LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Giấy Bãi Bằng": http://123doc.vn/document/556543-phan-tich-hieu-qua-su-dung-von-tai-cong-ty-giay-bai-bang.htm
Vốn pháp định là số vốn tối tiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định đối với từng ngành nghề. Đối với doanh nghiệp Nhà nớc,
nguồn vốn này do ngân sách nhà nớc cấp.
* Vốn tự bổ sung:
Thực chất nguồn vốn này là số lợi nhuận cha phân phối ( lợi nhuận lu
giữ ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp nh các quỹ xí nghiệp (quỹ
đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi )
* Vốn chủ sở hữu khác:
Thuộc nguồn này gồm khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, do
chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do đợc ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vị phụ thuộc
nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng xây dựng cơ bản.
1.1.2.1.2. Vốn huy động của doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, vốn
chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng nhng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tăng c-
ờng huy động các nguồn vốn khác dới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát
hành trái phiếu và các hình thức khác.
* Vốn vay.
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân,
đơn vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn.
- Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng rất quan trọng đối với các
doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn
hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng tín
dụng giữa Ngân hàng và Doanh nghiệp,
- Vốn vay trên thị trờng chứng khoán. Tại những nền kinh tế có thị trờng
chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trờng chứng khoán là một hình thức huy
động vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một
Luận văn tốt nghiệp
5
Khoa QTKD - Lớp KTB
công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu
cầu vốn sản xuất kinh doanh. Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có
thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động kinh doanh
của mình.
* Vốn liên doanh liên kết.
Doanh nghiệp có thể kinh doanh, liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp
khác để huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là một
hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên
kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm
đổi mới sản phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có
thể tiếp nhận máy móc, thiết bị nếu hợp đồng liên doanh quy định góp vốn bằng
máy móc thiết bị.
* Vốn tín dụng thơng mại .
Tín dụng thơng mại là các khoản mua chịu từ ngời cung cấp hoặc ứng trớc
của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Tín dụng thơng mại luôn
gắn với một luồng hàng hoá dịch vụ cụ thể, gắn với một quan hệ thanh toán cụ thể
nên nó chịu tác động của cơ chế thanh toán, của chính sách tín dụng khách hàng
mà doanh nghiệp đợc hởng. Đây là phơng thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh
doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách
lâu bền. Tuy nhiên các khoản tín dụng thơng mại thờng có thời hạn ngắn nhng nếu
doanh nghiệp biết quản lý một cách khoa học nó có thể đáp ứng phần nào nhu cầu
vốn lu động cho doanh nghiệp.
* Vốn tín dụng thuê mua .
Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phơng thức giúp
cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có đợc tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động
kinh doanh của mình. Đây là phơng thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa ngời
thuê và ngời cho thuê. Ngời thuê đợc sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho ngời
cho thuê theo thời hạn mà hai bên thoả thuận, ngời cho thuê là ngời sở hữu tài sản.
Luận văn tốt nghiệp
6
Khoa QTKD - Lớp KTB
Tín dụng thuê mua có hai phơng thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và
thuê tài chính:
* Thuê vận hành:
Phơng thức thuê vận hành ( thuê hoạt động ) là một hình thức thuê ngắn
hạn tài sản. Hình thức thuê này có đặc trng chủ yếu sau:
- Thời hạn thuê thờng rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của
tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trớc trong thời gian ngắn.
- Ngời thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thoả thuận, ngời cho thuê phải chịu
mọi chi phí vận hành của tài sản nh chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản, cùng
với mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản.
Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất
thời vụ và nó đem lại cho bên thuê thuận lợi là không cần phải phản ánh tài sản
loại này vào sổ sách kế toán.
* Thuê tài chính:
Thuê tài chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn
theo hợp đồng. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng mua tài sản, thiết bị mà
mà ngời cần thuê và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện mua tài sản từ ngời cho
thuê. Thuê tài chính có hai đặc trng sau:
- Thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn hữu ích của tài
sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi
phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
- Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên thuê, các loại chi phí
bảo dỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng nh các rủi ro khác đối với tài
sản do bên thuê phải chịu cũng tơng tự nh tài sản Công ty.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để
doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành
nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng nh
Luận văn tốt nghiệp
7
Khoa QTKD - Lớp KTB
chiến lợc phát triển và chiến lợc đầu t của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đối với
việc quản lý vốn ở các doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập là hoạt động luân
chuyển của vốn, sự ảnh hởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và
hiệu quả quay vòng vốn. Vốn cần đợc xem xét dới trạng thái động với quan điểm
hiệu quả.
1.1.2.2. Phân loại vốn theo phơng thức chu chuyển.
1.1.2.2.1. Vốn cố định.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định đợc gắn
liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì vậy, việc nghiên
cứu về nguồn vốn cố định trớc hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố định.
* Tài sản cố định.
Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản
xuất, t liệu sản xuất đợc chia thành hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao
động. Đặc điểm cơ bản của t liệu lao động là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù t liệu sản xuất bị hao
mòn nhng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Chỉ khi nào chúng bị
h hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về kinh tế thì khi đó chúng mới bị
thay thế, đổi mới.
Tài sản cố định là những t liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng
dài. Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn
dần và giá trị của nó đợc chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh. Khác với
đối tợng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh và giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến lúc h hỏng.
Theo chế độ quy định hiện hành những t liệu lao động nào đảm bảo đủ hai
điều kiện sau đây sẽ đợc gọi là tài sản cố định:
+ giá trị >= 5.000.000 đồng.
+ thời gian sử dụng >=1 năm.
Luận văn tốt nghiệp
8
Khoa QTKD - Lớp KTB
Để tăng cờng công tác quản lý tài sản cố định cũng nh vốn cố định và
nâng cao hiệu quả sử dụng của chúng cần thiết phải phân loại tài sản cố định.
* Căn cứ vào tính chất tham gia của tài sản cố định trong doanh nghiệp thì tài
sản cố định đợc phân loại thành:
+ Tài sản dùng cho mục đích kinh doanh. Loại này bao gồm tài sản cố định
hữu hình và tài sản cố định vô hình:
- Tài sản cố định hữu hình: là những t liệu lao động chủ yếu đợc biểu hiện
bằng các hình thái vật chất cụ thể nh nhà xởng, máy móc thiết bị, phơng tiện vận
tải, các vật kiến trúc Những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có
kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau
để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử
dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thơng mại
+ Tài sản dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng.
+ Tài sản cố định mà doanh nghiệp bảo quản và cất giữ hộ Nhà nớc.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc vị trí và tầm quan trọng
của tài sản cố định dùng vào mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh và có ph-
ơng hớng đầu t vào tài sản hợp lý.
Căn cứ vào tình hình sử dụng thì tài sản cố định của doanh nghiệp đợc chia
thành các loại sau:
- Tài sản cố định đang sử dụng.
- Tài sản cố định cha cần dùng.
- Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý.
Luận văn tốt nghiệp
9
Khoa QTKD - Lớp KTB
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các tài sản của
doanh nghiệp nh thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng
chúng.
* Vốn cố định của doanh nghiệp.
Việc đầu t thành lập một doanh nghiệp bao gồm việc xây dựng nhà xởng,
nhà làm việc và quản lý, lắp đặt các hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm,
mua sắm các phơng tiện vận tải Khi các công việc đợc hoàn thành và bàn giao
thì doanh nghiệp mới có thể bắt đầu tiến hành sản xuất đợc. Nh vậy vốn đầu t ban
đầu đó đã chuyển thành vốn cố định của doanh nghiệp.
Vậy, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc
về tài sản cố định; đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều
chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn
sử dụng. Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất
kinh doanh. Việc đầu t đúng hớng tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng
suất rất cao trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng
vững trong thị trờng.
1.1.2.2.2. Vốn l u động.
* Tài sản lu động:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh tài sản cố định, doanh
nghiệp luôn có một khối lợng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu của quá
trình sản xuất nh dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân phối, tiêu thụ
sản phẩm, đây chính là tài sản lu động của doanh nghiệp. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản lu động thờng chiếm 50% -70%
tổng giá trị tài sản.
Tài sản lu động chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và là các đối tợng lao động. Đối tợng lao động khi tham gia vào quá
trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu . Bộ phận chủ yếu của
đối tợng lao đông sẽ thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thể của sản phẩm,
Luận văn tốt nghiệp
10
Khoa QTKD - Lớp KTB
bộ phận khác sẽ hao phí mất mát đi trong quá trình sản xuất. Đối tợng lao động
chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất do đó toàn bộ giá trị của chúng đợc dịch
chuyển một lần vào sản phẩm và đợc thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá.
Đối tợng lao động trong các doanh nghiệp đợc chia thành hai thành phần:
một bộ phận là những vật t dự trữ đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc liên tục, một
bộ phận là những vật t đang trong quá trình chế biến (sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm ) cùng với các công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế đợc dự trữ hoặc
sử dụng, chúng tạo thành tài sản lu động nằm trong khâu sản xuất của doanh
nghiệp.
Bên cạnh tài sản lu động nằm trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cũng có
một số tài sản lu động khác nằm trong khâu lu thông, thanh toán đó là các vật t
phục vụ quá trình tiêu thụ, là các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu
Do vậy, trớc khi bớc vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có một lợng
vốn thích đáng để đầu t vào những tài sản ấy, số tiền ứng trớc về tài sản đó đợc gọi
là vốn lu động của doanh nghiệp.
* Vốn lu động:
Vốn lu động luôn đợc chuyển hoá qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu
từ hinh thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật t hàng hoá và lai quay trở về hình thái
tiền tệ ban đầu của nó. Vì quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục cho nên
vốn lu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển
của vốn.
Vậy, vốn lu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trớc về tài sản lu động
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp đợc thực hiện thờng
xuyên, liên tục.
Trong doanh nghiệp việc quản lý tốt vốn lu động có vai trò rất quan
trọng. Một doanh nghiệp đợc đánh giá là quản lý vốn lu động có hiệu quả khi với
một khối lợng vốn không lớn doanh nghiệp biết phân bổ hợp lý trên các giai đoạn
luân chuyển vốn để số vốn lu động đó chuyển biến nhanh từ hình thái này sang
Luận văn tốt nghiệp
11
Khoa QTKD - Lớp KTB
hình thái khác, đáp ứng đợc các nhu cầu phát sinh. Muốn quản lý tốt vốn lu động
các doanh nghiệp trớc hết phải nhận biết đợc các bộ phận cấu thành của vốn lu
động, trên cơ sở đó đề ra đợc các biện pháp quản lý phù hợp với từng loại.
Căn cứ vào vai trò từng loại vốn lu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh vốn lu động bao gồm:
- Vốn lu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua
nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị sản xuất.
- Vốn lu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho
giai đoạn sản xuất nh : sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ
phân bổ.
- Vốn lu động trong khâu lu thông: là bộ phận trực tiếp phục vụ cho giai
đoạn lu thông nh thành phẩm, vốn tiền mặt .
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lu động bao gồm :
- Vốn vật t hàng hoá: là các khoản vốn lu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể nh nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm.
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ nh tiền mặt tồn quỹ, tiền
gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu t ngắn hạn.
1.1.3. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng
cần phải có một lợng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của các doanh nghiêp.
Về mặt pháp lý: mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu
tiên doanh nghiệp đó phải có một lợng vốn nhất định, lợng vốn đó tối thiểu phải
bằng lợng vốn pháp định ( lợng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại
hình doanh nghiệp ) khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới đợc xác lập. Ngợc
lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện đợc. Trờng hợp trong quá
Luận văn tốt nghiệp
12
Khoa QTKD - Lớp KTB
trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp
luật quy định, doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động nh phá sản, giải
thể, sát nhậpNh vậy, vốn có thể đợc xem là một trong những cơ sở quan trọng
nhất để đảm bảo sự tồn tại t cách pháp nhân của một doanh nghiệp trớc pháp luật.
Về kinh tế: trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vốn không
những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ để
phục vụ cho quá trình sản xuất mà mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra thờng xuyên, liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng. Điều này
càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trờng hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng
ngay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu t hiện
đại hoá công nghệ Tất cả những yếu tố này muốn đạt đợc thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lợng vốn đủ lớn.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản suất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh
doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi
đảm bảo vốn của doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị trờng tiêu thụ, nâng cao uy tín
của doanh nghiệp trên thơng trờng.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của vốn nh vậy thì doanh nghiệp mới có
thể sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn:
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp, ngời ta sử dụng thớc đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc đánh giá trên hai giác độ: hiệu quả
Luận văn tốt nghiệp
13
Khoa QTKD - Lớp KTB
kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, ngời ta chủ yếu
quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất với chi phí hợp
lý nhất. Do vậy các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có
tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thờng xuyên và bắt buộc đối
với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy đợc hiệu quả
hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa
nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của vốn chủ
sở hữu.
Hiệu quả sử dụng vốn đợc lợng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn Nó phản ánh quan hệ
giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thớc đo tiền tệ
hay cụ thể là mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra để thực hiên
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu đợc càng cao so với chi phí vốn bỏ ra
thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điêù
kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn
nhàn rỗi mà không sử dụng, không sinh lời.
- Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.
- Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn bị sử dụng
sai mục đích, không để vốn bị thất thoát do buông lỏng quản lý.
Ngoài ra, doanh nghiệp phải thờng xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy
những u điểm của doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng vốn. Có hai phơng pháp
Luận văn tốt nghiệp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét