LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng thươơng mại điện tử trên thế giới và một số quốc gia": http://123doc.vn/document/1051311-thuc-trang-thuoong-mai-dien-tu-tren-the-gioi-va-mot-so-quoc-gia.htm
Từ năm 1995, Internet đợc chính thức công nhận là mạng toàn cầu, nó là
mạng của các mạng (the network of the networks) một máy tính có địa chỉ
Internet thoạt tiên đợc nối vào mạng LAN, rồi tới mạng WAN, rồi vào Internet.
Nhờ đó các mạng và các máy tính có địa chỉ Internet có thể giao tiếp với nhau,
truyền gửi cho nhau các thông điệp (gọi là th điện tử: electronic mail, tức e-mail),
và các dữ liệu thuộc hàng trăm ứng dụng khác nhau.
Việc kết nối các mạng nh trên đợc thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn truyền
dẫn dữ liệu trong môi trờng Internet (Internet Standards), chủ yếu là giao thức
chuẩn TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) do Bộ Quốc
phòng Mỹ (DOD: Department Of Defense) khởi thảo và phát triển (nh đã nói ở
trên). Trong đó TCP chịu trách nhiệm đảm bảo việc truyền gửi chính xác dữ liệu
từ ngời sử dụng tới máy chủ (server) ở nút mạng, còn IP có trách nhiệm chuyển
các gói dữ liệu (packet of data) từ nút mạng này sang nút mạng khác theo địa chỉ
Internet.
Khi nói Internet, ta nói tới một phơng tiện liên kết các mạng với nhau trên
phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP. Công nghệ Internet
thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế
HTML (HyperText Transfer Protocol: Giao thức chuẩn truyền siêu văn bản) với
các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ HTML (HyberText Markup Language),
tạo ra nhiều dịch vụ khác nhau, mà tới nay nổi bật nhất là dịch vụ Word Wide
Web ra đời năm 1991 (thờng gọi tắt là Web, và viết tắt là WWW hoặc W3) là
công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyberlink, hybertext) tạo ra các văn
bản có chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác, cho phép ngời sử dụng tự
động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu kia, bằng cách đó
mà truy cập các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau và dới các hình thái khác
nhau (văn bản, đồ hoạ, âm thanh), vừa phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về
hình thức. Bằng dịch vụ Web, ngời sử dụng đọc đợc các thông tin viết bằng ngôn
ngữ HTML, và truyền từ nơi này sang nơi khác trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế
FTP (File Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tệp), POP (Post office
Protocol: giao thức chuẩn truyền thông điệp đơn giản), NNTP (Net News Transfer
Protocol: giao thức chuẩn truyền tin qua mạng; cho phép những ngời sử dụng
mạng thảo luận xung quanh một hoặc nhiều vấn đề cùng quan tâm).
Web giống nh một th viện khổng lồ có nhiều triệu cuốn sách, hay nh một
cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang (gọi là trang web- Web
page) chứa một gói thông tin có nội dung nhất định: một trang quảng cáo, một bài
-5-
Khoá luận tốt nghiệp
viết v.v. mà số trang không ngừng tăng lên, và không theo một trật tự nào cả. Tính
phức tạp và hỗn độn đó của Web dẫn tới việc nghiên cứu và cho ra đời các phần
mềm công cụ tìm kiếm (search engine) chỉ dẫn ngời sử dụng tìm ra địa chỉ của
thông tin theo chủ đề trong biển thông tin mênh mông của Web. Các trình
duyệt Web đợc dùng phổ biến nhất hiện nay là Netscape Navigator (chiếm trên
50% thị trờng), Microsoft Internet Explorer (chiếm gần 23% thị trờng), và
American Online (AOL: chiếm trên 16% thị trờng).
Ngày nay, do công nghệ Internet đợc áp dụng rộng rãi vào việc xây dựng các
mạng nội bộ và mạng ngoại bộ, nên ngày nay ngời ta càng hiểu mạng nội bộ và
mạng ngoại bộ là các phân mạng (subnet) của Internet. Và sau này, khi đã chấp
nhận Internet nh một công cụ giao tiếp chung, ta sẽ hiểu Internet nh bao gồm cả
các phân mạng ấy. Internet ra đời và phát triển đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình toàn cầu hoá.
Internet với tới mọi nơi trên thế giới, nên nó mang ý nghĩa toàn cầu rõ rệt.
Các xu hớng hội tụ (convergence), tơng tác (interactivity), và di động (mobility)
đợc thúc đẩy mạnh mẽ sẽ làm thay đổi một cách căn bản tính chất và phẩm chất
hoạt động của từng ngời, quan hệ ngời-với-ngời, ngời-với-vật thể trong những
năm sắp tới. Khái niệm nền kinh tế trực tuyến (Online Economy, cũng gọi nền
kinh tế tại tuyến) trong từng quốc gia, từng khu vực, và toàn thế giới ngày nay
gắn liền với Internet. Gọi là trực tuyến (hay tại tuyến) vì tất cả các tế bào xã
hội, con ngời cũng nh phơng tiện sản xuất và sản phẩm hàng hoá đều có thể liên
lạc trực tiếp với nhau, và liên tục thông qua Internet với thời gian liên lạc gần nh
bằng không, không cần đến giấy tờ, càng không cần đối mặt trực thể. Mọi thông
tin giao tiếp đều thông qua Internet/Web, và các phơng tiện truyền thông hiện đại
khác. Vì thế, kinh tế trực tuyến còn có các tên gọi khác là kinh tế ảo (virtual
economy), kinh tế điều khiển (cybereconomy).
Internet tạo ra bớc chuyển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới
một mạng, một dịch vụ sang thế giới một mạng, nhiều dịch vụ và đã trở thành
công cụ quan trọng nhất của thơng mại điện tử. Dù rằng không dùng
Internet/Web vẫn có thể làm thơng mại điện tử (qua các phơng tiện điện tử khác,
qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ). Song ngày nay, nói tới thơng mại điện
tử thờng có nghĩa là nói tới Internet và Web, vì thơng mại đã và đang trong quá
trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, và các xu hớng ấy đều đòi hỏi phải sử dụng
triệt để Internet và Web nh các phơng tiện đã đợc quốc tế hoá cao độ và có hiệu
quả sử dụng cao.
-6-
Khoá luận tốt nghiệp
4. Các hình thức hoạt động thơng mại điện tử.
- Th tín điện tử:
Các đối tác (ngời tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm
th điện tử để gửi th cho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng, gọi là th tín
điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin dới dạng phi
cấu trúc (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc
đã thoả thuận (là điều khác với trao đổi dữ liệu điện tử sẽ nói dới đây).
- Thanh toán điện tử:
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua
thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả l-
ơng bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ
mua hàng, thẻ tín dụng v.v. đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh
toán điện tử.
+ Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange,
gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao
dịch với nhau bằng điện tử.
+ Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt đợc mua từ một nơi phát
hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó đợc chuyển đổi tự do sang các
đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nớc cũng nh
giữa các quốc gia. Tất cả đều đợc thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt
này còn có tên gọi là tiền mặt số hoá (digital cash). Công nghệ đặc thù chuyên
phục vụ mục đích này có tên gọi là mã hoá khoá công khai/bí mật
(Public/Private Key Cryptography). Tiền mặt Internet đợc ngời mua hàng mua
bằng đồng nội tệ, rồi dùng Internet để chuyển cho ngời bán hàng.
+ Túi tiền điện tử (electronic purse; còn gọi tắt là ví điện tử) nói đơn giản
là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ khôn minh (smart card, còn có tên
gọi là thẻ giữ tiền: stored value card). Tiền đợc trả cho bất cứ ai đọc đợc thẻ đó.
Kỹ thuật của túi tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật mã hoá khoá công khai/bí
mật tơng tự nh kỹ thuật áp dụng cho tiền mặt Internet.
+ Thẻ khôn minh (smart card, còn gọi là thẻ thông minh) nhìn bề ngoài t-
ơng tự nh thẻ tín dụng, nhng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một chip
máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lu trữ tiền số hoá. Tiền ấy chỉ đợc chi trả
khi ngời sử dụng và thông điệp (ví dụ nh xác nhận thanh toán hoá đơn) đợc xác
thực là đúng.
-7-
Khoá luận tốt nghiệp
+ Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking), và giao dịch chứng khoán
số hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là
một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống: (1) thanh toán giữa ngân hàng với
khách hàng (qua điện thoại, các điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà,
giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín
dụng, vấn tin ), (2) thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà
hàng, siêu thị ), (3) thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng, (4) thanh
toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
- Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc
trao đổi các dữ liệu dới dạng có cấu trúc (structured form) từ máy tính điện tử
này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn
bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của
con ngời (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trớc
khuôn dạng cấu trúc của các thông tin).
EDI này càng đợc sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, chủ yếu phục vụ
cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu, hoá đơn
v.v.), nhng cũng dùng cho cả các mục đích khác nữa nh thanh toán tiền khám
bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v. EDI chủ yếu đợc thực hiện thông qua
các mạng ngoại bộ (extranet) và thờng đợc gọi là thơng mại võng mạng (net-
commerce). Cũng có cả hình thức EDI hỗn hợp (Hybrid EDI) dùng cho trờng
hợp chỉ có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia vẫn dùng các phơng thức thông
thờng (nh fax, th tín qua bu điện).
EDI đợc áp dụng từ trớc khi có Internet. Khi ấy, ngời ta dùng mạng giá trị
gia tăng (Value Added Network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau; cốt
lõi của VAN là một hệ thống th tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc
đợc với nhau, và hoạt động nh một phơng tiện lu trữ và tìm gọi. Khi nối vào VAN,
một doanh nghiệp có thể liên lạc đợc với nhiều nghìn máy tính điện tử nằm ở
nhiều trăm thành phố trên khắp thế giới. Nay EDI chủ yếu đợc thực hiện thông
qua Internet.
Thơng mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về bản
chất chính là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp mà đợc thực
hiện giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:
giao dịch kết nối
-8-
Khoá luận tốt nghiệp
đặt hàng
giao dịch gửi hàng (shipping)
thanh toán
Trên bình diện này, nhiều khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn
bán giữa các nớc có chính sách, và luật pháp thơng mại khác nhau về căn bản, đòi
hỏi phải có từ trớc một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự
do hoá thơng mại và tự do hoá việc sử dụng Internet. Chỉ nh vậy mới đảm bảo đợc
tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
- Giao gửi số hoá của các dung liệu: (Dung liệu (content) là các hàng hóa mà
ngời ta cần đến nội dung của nó (chính nội dung là hàng hoá). Các ý kiến t vấn,
vé bán máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm v.v. nay cũng đợc đa
vào danh mục các dung liệu).
Trớc đây dung liệu cũng đợc trao đổi dới dạng hiện vật (physical form) bằng
cách đa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng gói bao bì
chuyển đến tay ngời sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (nh cửa hàng, quầy báo
v.v.) để ngời sử dụng đến mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu đợc số hoá
và truyền gửi theo mạng, gọi là giao gửi số hoá (digital delivery). ở Mỹ hiện
nay 90% dân số dùng Web/ Internet để thu nhận tin tức và thông tin, khoảng
80,5% sử dụng Web/ Internet làm công cụ phục vụ cho nghiên cứu.
Các tờ báo, các t liệu công ty, cataloge sản phẩm lần lợt đợc đa lên Web (gọi
chung là xuất bản điện tử). Các chơng trình phát thanh, truyền hình, giáo dục,
ca nhạc, kể truyện v.v đợc số hoá, truyền qua Internet để ngời tiêu thụ sử dụng
thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử (hoặc của sách
điện tử chuyên dụng). Các chơng trình phần mềm đợc chuyển qua mạng, rồi đợc
ngời sử dụng tải xuống (download). Đặt chỗ trên máy bay, rạp hát qua Internet
(gọi là vé điện tử: electronic ticket) ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng tới 70%. Ngời tiêu
thụ dùng Internet để liên lạc trực tuyến với các cơ quan tín dụng ngân hàng để
biết các thông tin về bảo hiểm và số liệu phút chót về tài chính của mình (tiền tiết
kiệm, tiền gửi, tiền sắp phải trả v.v.).
Trên giác độ kinh tế thơng mại, các loại thông tin kinh tế và kinh doanh trên
Internet đều có ở mức phong phú, và một nhiệm vụ quan trọng của công tác thông
tin ngày nay là khai thác Web và phân tích tổng hợp.
-9-
Khoá luận tốt nghiệp
- Bán lẻ hàng hoá hữu hình:
Cho tới năm 1994-1995, hình thức bán hàng này còn cha phát triển, ngay ở
Mỹ cũng chỉ có vài cửa hàng có mặt trên Internet, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ
chơi, thiết bị tin học, sách, rợu. Nay, danh sách các hàng hoá bán lẻ qua mạng đã
mở rộng ra, từ hoa tới quần áo, ôtô và xuất hiện hẳn một loại hoạt động gọi là
mua hàng điện tử (electronic shopping), hay mua hàng trên mạng. ở một số
nớc Internet đã bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hoá hữu hình
(Retail of tangible goods). Tận dụng tính đa năng phơng tiện (multimedia) của
môi trờng Web và Java, ngời bán hàng xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo
(virtual shop) để thực hiện việc bán hàng. Ngời sử dụng Internet/Web tìm trang
Web của cửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua hàng, và
trả tiền bằng thanh toán điện tử. Lúc đầu, việc mua bán nh vậy còn ở dạng sơ
khai: ngời mua chọn hàng rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay
trên Web. Nhng có trờng hợp muốn lựa chọn giữa nhiều hàng hoá ở các trang
Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hoá miêu tả nằm ở một trang,
đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái. Để khắc phục, các
hãng đa ra loại phần mềm mới gọi là xe mua hàng (shopping cart, shopping
trolley), hoặc giỏ mua hàng (shopping basket, shopping bag) mà trên màn hình
cũng có dạng tơng tự nh giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà ngời mua thờng
dùng khi vào cửa hàng, siêu thị. Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theo ngời mua suốt
quá trình chuyển từ trang Web này sang trang Web khác để chọn hàng, khi chọn
đợc món hàng vừa ý, ngời mua ấn phím hãy bỏ vào xe/giỏ (Put into shopping
cart/bag, các xe/giỏ này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cớc vận
chuyển) để thanh toán với khách mua. Nay, các hãng bán hàng đã chuyển sang hệ
thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là thơng điểm điện tử: store-front, hay:
store-building) có tính năng cao hơn, cho phép ngời mua giao tiếp thoải mái hơn
nữa với cửa hàng và hàng hoá v.v. Vì là hàng hoá hữu hình, nên tất yếu sau đó các
cửa hàng phải dùng tới các phơng tiện gửi hàng truyền thống để đa hàng tới tay
khách. Điều quan trọng nhất là: khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home
shopping), mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.
5. Giao dịch thơng mại điện tử.
Giao dịch thơng mại điện tử (electronic commerce transaction), với chữ th-
ơng mại đợc hiểu với đầy đủ các nội dung nh đã ghi trong Đạo luật mẫu về th-
ơng mại điện tử của Liên hiệp quốc, bao gồm bốn kiểu:
- Ngời với ngời: qua điện thoại, máy Fax, và th điện tử (electronic mail)
-10-
Khoá luận tốt nghiệp
- Ngời với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử
(electronic form), qua võng thị toàn cầu (World Wide Web).
- Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI:
electronic data interchange), thẻ khôn minh (smart card), các dữ liệu mã hoá bằng
vạch (barcode data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch)
- Máy tính điện tử với ngời: qua th tín do máy tính tự động sản xuất ra, máy
fax, và th điện tử.
6. Các bên tham gia thơng mại điện tử.
Giao dịch thơng mại điện tử (electronic commerce transaction) diễn ra bên
trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) doanh nghiệp; (2) chính phủ; và (3)
ngời tiêu thụ. Các giao dịch này đợc tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, bao
gồm:
- Giữa các doanh nghiệp với ngời tiêu thụ: mục đích cuối cùng là dẫn tới việc
ngời tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng (home
shopping).
- Giữa các doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán, thanh toán hàng
hoá và dịch vụ, mục đích cuối cùng là đạt đợc hiệu quả cao trong sản xuất và kinh
doanh.
- Giữa các doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích:
(1) mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến (online goverment procurement), (2)
các mục đích quản lý (thuế, hải quan v.v.), (3) thông tin.
-11-
ngời tiêu dùng
chính phủ
chính phủ
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Điện thoại, các biểu mẫu
điện tử, th điện tử, FAX
Điện thoại, th điện tử
FAX, các biểu mẫu điện tử
Điện thoại, FAX,
th điện tử
Điện thoại, các
biểu mẫu điện
tử, th điện tử
EDI, các biểu mẫu
điện tử, thẻ khôn
minh, mã vạch
Điện thoại, các biểu mẫu
điện tử, th điện tử, FAX
Khoá luận tốt nghiệp
- Giữa ngời tiêu thụ với các cơ quan chính phủ: các vấn đề về (1) thuế, (2) dịch
vụ hải quan, phòng dịch v.v., (3) thông tin.
- Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin.
Trong bốn cấp độ giao dịch nói trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau
là dạng chủ yếu của giao dịch thơng mại điện tử, và giao dịch giữa các doanh
nghiệp với nhau chủ yếu dùng phơng thức trao đổi dữ liệu điện tử, tức EDI.
7. Hình thái hợp đồng thơng mại điện tử.
Thơng mại điện tử bao quát cả giao dịch có hợp đồng và giao dịch không có
hợp đồng. Xét riêng về giao dịch có hợp đồng, thì do đặc thù của giao dịch điện
tử, hợp đồng thơng mại điện tử có một số điểm khác biệt so với hợp đồng thông
thờng (hợp đồng ở dạng văn bản):
- Địa chỉ pháp lý của các bên: ngoài địa chỉ địa lý, còn có địa chỉ e-mail, mã
doanh nghiệp.
- Có các quy định về phạm vi thời gian, và phạm vi địa lý của giao dịch.
- Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm hoặc dụng liệu trao đổi,
và quy định trách nhiệm về các sai sót trong văn bản hoặc ảnh chụp.
- Có các xác nhận điện tử (chứng nhận/xác thực: certification/authentication)
các giao dịch (kể cả cơ quan chứng thực) về quyền truy cập và cải chính thông tin
điện tử, và cách thực thi quyền này.
- Có các quy định đảm bảo rằng các giao dịch điện tử đợc coi là chứng cớ
pháp lý về bản chất và ngày tháng giao dịch.
- Có các quy định chi tiết về phơng thức thanh toán điện tử.
- Có quy định về trung gian đảm bảo chất lợng (nhằm bảo vệ quyền lợi của
ngời tiêu dùng).
II. Lợi ích của thơng mại điện tử.
1. Nắm đợc thông tin phong phú.
Thơng mại điện tử (đặc biệt là khi sử dụng Internet/Web) trớc hết giúp cho
các doanh nghiệp nắm đợc thông tin phong phú vè kinh tế-thơng mại (có thể gọi
chung là thông tin thị trờng), nhờ đó có thể xây dựng đợc các chiến lợc sản xuất
và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trờng trong nớc, khu vực, và
thị trờng quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ - động lực phát triển chủ yếu trong các nền kinh tế hiện nay.
-12-
Khoá luận tốt nghiệp
2. Giảm chi phí sản xuất.
Thơng mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trớc hết là chi phí văn phòng.
Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều,
chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần nh
bỏ hẳn). Theo số liệu của hãng Genaral Electricity của Mỹ, tiết kiệm theo hớng
này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực đợc giải
phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đ-
a đến những lợi ích to lớn và lâu dài.
3. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
Thơng mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng
phơng tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch đợc với rất
nhiều khách hàng, ca-ta-lô điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn
nhiều và thờng xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và
luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, nay đã có tới
50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và có nhiều hơn nữa các đơn
đặt hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm đợc 600 cú điện thoại.
4. Giảm chi phí giao dịch.
Thơng mại điện tử qua Internet/Web giúp ngời tiêu thụ và các doanh nghiệp
giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch đợc hiểu là quá trình từ
quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian
giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và chỉ bằng 0,5
phần nghìn thời gian giao dịch qua bu điện. Chi phí giao dịch qua Internet chỉ
bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bu điện chuyển phát nhanh.
Chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10% tới 20% chi phí thanh toán
theo lối thông thờng.
Tốc độ và chi phí truyền gửi
(một bộ tài liệu 40 trang)
* Từ New York tới Tokyo Thời gian Chi phí (USD)
Qua bu điện 5 ngày 7.40
Chuyển phát nhanh 24 giờ 26.25
Qua máy Fax 31 phút 28.83
Qua Internet 2 phút 0.10
* Từ New York tới Los Angeles Thời gian Chi phí (USD)
Qua bu kiện 2-3 ngày 3.00
-13-
Khoá luận tốt nghiệp
Chuyển phát nhanh 24 giờ 15.50
Qua máy Fax 31 phút 9.36
Qua Internet 2 phút 0.10
5. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác.
Thơng mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ
giữa các thành tố tham gia vào quá trình thơng mại. Thông qua mạng (nhất là
dùng Internet/Web) các thành tố tham gia (ngời tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ
quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực
tuyến) gần nh không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa, nhờ đó cả sự hợp
tác lẫn sự quản lý đều đợc tiến hành nhanh chóng và liên tục. Các bạn hàng mới,
các cơ hội kinh doanh mới đợc phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc,
toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.
6. Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá.
Xét trên bình diện quốc gia, trớc mắt thơng mại điện tử sẽ kích thích sự phát
triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai
trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế (ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng khoảng 12-13%
và sẽ lên trên 15% trong tơng lai không xa). Nhìn rộng hơn, thơng mại điện tử tạo
điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu
thế và tầm quan trọng đã đợc đề cập ở trên. Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt
đối với các nớc đang phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế
số hoá, hay còn gọi là nền kinh tế ảo (virtual economy) thì sau khoảng một thập
kỷ nữa các nớc đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này
mang tính tiềm tàng, tính chiến lợc công nghệ và tính chính sách phát triển mà
các nớc cha công nghiệp hoá cần chú ý; vì có những luận điển cho rằng: sớm
chuyển sang kinh tế số hoá thì một nớc đang phát triển có thể tạo ra một bớc nhảy
vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nớc đã đi trớc trong một thời gian ngắn hơn.
III. Các đòi hỏi của thơng mại điện tử.
1. Hạ tầng cơ sở công nghệ.
Thơng mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất
yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trớc hết là kỹ
thuật máy tính điện tử. Vì thế, chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành thơng
-14-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét