Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp": http://123doc.vn/document/1053317-nghiep-vu-bao-hiem-hang-hoa-xuat-nhap-khau-hang-hoa-van-chuyen-bang-duong-bien-tai-cong-ty-bao-hiem-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-viet-nam-thuc-trang.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5
Trong BHHHXNK rủi ro được bảo hiểm phải là những thiên tai, tai nạn bất ngờ của
biển gây ra hư hại hàng hoá và phương tiện vận chuyển chứ không phải là mọi rủi
ro trên biển. Nhìn chung các rủi ro thông thường được bảo hiểm bao gồm:
+ Tổn thất hoặc nhiễm bẩn xảy ra cho đối tượng được bảo hiểm có thể quy hợp lý
cho
- Cháy, nổ
- Tàu hay sà lan mắc cạn, đắm hay lật úp;
- Đâm va với bất kể vật thể nào bên ngoài không kể nước;
- Dỡ hàng tại một cảng hoặc tại một địa điểm lánh nạn;
- Động đất, núi lửa phun, sét;
+ Tổn thất hoặc nhiễm bẩn xảy ra cho đối tượng được bảo hiểm nguyên nhân do:
- Hy sinh tổn thất chung;
- Ném, (đổ) hàng xuống biển;
- Nước biển sông hồ xâm nhập vào hầm hàng;
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi
đang xếp hàng lên hay dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan;
- Hàng hoá được bảo hiểm bị mất do tàu hoặc phương tiện chở hàng bị mất
tích.
1.1.2.Rủi ro loại trừ
Các rủi ro loại trừ thương bao gồm:
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí được quy cho hành vi xấu cố ý của Người được
bảo hiểm;
- Rò rỉ thông thường hoặc hao hụt trọng lượng hoặc giảm thể tích thông thường,
hoặc biến chất ở đối tượng được bảo hiểm;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí gây ra bởi khuyết tật hoặc tính chất của đối tượng
được bảo hiểm;
- Mất mát, hư hại hay chi phí phát sinh do tàu bè không đủ khả năng đi biển; tàu
bè, phương tiện vận chuyển, container hay toa hàng không thích hợp cho việc
chuyên chở an toàn đối tượng bảo hiểm.
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
Nếu người được bảo hiểm hoặc những người làm công cho họ biết được riêng trạng
thái không đủ khả năng đi biển hoặc trạng thái không thích hợp đó vào thời gian đối
tượng bảo hiểm được xếp vào đối tượng như vậy;
- Người bảo hiểm miễn bãi mọi vi phạm về những đoan kết ngầm định về tàu đủ
khả năng đi biển và thích hợp cho việc chuyên chở đối tượng được bảo hiểm tới
điểm đến, trừ khi Người được bảo hiểm hay người làm công cho họ được biết riêng
về tình trạng không đủ khả năng đi biển hay tình trạng không thích hợp đó;
- Mất mát, hư hại gây ra bởi chậm trễ ngay cả khi chậm trễ xảy ra do một rủi ro
được bảo hiểm;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ tình trạng không trả được nợ hoặc
thiếu vốn về tài chính ở người chủ, người quản lý, người thuê tàu;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ việc sử dụng bất cứ một loại vũ khí
chiến tranh gì dùng tới phản ứng hạt nhân hoặc đốt nóng hạt nhân hoặc nguyên tử
hoặc phản ứng khác tương tự hoặc năng lượng hoặc chất phóng xạ;
- Chiến tranh, đình công…
1.1.3.Rủi ro đặc biệt
Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: Rủi ro do chiến tranh, đình
công, bạo loạn…(gọi chung là rủi ro chiến tranh) thường không được nhận bảo
hiểm. Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểm
kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện chủ hàng phải trả thêm
phụ phí
1.2 Tổn thất và chi phí trong BHHHXNKVCBĐB
1.2.1.Các loại tổn thất
Tổn thất trong BHHHXNKVCBĐB là những thiệt hại, hư hỏng của hàng hoá
được bảo hiểm do rủi ro:
 Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có thể chia ra tổn thất bộ phận
(TTBP) và tổn thất toàn bộ (TTTB)
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7
- TTBP là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm
(HĐBH) bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại. TTBP có thể là tổn thất về số lượng, trọng
lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị.
Ví dụ: Xi măng bị mất 4 bao (400)kg, gạo bị ướt giảm giá trị thương mại 40%, chất
lỏng xăng dầu rò rỉ, bay hơi…
- TTTB là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng,
mất mát, thiệt hại.
Có hai loại TTTB là TTTB ước tính và TTTB thực tế.
+ TTTB thực tế là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư
hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới được
bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa. Chỉ có “TTTB thực tế”
trong bốn trường hợp sau:
o Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn;
o Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được;
o Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm;
o Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích.
Ví dụ: Một tàu chở cà phê xuất khẩu từ Hải Phòng sang Nhật Bản. Trên hành
trình, tàu gặp bão lớn. Cà phê bị ướt và vón cục. Nếu tiếp tục chở đến Nhật Bản thì
cà phê sẽ bị hỏng toàn bộ (không còn giá trị thương mại). Trong trường hợp này,
khi hàng đến Nhật Bản thì TTTB là không thể tránh khỏi.
+ TTTB ước tính là trượng hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mất
mát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTB thực tế; hoặc
nếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơn
GTBH.
Ví dụ: Một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bão. Nếu tiến
hành trục vớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của lô
hàng.
 Nếu phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thất
riêng (TTR) và tổn thất chung (TTC)
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
- TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi của
các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu. Như vậy TTR chỉ liên quan đến từng
quyền lợi riêng biệt. Trong TTR, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phí
liên quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất
chi phí riêng
Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt hư hại
hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay thế
bao bì…ở bến khởi hành và dọc đường. Có tổn thất chi phí riêng sẽ làm hạn chế và
giảm bớt TTR.
TTR có thể là TTBP hoặc là TTTB .
- TTC là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý
và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy
hiểm chung, thực sụ đối với chúng.
Theo quy tắc York Antwerp 1994, có hành động TTC khi và chỉ khi có sự
hy sinh hoặc chi phí bất thường được tiến hành một cách cố ý và hợp lý vì an toàn
chung nhằm cứu các tài sản khỏi một tai hoạ trong một hành trình chung trên biển.
Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặc trưng
sau:
- Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những người
trên tàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng;
- Hy sinh, hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường;
- Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả các
quyền lợi trong hành trình;
- Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế.
- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động
tổn thất chung;
- TTC phải xảy ra trên biển
TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh TTC và chi phí TTC.
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9
+ Hy sinh TTC là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp của một
hành động TTC. Ví dụ, việc vứt bỏ bớt hàng vì lý do an toàn của tàu, đốt vật phẩm
trên tàu để thay nhiên liệu…
+ Chi phi TTC là những chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc cứu tàu
và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục cuộc hành trình
Chi phí TTC bao gồm chi phí cứu nạn; chi phí làm nổi tàu khi đã bị mắc cạn,
chi phí thuê kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn; chi phí tại cảng lánh nạn như: Chi phí ra vào
cảng, chi phí xếp dỡ, nhiên liệu… vì an toàn chung hoặc để sửa chữa tạm thợi; chi
phí tái xếp hàng, lưu kho hàng hoá; tiền lương cho thuyền trưởng, thuyền viên;
lương thực, thực phẩm, nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn
TTC và TTR có những điểm khác nhau: TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên trong khi
TTC là cố tình cố ý. TTR chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cá biệt, vì vậy TTR của
người nào thì người đó phải chịu mà không có sự đóng góp của các bên như TTC.
TTR có thể xảy ra trên biển hoặc bất kỳ địa điểm nào khác trong khi TTC chỉ xảy ra
trên biển. Đặc biệt TTR có thuộc trách nhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm hay
không là tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm trong khi với mọi điều kiện bảo hiểm ,
công ty bảo hiểm đều chịu trách nhiệm bồi thường về mức đóng góp TTC của chủ
hàng
1.2.2. Một chi phí được bảo hiểm
Ngoài chi phí TTC, chi phí TTR trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển người ta còn bảo hiểm cho một số loại chi phí sau đây:
 Chi phí đề phòng hạn chế tổn thất:
Người được bảo hiểm luôn phải có nghĩa vụ bảo vệ hàng hoá trong quá trình
vận chuyển và có quyền được bên bảo hiểm hoàn trả mọi chi phí liên quan đến
nghĩa vụ ấy ngay cả khi chi phí này vượt quá giá trị hàng hoá được bảo hiểm. Đó là
điều khoản đề phòng hạn chế tổn thất được coi là hợp đồng bổ sung cho HĐBH gốc
(theo MIA 1906 - điều 78) và cũng do chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất được
hiểu là có thể bồi thường và hạn chế tổn thất nên cũng bồi thường thêm chi phí này
khi tiến hành bồi thường cho TTTB
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10
 Chi phí gửi hàng tiếp:
ICC 1982 có “điều khoản chi phí gửi hàng” nêu rõ: Nếu do hậu quả xử lý
một rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm mà việc vận chuyển như đã bảo hiểm lại phải
kết thúc tại một cảng hoặc một nơi không phải nơi nhận có tên ghi trong HĐBH thì
người bảo hiểm sẽ hoàn trả cho người được bảo hiểm mọi khoản chi phí tăng thêm
phải chi ra một cách hợp lý và thoả đáng để dỡ hàng, lưu kho và gửi hàng tới nơi
nhận thuộc phạm vi bảo hiểm này.
 Chi phí đặc biệt
+ Chi phí chứng minh tổn thất:
Là chi phí cho việc giám định hoặc chứng nhận tổn thất, hơn nữa chi phí đặc
biệt còn bao gồm những chi phi không định trước được cho việc chứng nhận hoặc
giám định. Như vậy, chi phí đặc biệt không được tính thêm vào TTR khi so sánh
TTR vời tiền miễn đền. Người bảo hiểm chỉ thanh toán chi phí ngoại lệ, khi hư
hỏng mất mát được bồi thường theo đơn bảo hiểm. Mặt khác không phải bất cứ chi
phí nào do người được bảo hiểm chi đều được bồi thường, đối với chi phí đặc
biệtchỉ là chi pí trực tiếp liên quan đến việc xác định và chứng minh tổn thất.
+ Chi phí tái chế phát sinh tại cảng đích
Khi hàng tới cảng đích trong tình trạng bị tổn thất, có thể phải tiến hành các
biện pháp ngăn chặn việc hàng bị hư hỏng thêm. Chi phí phát sinh liên quan đến
các bộ phận như chi phí tách riêng phần hàng hoá bị tổn thất, khôi phục hàng
nguyên, chi phí tẩy rửa nước biển hoặc nước ngọt hoặc làm khô hàng, chi phí riêng
cho việc lưu kho, di chuyển hàng vì mục đích tái chế… đều được người bảo hiểm
bồi thường bổ sung vào TTR nhưng cũng chỉ trong phạm vi STBH.
1.3. Trách nhiệm của các bên có liên quan trong BHHHXNKVCBĐB
Hoạt động XNKHH thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
Hợp đồng mua bán;
Hợp đồng vận chuyển;
HĐBH;
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
Ba loại hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên có
liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện thương mại quốc tế
“INCOTERMS 2000” ( International Commercial terms) có 13 loại điều kiện giao
hàng, được phân chia thành 4 nhóm E, F, C, D như sau:
Nhóm E: EXW (ex – work) giao hàng tại cơ sở của người bán
Nhóm F (Free carrier) cước vận chuyển chưa trả gồm:
+ FCA (Free carrier) giao hàng cho người vận tải;
+ FOB (Free on board) giao hàng lên tàu;
+FAS (Free alongside ship) giao hàng dọc mạn tàu;
Nhóm C: Cước vận chuyển đã trả bao gồm:
+CFR (Cost and freight) tiền hàng và cước phí;
+CIF ( Cost insurance freight) tiền hàng, phí bảo hiểm, cước phí;
CPT (Carriage paid to…) cước trả tới;
+CIP (Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới.
Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua, bao
gồm
+ DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới;
+ DES (Delivered ex - ship) giao hàng tại tàu;
+ DEQ ( Delivered ex – quay) giao hàng tại cầu cảng;
+ DDU (Delivered duty unpaid) giao hàng tại đích, chưa nộp thuế;
+ DDP (Delivered duty paid) giao hàng tại đích, đã nộp thuế
Trong đó thông dụng nhất là điêu kiện FOB, điều kiện CFR và điều kiện CIF.
Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện
cụ thể mà có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Có những điều kiện giao
hàng mà người bán không có trách nhiệm thuê phương tiện vận chuyển và mua bảo
hiểm cho hàng (hoặc không có trách nhiệm mua bảo hiểm ). Như vậy tuy bán được
hàng nhưng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiện
FOB). Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hàng
hoá, người bán còn có trách nhiệm thuê phương tiện vận chuyển và mua bảo hiểm
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12
cho hàng. Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận
chuyển, bảo hiểm… khi giao hàng theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán
hàng còn giành cho họ dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó. Vì vậy, nếu
nhập khẩu hàng theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận
chuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm. Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán
hàng theo giá CIF , người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm. Như
vậy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành vận chuyển và bảo hiểm ở quốc
gia đó.
Nói chung, trách nhiệm các bên có liên quan được phân định như sau:
Người bán (người xuất khẩu): Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số lượng,
chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng, sân bay, bến
xe; thủ tục hải quan, kiểm dịch…
Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá , sau
đó ký hậu và0 đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua.
Người mua (người nhập khẩu): Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyên chở
theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng mua
bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ
phương tiện, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên(nếu có)
Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán, nhưng đúng với
hợp đồng vận chuyển thì người mua căn cứ vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên
mà khiếu nại người vận chuyển.
Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc
nhận từ người bán chuyển nhượng lại.
Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêu cầu
kĩ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp
đồng vận chuyển. Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàng cũng phải được
bảo hiểm. Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng.
Vận đơn (Bill of lading) là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vận
chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13
chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng. Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đây
cần quan tâm đến vận đơn hoàn hảo( clean B/L) và vận đơn không hoàn hảo(unlean B/L).
Người bảo hiểm: có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm. Chẳng hạn, kiểm
tra chứng từ về hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thân phương tiện vận
chuyển…
Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm , người bảo hiểm có
trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họ
gây ra tổn thất này.
1.4 Điều kiện bảo hiểm
Điều kiện bảo hiểm là những quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo
hiểm đối với tổn thất của hàng hoá. Hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm
nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường.
Ngày 01/01/1963 ILU (Institute of London Underwriters) - Vịên những
người bảo hiểm Luân Đôn đã xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA, WA
và AR. Các điều kiện bảo hiểm này được áp dụng rộng rãi trong hoạt động thương
mại quốc tế
1.4.1 Nội dung cơ bản của ICC 01/01/1963
a) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng (FPA – Free from Particular
Average)
Theo điệu kiện bảo hiểm FPA, trách nhiệm bảo hiểm bao gồm:
- TTTB do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánh
nạn thuộc TTR
- TTTB vì thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánh
nạn do rủi ro chính đem lại,
- Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải.
- Bồi thường các chi phí sau:
+ Chi phí đóng góp tổn thất chung;
+ Chi phí cứu nạn;
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
+ Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do người thứ
ba không phải là người được bảo hiểm hay người làm công của họ gây nên;
+ Chi phí giám định tổn thất nếu tổn thất này do rủi ro được bảo hiểm gây ra;
+ Chi phí tố tụng khiếu nại.
Để đảm bảo an toàn tài chính tối đa, tuỳ theo tính chất của hàng hoá, người
mua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm FPA còn có thể tham gia bảo hiểm các rủi ro
phụ: Rách vỡ, chảy, cong, hở, hẹp, bẹp, cẩu móc, hấp hơi, lây bẩn, nước mưa, nước
biển, han rỉ,…
Ngoài ra, chủ hàng có trách nhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi ro được
bảo hiểm.
b) Điều kiện bảo hiểm TTR (WA – With Particular Average)
Theo điều kiện bảo hiểm TTR, công ty bảo hiểm không những chịu trách
nhiệm về các rủi ro tổn thất và chi phí của điều kiện bảo hiểm FPA mà còn mở rộng
thêm TTBP vì thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra không giới hạn trong bốn rủi ro chính
và khi dỡ hàng tại cảng lánh nạn.
Công ty bảo hiểm đề ra mức miễn thường và giải quyết theo các nguyên
tắc sau:
- Không đề cập mức miễn thường tổn thất do rủi ro chính, rủi ro chiến
tranh, đình công và các rủi ro phụ do con người gây ra.
- Không cộng các chi phí để đạt mức miễn thường, chỉ tính tổn thất thực tế.
- Được tính các tổn thất liên tiếp xảy ra để đạt được mức miễn thường.
- Mỗi sà lan được coi là một con tàu để tính mức miễn thường.
- Người được bảo hiểm có quyền chọn cách tính mức miễn thường có lợi
nhất cho mình để được bồi thường nhiều hơn.
Như vậy, so với điều kiện bảo hiểm FPA thì điều kiện bảo hiểm WA có
phạm vi bảo hiểm rộng hơn và có áp dụng mức miễn thường.
c) Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (AR – All risks)
Phạm vi bảo hiểm của điều kiện bảo hiểm AR ngoài các rủi ro tổn thất và
chi phí của điệu kiện bảo hiểm WA thì còn mở rộng thêm các rủi ro phụ.
Vũ Thị Huyền Bảo hiểm 45B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét