
+ Phơng thức thanh toán hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì sẽ làm
giảm tỷ trọng vốn phải thu.
+ Tình hình quản lý khoản phải thu của doanh nghiệp và việc chấp hành
kỷ luật thanh toán của khách hàng sẽ ảnh hởng đến vốn phải thu. Nếu vốn phải
thu lớn thì khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp sẽ khó khăn dẫn đến tình
trạng khả năng trả nợ của doanh nghiệp sẽ kém.
Ngoài các nhân tố kể trên, kết cấu VLĐ còn chịu ảnh hởng bởi tính chất
thời vụ của sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
2. Nguốn vốn lu động của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh VCĐ, doanh
nghiệp cần phải có một lợng VLĐ thờng xuyên cần thiết. VLĐ đợc hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau. Sau đây là một số nguồn chủ yếu.
2.1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách này ngời ta chia VLĐ thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu :
Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt, bao gồm: Vốn điều lệ do
chủ sở hữu đầu t, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,
vốn do Nhà nớc tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở hữu đợc xác định là phần vốn còn
lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả :
9
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp
có quyền sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của doanh nghiệp
thờng bao gồm 2 bộ phận: Nợ chiếm dụng ( các khoản vốn trong thanh toán mà
doanh nghiệp đợc sử dụng một cách hợp pháp khi cha tới kỳ hạn) và nợ tín dụng
( các khoản vốn vay từ các chủ thể khác nh : ngân hàng, các tổ chức tài chính-
tín dụng, các doanh nghiệp khác).
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý VLĐ một
cách chặt chẽ. Từ đó xác địnhh đợc đâu là nguồn VLĐ phải trả lãi từ đó có kế
hoạch sử dụng VLĐ một cách có hiệu quả.
2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành VLĐ
- Nguồn vốn điều lệ : Phản ánh số vốn do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp bỏ ra, gồm có : Vốn NS cấp (với DNNN); vốn cổ phần, vốn do chủ doanh
nghiệp bỏ ra
- Nguồn vốn tự bổ sung : Phản ánh số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung,
chủ yếu từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết : Là số VLĐ đợc hình thành từ vốn góp
liên doanh của bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể
bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật t, hàng hoá.
- Nguồn vốn tín dụng : Là số vốn vay của các ngân hàng thơng mại hoặc
các tổ chức tín dụng, vay bằng việc phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn chiếm dụng : Phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng
một cách hợp pháp của các chủ thể khác trong nền kinh tế, phát sinh trong quan
hệ thanh toán nh phải trả cho ngời bán, phải nộp ngân sách Đây là nguồn vốn
doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng mà không phải trả chi phí sử dụng vốn. Do
đó, doanh nghiệp nên tận dụng tối đa nguồn vốn này.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu nguồn tài trợ
cho nhu cầu VLĐ. Từ đó lựa chọn cơ cấu nguồn tài trợ tối u nhằm giảm thấp chi
phí sử dụng vốn.
2.3. Căn cứ theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn
- Nguồn vốn lu động thờng xuyên :
10
Là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên TSLĐ thờng
xuyên cần thiết. TSLĐ thờng xuyên này bao gồm các khoản dự trữ về nguyên vật
liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Nguồn VLĐ thờng xuyên càng lớn doanh
nghiệp càng chủ động trong tổ chức, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp.
- Nguồn VLĐ tạm thời :
Là nguồn có tính chất ngắn hạn dới 01 năm, chủ yếu nhằm đáp ứng các
nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm khoản nợ vay ngắn hạn ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp quản lý xem xét hoạt động của
các nguồn VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ
chức và sử dụng VLĐ. Ngoài ra, nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch
tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn VLĐ trong tơng lai.
Trên cơ sở đó xác định quy mô, số lợng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn VLĐ
nào mang hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
Mỗi cách phân loại vốn nêu trên có những u và nhợc điểm riêng, do vậy
ngời quản lý phải thận trọng suy xét trớc khi lựa chọn hình thức huy động sao
cho chi phí sử dụng vốn thấp nhất, khả năng rủi ro nhỏ nhất và hiệu quả kinh tế
mang lại là lớn nhất. Từ việc nghiên cứu các phơng pháp phân loại vốn lu động:
các doanh nghiệp hiện nay một mặt cần tăng cờng quản lý và sử dụng có hiệu
quả vốn hiện có, mặt khác cần phải chủ động tổ chức khai thác các nguồn vốn
đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lu
động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1. ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng VLĐ trong
doanh nghiệp.
11
Điểm xuất phát của quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
là phải có một lợng vốn nhất định và nguồn tài trợ tơng ứng, không có vốn sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng vốn nh
thế nào cho có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trởng và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công tác
quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý VLĐ không những đảm bảo sử dụng
VLĐ hợp lý tiết kiệm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí bảo quản, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời. Vì vậy, kết quả hoạt động của
doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn là do chất lợng quản lý VLĐ quyết định.
Trớc đây, trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp quốc doanh đợc Nhà n-
ớc bao cấp vốn hoặc cho vay với lãi suất u đãi, bao cấp về giá, sản xuất kinh
doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, lỗ đã có Nhà nớc bù, lãi Nhà nớc thu Do đó,
công tác quản lý sử dụng vốn trong các doanh nghiệp quốc doanh không đợc
quan tâm đúng mức, vai trò của vốn bị xem nhẹ, vì vậy hiệu quả sử dụng vốn
thấp.
Từ sau Đại hội Đảng Việt Nam Khoá VI, Đảng và Nhà nớc ta đã khẳng
định nền kinh tế nớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh
tế thị trờng với đa thành phần kinh tế tham gia có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc
theo định hớng XHCN.
Doanh nghiệp Nhà nớc trong cơ chế thị trờng là đơn vị hạch toán kinh
doanh độc lập, nơi trực tiếp sử dụng và khai thác mọi khả năng để sản xuất kinh
doanh hàng hoá sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã
hội và tích luỹ cho nền kinh tế. Kinh tế thị trờng đã đem lại sự đa dạng hoá về
loại hình sản phẩm, sự phong phú về loại hình doanh nghiệp Cùng với nó là sự
cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp nào không đủ khả năng cạnh tranh sẽ phải rút
lui, phải phá sản. Với tình hình nh vậy, đòi hỏi mỗi đồng vốn tạo ra đều phải
sinh lợi. Ngoài VCĐ, việc nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ sẽ mang
lại hiệu quả cho doanh nghiệp, điều đó xuất phát từ những lý do sau :
12
Một là : Xuất phát từ vai trò vị trí của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh
doanh. VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh. Do đó, việc nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ cũng sẽ làm hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh tăng lên.
Doanh nghiệp nào thiếu vốn thì việc chuyển hoá hình thái sẽ gặp nhiều khó
khăn, VLĐ cũng không luân chuyển và quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn. Sự
vận động của VLĐ phản ánh sự vận động của vật t hàng hoá, số VLĐ nhiều hay
ít phản ánh số vốn dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. VLĐ luân chuyển nhanh hay
chậm phản ánh số lợng vật t sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm trên
các giai đoạn luận chuyển có hợp lý hay không. Từ đó có thể kiểm tra một cách
toàn diện đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Mặt khác, với vai trò là vốn luân chuyển, vốn luân chuyển giúp tổ
chức tốt quá trình mua hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lu thông. Sử
dụng VLĐ hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các TSCĐ
thuộc VCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển
vốn kinh doanh.Vì vậy, việc quản lý bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
Hai là: Xuất phát từ đặc điểm chu chuyển của VLĐ là luân chuyển nhanh
cho phép sử dụng linh hoạt trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó tạo ra
nhiều khối lợng sản phẩm lớn cho các doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn phụ thuộc vào công tác quản
lý và sử dụng VLĐ. Việc tăng cờng quản lý, thực hiện bảo toàn nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ đảm bảo cho các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dới nhiều
hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất đợc liên tục thì doanh
nghiệp phải có đủ vốn đầu t vào lĩnh vực đó khiến các hình thái có đợc mức độ
hợp lý tối u và đồng bộ với nhau khiến việc chuyển hoá hình thái vốn trong quá
trình luân chuyển đợc thuận lợi.
Ba là: Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
13
Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lợng phản ánh trờng hợp những cố
gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật đảm bảo với số vốn hiện có, bằng
các biện pháp quản lý và trờng hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn có để
có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý hiệu quả từng đồng VLĐ nhằm làm cho VLĐ đợc thu hồi sau mỗi chu kỳ sản
xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển
của vốn, qua đó vốn đợc thu hồi nhanh hơn có thể giảm bớt đợc số VLĐ cần
thiết mà vẫn hoàn thành đợc khối lợng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn tr-
ớc.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
giảm chi phí sản xuất, chi phí lu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Bốn là: Xuất phát từ yêu cầu bảo toàn VLĐ đối với hoạt động sản suất
kinh doanh.
Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu đợc lợi
nhuận và lợi ích xã hội chung, nhng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra
cho doanh nghiệp là cần phải bảo toàn VLĐ. Do đặc điểm VLĐ chu chuyển toàn
bộ một lần vào giá trị sản phẩm và hình thái VLĐ thờng xuyên biến đổi, vì vậy
bảo toàn VLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đợc đủ mua một lợng vật
t, hàng hoá tơng đơng với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên thể hiện ở khả
năng mua sắm vật t cho khâu dự trữ của tổng số lao động nói chung, duy trì khả
năng thanh toán của doanh nghiệp.
Hơn nữa, tăng cờng quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn giúp
cho doanh nghiệp luôn có đợc trình độ sản suất kinh doanh phát triển, trang thiết
bị kỹ thuật đợc cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại sẽ
tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản
phẩm, tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng. Đặc biệt, khai thác đợc
các nguồn vốn, sử dụng tốt nguồn VLĐ nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả
VLĐ trong hoạt động sản suất kinh doanh sẽ giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng nh
việc giảm chi phí về lãi vay.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét