LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số lý luận cơ bản về đàm phán-ký kết-thực hiện hợp đồng nhập khẩu": http://123doc.vn/document/1054678-mot-so-ly-luan-co-ban-ve-dam-phan-ky-ket-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau.htm
một lúc, một lô hàng người ta có thể chào hàng tự do cho nhiều khách hàng.
Việc khách hàng chấp nhận hoàn toàn các điều kiện của chào hàng tự do
không có nghĩa là hợp đồng được ký kết. Người mua cũng không thể trách cứ
người bán nếu sau đó người bán không ký kết hợp đồng với mình.
*Hoàn giá (Counter-offer)
Hoàn giá là chỉ người nhận báo giá không đồng ý hoặc không hoàn toàn
đồng ý những điều kiện mà ngươì báo giá đưa ra trong báo giá, để thoả thuận
thêm, đưa ra ý kiến sửa đổi đối với báo giá. Hoàn giá có thể dùng hình thức
miệng hoặc hình thức giấy tờ để biểu đạt, thường là phù hợp với phương thức
mà báo giá sử dụng. Hoàn giá có thể nhằm vào giá cả, cũng có thể nhằm vào
các điều kiện quan trọng như chất lượng, số lượng, thời gian, địa điểm giao
hàng, phương thức thanh toán để đưa ra ý kiến sửa đổi.
Hoàn giá là sự từ chối đối với báo giá. Một khi đã đưa ra hoàn giá, báo
giá trước đó lập tức mất hiệu lực, người báo giá không còn bị ràng buộc nữa.
Một hoàn giá cũng giống như việc người nhận báo giá đưa ra một báo gía mới
cho người báo giá. Trong buôn bán quốc tế, mỗi lần giao dịch thường trải qua
nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc. Như vậy hoàn giá bao gồm nhiều sự trả giá.
*Chấp nhận (Acceptance)
Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện mà đối phương
đưa ra, muốn cùng đối phương ký kết giao dịch và biểu thị kịp thời bằng công
bố hoặc việc làm. Về luật pháp, nó được gọi là cam kết. Chấp nhận cũng như
báo giá vừa thuộc hành vi thương mại, vừa thuộc hành vi luật pháp. Kết quả
luật pháp quan trọng của việc ra đời chấp nhận là giao dịch, ký kết hợp đồng.
Nội dung của chấp nhận phải phù hợp với báo giá. Về nguyên tắc, nội
dung của chấp nhận cần hoàn toàn thống nhất với những đIều kiện đưa ra
trong báo gía, mới cho thấy hai bên giao dịch đã đi đến thống nhất ý kiến về
những điều kiện giao dịch có liên quan, tức cái gọi là hợp lý, chấp nhận như
vậy mới có thể dẫn tới thành lập hợp đồng.
Chấp nhận báo giá phát sinh hiệu lực khi thông báo biểu thị đồng ý tới
tay người báo giá. Chấp nhận báo giá được phép thu hồi nếu thông báo thu
hồi tới tay người báo giá trước hoặc đồng thời với thời gian mà chấp nhận
phát sinh hiệu lực.
*Xác nhận (Confirmation)
Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về điều
kiện giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho đối
5
phương. Đó là văn kiện xác nhận. Văn kiện do bên bán gửi thường gọi là giấy
xác nhận bán hàng, do bên mua gửi là giấy xác nhận mua hàng. Xác nhận
thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi cho bên kia.
Bên kia ký xong giữ lại một bản rồi gửi trả lại một bản. Việc xác nhận cũng
có thể thực hiện bằng một văn bản có chữ ký của hai bên, gọi là bản hợp đồng
hoặc là bản thoả thuận (agreement).
3. Các hình thức đàm phán-giao dịch.
3.1 .Đàm phán-giao dịch qua thư tín.
Hiện nay thư từ và điện tín vẫn còn là phương tiện chủ yếu để giao dịch
giữa những người xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thường qua
thư từ. Khi hai bên đã có đIều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì mối quan
hệ cũng phải thông qua thư tín thương mại.
Giao dịch qua thư tín có thể sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn, hơn nữa
cùng một lúc có thể giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau.
Người viết thư tín có điều kiện để cân nhắc suy nghĩ, tranh thủ ý kiến của nhiều
người, và có thể khéo léo dấu ý định thực sự của mình. Với một đối phương
khéo léo già dặn thì việc đoán ý đồ của họ qua lời lẽ trong thư là việc rất khó
khăn. Nhưng việc giao dịch qua thư tín mất rất nhiều thời gian, dễ bỏ lỡ cơ hội,
khó biết ý đồ thật của khách hàng. Ngày nay người ta dùng hình thức thư điện
tử qua hệ thống Internet hoặc telefax sẽ khắc phục được sự chậm trễ.
Khi soạn thảo thư cần đảm bảo tính lịch sự, chính xác, khẩn trương và
kiên nhẫn với các quy định chuẩn mực. Thư nên viết ngắn, rõ ràng, tránh sự
hiểu lầm, chỉ đề cập một vấn đề kinh doanh và sử dụng thứ ngôn ngữ thuận
tiện cho khách hàng để gây thiện cảm. Kiên nhẫn trả lời khách hàng mọi vấn
đề, kiên nhẫn theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư liên tiếp vừa để giữ mối
quan hệ, vừa để lại một hình ảnh trong khách hàng, như vậy lúc có nhu cầu
mình là người được họ nghĩ đến một cách ưu tiên.
3.2 Đàm phán-giao dịch qua điện thoại.
Ngày nay giao dịch qua điện thoại cũng là một phương thức được sử
dụng phổ biến, đặc biệt với những giao dịch có độ tin cậy cao. Giao dịch bằng
điện thoại đảm bảo khẩn trương, chớp thời cơ. Song do cước phí cao, thời
gian gọi hạn chế nên không thể thảo luận chi tiết mọi vấn đề qua điện thoại.
Hơn thế bàn bạc qua điện thoại không để lại bằng chứng hợp pháp, do đó
thường là các mối quan hệ tin cậy giao dịch bằng phương pháp này. Đối với
các giao dịch thông thường sử dụng phương pháp này khi sợ bị lỡ cơ hội kinh
doanh, hoặc là chỉ để xác nhận một vàI chi tiết của hợp đồng Khi sử dụng
6
điện thoại cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi thắc mắc của
khách hàng một cách chính xác. Sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có thư
xác định lại nội dung đã đàm phán thành công.
3.3.Đàm phán-giao dịch bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi điều kiện giao dịch,
về mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán là
hình thức đàm phán đặc biệt quan trọng. Hình thức đàm phán này đẩy nhanh
tốc độ giảI quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những
đàm phán bằng thư tín hoặc điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả.
Hình thức này được dùng khi hai bên có nhiều điều kiện phải giảI thích cặn kẽ để
thuyết phục nhau, khi đàm phán những hợp đồng lớn, những hợp đồng có tính chất
phức tạp Việc hai bên buôn bán gặp gỡ trực tiếp nhau tạo điều kiện cho việc hiểu
biết nhau tốt hơn và duy trì được quan hệ tốt lâu dài với nhau.
Phải thấy rằng đây là hình thức đàm phán mang lại kết quả nhanh nhưng
cũng là hình thức khó khăn nhất. Để thành công đòi hỏi sự kết hợp của rất nhiều
yếu tố. Người đàm phán phải có nghiệp vụ, tự tin, tự chủ, nhanh nhậy để tỉnh
táo nắm được ý đồ sách lược của đối phương, từ đó nhanh chóng đưa ra phương
án đối phó và phải quyết định ngay khi thời cơ chín muồi.
Trước khi lên bàn đàm phán, phải xác định mục tiêu của hãng mình trong
lần đàm phán này, và hơn thế phải tìm hiểu về khách hàng một cách kỹ lưỡng
nhất có thể, thậm chí cả mục tiêu của họ.
Không nôn nóng trong việc ký kết dù thấy thời gian đàm phán đã sắp hết.
Có nhiều cuộc đàm phán ký kết hợp đồng tại sân bay tiễn khách. Người tiến
hành đàm phán nên biết ngôn ngữ để tiến hành đàm phán, vì như vậy sẽ dễ
chủ động, linh hoạt và nâng cao được tốc độ đàm phán. Nếu đàm phán có
đông người tham dự nên để một người thống nhất phát ngôn, để tránh sơ hở
trong đối đáp, tránh bàn bạc trao đổi ý kiến trước mặt khách hàng. Phải luôn
giả thiết rằng khách hàng cũng hiểu ngôn ngữ của mình.
4.Chiến lược và chiến thuật trong đàm phán.
Mỗi một cuộc đàm phán diễn ra đều có một nghệ thuật đàm phán riêng, đó
là sự kết hợp khéo léo giữa chiến lược và chiến thuật. Chiến lược là toàn bộ
đường lối, phương hướng vạch ra cho một quá trình để thực hiện một mục tiêu
nào đó. Để thực hiện một chiến lược người ta phải sử dụng đến nhiều chiến
thuật, có khi là sự kết hợp giữa các chiến thuật đó. Có hai chiến thuật thường
được sử dụng trong đàm phán đó là: Chiến thuật tâm lý và chiến thuật tri thức.
7
Chiến thuật tâm lý là loại mà người tham gia đàm phán sử dụng nó như
một vũ khí sắc bén, tác động vào tâm lý đối phương làm họ hoang mang, dao
động thay đổi lập trường theo hướng có lợi cho mình, gây sức ép tâm lý hoặc
đánh lạc hướng sự chú ý của đối phương. Phương tiện cơ bản của chiến thuật
này là: Lời nói, cử chỉ và thái độ.
Chiến thuật tri thức được xây dựng trên cơ sở của lĩnh vực đàm phán đó,
là phương pháp lập luận dựa trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc của nhà đàm
phán trong đó có cài bẫy.
Tuỳ từng hoàn cảnh đIều kiện cụ thể mà nhà đàm phán sẽ chọn một trong
các chiến lược sau:
4.1. Chiến lược đàm phán kiểu cứng.
Đây là chiến lược đàm phán trong đó các nhà đàm phán chỉ theo đuổi lợi
ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích phía đối tác, họ sử dụng các
phương pháp và thái độ cứng rắn để đè bẹp đối phương.
Một nhà đàm phán thường lựa chọn chiến lược kiểu cứng khi mối quan
hệ về thế và lực nghiêng hẳn về phía họ, hoặc do cá tính thích ganh đua, cũng
có thể do lợi ích cá nhân hoàn toàn đối lập. Nếu cả hai sử dụng phương pháp
này sẽ dễ dẫn đến thất bại.
4.2. Chiến lược đàm phán kiểu mềm.
Trong chiến lược này nhà đàm phán coi đối tác như bè bạn, họ chú trọng
đến việc xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa hai bên. Bởi vậy người ta
thường tỏ ra tin cậy đối tác, tránh đối lập mà chịu nhường nhịn, đề nghị
những ý kiến hợp lý hợp tình. Nếu hai bên cùng lựa chọn chiến lược này thì
tốc độ đàm phán nhanh, khả năng thành công lớn, mối quan hệ của hai bên sẽ
được duy trì một cách tốt đẹp. Chiến lược này thường được áp dụng khi hai
bên có mối quan hệ tốt đẹp, cẩn thận với những trường hợp bên ngoài thì
mềm dẻo, bên trong thì khốc liệt.
4.3. Chiến lược đàm phán kiểu hợp tác.
Trong chiến lược này nhà đàm phán chủ trương đối với công việc thì
cứng rắn còn đối với con người thì ôn hoà, tách rời công việc với con người.
Nhà đàm phán phải vạch ra các phương án có khả năng thay thế vừa phù hợp
với lợi ích của mình, vừa phù hợp với lợi ích của đối tác. Sử dụng chiến lược
kiểu này phải coi đối tác như đồng nghiệp để giải quyết công việc trên tinh
thần bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Nó thường được sử dụng trong các cuộc
đàm phán mà hai bên cân sức cân tài. Tuy nhiên việc thực hiện chiến lược này
không đơn giản, đòi hỏi phải quán triệt các nguyên tắc sau đây:
8
-Tách riêng vấn đề con người và mâu thuẫn trong công việc.
-Tập trung vào các lợi ích chung, trên cơ sở lợi ích chung mà thoả thuận
các lợi ích xung đột.
-Luôn luôn biết tự kiềm chế, tôn trọng đối tác cho dù họ có yếu thế hơn mình.
III. KÝ KẾT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
1.Khái niệm hợp đồng kinh tế.
Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa
các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch
vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có
mục đích kinh doanh vơí sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình.
2. Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế.
* Nguyên tắc tự nguyện
Theo nguyên tắc này một hợp đồng kinh tế được hình thành phải hoàn
toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí), không
thể do áp đặt ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Các bên có
quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và nội dung ký kết
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong trong ký kết hợp đồng kinh
tế của các chủ thể kinh doanh được Nhà nước đảm bảo. Ký kết hợp đồng kinh
tế là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải gắn liền với các đIều kiện
nhất định, đó là:
-Không được phép lợi dụng hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật.
-Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong các
thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụng
quyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, ép
buộc, cửa quyền; hoặc vì không đạt được những đòi hỏi bất bình đẳng đó nên
đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề độc quyền của mình.
-Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn được thể hiện
qua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế.
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu bước đổi
mới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nước ta, được ghi nhận
trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25 tháng 9 năm 1989.
9
Ngoại trừ hợp đồng kinh tế được ký kết theo chỉ tiêu pháp lệnh kế hoạch,
thì tính tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể.
* Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
Nội dung của nguyên tắc này là ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải
đảm bảo trong nội dung của hợp đồng có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ
nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của mỗi bên. Tính bình đẳng này không phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chủ thể. Bất kể các đơn
vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp
đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và
phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết.
Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều thành
phần, cơ cấu chủ thể của hợp đồng kinh tế rất đa dạng, nguyên tắc này còn có
ý nghĩa rất quan trọng. Nó góp phần tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa
các thành phần kinh tế, khuyến khích sự phát triển và đa dạng hoá các quan
hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
* Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật.
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và các bên tham gia quan hệ hợp đồng
kinh tế phải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên một chủ thể có thể tiến hành ký kết nếu có
một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng
kinh tế và việc bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Một hợp đồng
kinh tế chỉ có thể thực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không trái pháp
luật và các bên có khả năng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong giai đoạn hiện nay nguyên tắc này cần được coi trọng.
3.Tổ chức ký kết hợp đồng kinh tế.
Để xác lập một mối quan hệ hợp đồng kinh tế có hiệu lực pháp lý, các
bên có thể lựa chọn một trong hai cách thức sau:
-Ký kết hợp đồng bằng phương pháp ký trực tiếp là cách thức ký kết đơn
giản. Hợp đồng kinh tế được hình thành một cách nhanh chóng. Khi ký kết
bằng cách này, đại diện hợp pháp của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thoả
thuận, thống nhất ý chí để xác định các đIều khoản của hợp đồng và cùng ký
vào văn bản hợp đồng. Hợp đồng kinh tế được coi là hình thành có giá trị
pháp lý từ thời điểm các bên cùng ký vào văn bản hợp đồng.
10
-Ký hợp đồng bằng phương pháp ký gián tiếp là cách thức mà trong đó
các bên tiến hành gửi cho nhau các tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn
chào hàng, đơn đặt hàng) chứa đựng nội dung cần giao dịch. Việc ký kết hợp
đồng kinh tế bằng phương pháp ký gián tiếp đòi hỏi phải tuân theo trình tự
nhất định, thông thường trình tự này cũng gồm hai bước:
Bước 1: Một bên lập dự thảo (đề nghị) hợp đồng trong đó đưa ra những yêu cầu
về nội dung giao dịch (tên hàng hoặc công việc, số lượng, chất lượng, thời gian, địa
điểm, phương thức giao nhận, phương thức thời hạn thanh toán và tiền gửi cho bên kia)
Bước 2: Bên nhận được hợp đồng tiến hành trả lời cho bên đề nghị hợp đồng
bằng văn bản trong đó ghi rõ nội dung chấp nhận, những đề nghị bổ sung
Trong trường hợp ký kết theo cách gián tiếp, hợp đồng kinh tế được coi
là hình thành và có giá trị pháp lý từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch
thể hiện sự thoả thuận xong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Dù ký kết bằng phương pháp ký trực tiếp hay ký gián tiếp, những hợp
đồng kinh tế được hình thành đều có hiệu lực pháp lý như nhau và các bên
đều phải thực hiện các điều khoản đã cam kết. Để cho hợp đồng kinh tế có
hiệu lực, việc thoả thuận của các bên phải đảm bảo những điều kiện sau:
+Nội dung thoả thuận không vi phạm pháp luật.
+Phải đảm bảo điều kiện chủ thể của hợp đồng.
+Đại diện ký kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền.
Nếu không đảm bảo một trong các điều kiện này, hợp đồng coi như vô hiệu.
Mỗi cách ký kết đều có ưu điểm, nhược điểm riêng của nó, lựa chọn
cách nào là quyền của chủ thể ký kết, xong việc lựa chọn phải luôn tính đến
hiệu quả kinh tế, thời cơ kinh doanh. Các chủ thể cũng có thể kết hợp cả hai
phương pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế.
IV. QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
Để tiến hành thực hiện hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải thực
hiện theo trình tự sau:
11
vc
Sau khi hợp đồng nhập khẩu đã được ký kết, đơn vị kinh doanh nhập khẩu
với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là công
việc rất phức tạp; nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo
đảm được quyền quốc gia và bảo đảm uy tín kinh doanh của đơn vị. Về mặt kinh
doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để thực hiện hợp đồng, đơn
vị kinh doanh nhập khẩu phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính
doanh lợi và hiệu quả của toàn nghiệp vụ giao dịch.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải tiến
hành các công việc dưới đây:
1. Xin giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nước quản lý
hoạt động xuất nhập khẩu. Vì thế, sau khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh
nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu chuyến để thực hiện hợp đồng đó. ở Việt
nam, theo Nghị định 89/CP ngày 15/12/1995 kể từ ngày 1/2/1996 trở đi, chỉ
còn 9 trường hợp sau đây cần phải xin giấy phép xuất nhập khẩu chuyến:
Hàng xuất nhập khẩu mà Nhà nước quản lý bằng hạn nghạch hàng tiêu dùng
nhập khẩu theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ duy trì máy móc thiết bị
nhập khẩu bằng vốn ngân sách: Hàng của doanh nghiệp được thành lập theo
luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam; Hàng phục vụ, thăm dò khai thác dầu
khí; Hàng dự hội chợ triển lãm; Hàng gia công; Hàng tạm nhập tái xuất; Hàng
xuất nhập khẩu thuộc diện điều hành để đảm bảo cân đối cung cầu trong
nước.
Khi đối tượng hợp đồng thuộc phạm vi xin giấy phép xuất nhập khẩu,
doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ xin giấy phép gồm: hợp đồng, phiếu hạn
nghạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn nghạch), hợp đồng uỷ thác
xuất nhập khẩu (nếu đó là trường hợp xuất nhập khẩu uỷ thác), giấu báo trúng
thầu của Bộ Tài Chính nếu là hàng xuất nhập khẩu trả nợ nước ngoài.v.v
12
Ký kết
kinh
doanh
NK
Xin
giấy
phép
NK
MởL/
C khi
bên
bán
Đôn đốc
bên bán
giao
hàng
Thu
ê
t uà
Mua bảo
hiểm
hàng
hoáá
Khiếu
nại về
hàng
hoá
Làm
thủ tục
thanh
toán
Giao
hàng
cho đơn
vị đặt
Kiểm
tra
hàng
hoá
Nhận
hàng
Làm thủ
tục hải
quan
Nếu hàng xuất khẩu qua nhiều cửa khẩu, cơ quan Hải quan sẽ cấp cho
doanh nghiệp ngoại thương một phiếu theo dõi. Mỗi khi hàng thực tế được
giao nhận ở cửa khẩu, cơ quan Hải quan cửa khẩu đó sẽ trừ lùi vào phiếu theo
dõi đó (Theo công văn số 208/TCHQ-QSQL ngày 20/03/1996 của Tổng Cục
Hải Quan). Ngày 29/08/1997, Tổng Cục Hải Quan đã có công văn số
2941/THTK-QSQL về việc ghi mã số doanh nhgiệp, tên hàng và mã số hàng
hoá để Bộ Thương mại xem xét cấp hạn nghạch.
Việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu được phân công như sau:
+ Bộ Thương Mại (các phòng cấp giấy phép) cấp những giấy phép xuất
nhập khẩu hàng mậu dịch, nếu hàng đó thuộc một trong 9 trường hợp trên.
+ Tổng Cục Hải Quan cấp giấy phép hàng xuất nhập khẩu phi mậu dịch
Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh để xuất hoặc nhập
khẩu một hoặc một số mặt hàng với một nước nhất định, chuyên chở bằng một
phương thức vận tải và giao nhận tại một cửa khẩu nhất định. Đơn xin giấy phép
(và các chứng từ kèm) phải được chuyển đến Phòng (hoặc Tổ) cấp giấp phép của
Bộ Thương Mại. Sau 3 ngày kể từ ngày nhận được đơn đó, Phòng hoặc Tổ cấp
giấy phép phải trả lời kết quả (Thông tư 21/KTĐN/VN - 23/10/1989).
2. Kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu.
Theo tinh thần của Nghị định 200/CP ngày 31/12/1973 và Thông tư liên
bộ GTVT - Ngoại thương số 52/TTLB ngày 21/05/1975, hàng nhập khẩu khi
về qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ theo chức năng
của mình phải tiến hành công việc kiểm tra đó.
Cơ quan giao thông (ga, cảng) phải kiểm tra niêm phong, kẹp trì trước
khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận tải. Nếu hàng có thể có tổn thất hoặc xếp
đặt không theo lô, theo vận đơn thì cơ quan giao thông mời cơ quan giám
định lập biên bản giảm định dưới tầu. Nếu hàng chuyên chở đường biển mà bị
thiếu hụt, mất mát, phải có “biên bản kế toán nhận hàng với tầu (Report On
Receip Of Cargo) còn nếu bị đổ vỡ phải có “Biên bản hàng bị đổ vỡ hư hỏng”
Cargo Outtum Report). Nếu tàu chở hàng đã nhổ neo rồi việc thiếu hụt mới bị
phát hiện, chủ hàng mới yêu cầu VOSA cấp “Giấy chứng nhận hàng thiếu”
(Certificate Of Shortlanded Cargo). Đơn vị kinh doanh hàng nhập khẩu, với
tư cách là một bên đứng tên trên vận đơn, phải lập thư dự kháng (Letter Of
Reservation) nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, phải yêu cầu
lập biên bản giảm định (Survey Report) nếu hàng hoá thực sự có tổn thất thiết
hụt, không đồng bộ, không phù hợp với hợp đồng.
13
3. Thuê tàu lưu cước, đặt khoang.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu
chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau đây: Những điều khoản của hợp
đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm mua bán và điều kiện vận tài.
Với điều kiện CIF hoặc CFR, thuê tàu đặt khoang là một trong những
trách nhiệm của bên bán. Tàu có thể là tàu chuyến nếu hàng có khối lượng lớn
và để trần (Bulk Cargo) và trên đường hàng đi có chuyến tàu chợ (Liner) nếu
là hàng lẻ tẻ, lặt vặt, đóng trong bao kiện (General Line). Nếu hàng có khối
lượng lớn, cần vận chuyển cả một chuyến tàu, thì cần làm thủ tục thuê tàu, đối
với hàng có số lượng nhỏ, không cần vận chuyển cả chuyến tàu, thì bố trí đặt
tàu chuyến hoặc thuê một phần khoang tàu để vận chuyển. Việc thuê tàu lưu
cước đòi hỏi kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình hình thị trường thuê
tàu và tính thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, chủ
hàng thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho công ty Hàng hải. Cơ sở
pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa hai bên uỷ thác thuê tàu với bên nhận uỷ
thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác. Có thể hợp đồng uỷ thác thuê cả năm, cũng
có thể là hợp đồng uỷ thác chuyến.
Trình tự cơ bản của công tác đặt khoang gồm:
+ Các công t xuất nhập khẩu điền vào phiếu uỷ thác vận chuyển
(Booking Note - B/N), làm căn cứ để đặt khoan. Phiếu uỷ thác vận chuyển là
giấy tờ mà người uỷ thác vận chuyển (người phát hành). Căn cứ vào hợp đồng
buôn bán và các nội dung điều khoản thư tín dụng điền vào và làm thủ tục uỷ
thác vận chuyển hàng hoá với người vận chuyển (Công ty tàu thường là người
đại lý phía chủ tàu của cảng bốc xếp). Người vận chuyển căn cứ vào nội dung
của phiếu uỷ thác vận chuyển, kết hợp xem xét các điều kiện cảng đậu trên
hành trình của tàu, kỳ hạn và vị trí khoang, sau khi cho rằng thích hợp thì
chấp nhận uỷ thác, đóng dấu lên phiếu uỷ thác vận chuyển, lưu lại một bản,
trả lại người uỷ thác vận chuyển một bản. Đến đây, thủ túc đặt khoang coi
như đã hoàn thành, hợp đồng vận chuyển coi như đã thành lập.
Sau khi chấp nhận phiếu uỷ thác vận chuyển của người uỷ thác vận
chuyển, Công ty tàu hoặc người đại diện lập tức cấp hơn đơn xếp hàng cho
người uỷ thác vận chyển. Hoá đơn xếp hàng thường gọi là giấy hàng. Nó có
ba tác dụng: một là thông báo cho người uỷ thác vận chuyển hàng hoá đã bố
trí tàu , Chuyến số , ngày bố xếp hàng, để anh ta chuyển bị hàng bốc xếp
lên tàu; hai là tiện cho người uỷ thác vận chuyển tới hải quan làm thủ tục khai
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét