Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm ở trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh thực trạng và giải pháp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm ở trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh thực trạng và giải pháp": http://123doc.vn/document/1050843-quan-ly-dao-tao-dai-hoc-he-vua-hoc-vua-lam-o-truong-dai-hoc-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-thanh-pho-ho-chi-minh-thuc-trang-va-giai-phap.htm


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1 Tình hình chung
Ở tất cả các nước trên thế giới khi bước vào thời kỳ cơng nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH) đất nước, giáo dục đại học đều trở thành trụ cột cho sự phát
triển kinh tế – xã hội nói chung và khoa học giáo dục nói riêng của các nước đó.
Việt Nam cũng khơng nằm ngồi quy luật này: giáo dục đại học (GDĐH) là đào tạo
nguồn nhân lực trình độ cao, có chấ
t lượng để đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp
CNH-HĐH, phát triển kinh tế – xã hội cho từng địa phương và cả nước; GDĐH là
hạt nhân cơ bản để xây dựng nền kinh tế tri thức.
Thực hiện quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo: “Giáo dục cho mọi
người”; “Cả nước trở thành một xã hội học tậ
p”, GDĐH Việt Nam còn phải thực
hiện bước chuyển từ “Đại học tinh hoa” sang “Đại học đại chúng” nhằm đáp ứng
nhu cầu học tập, học thường xun, học suốt đời ngày càng cao của mọi tầng lớp
nhân dân trong xã hội. Con đường tất yếu phải thực hiện là “phát triển nhanh quy
mơ; đồng thời phải bảo đảm về chất lượng”.
Nghị quyết Đạ
i hội Đảng tồn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Đẩy mạnh giáo dục
trong nhân dân bằng các hình thức chính quy và khơng chính quy, thực hiện giáo
dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập”. Như vậy, cùng với giáo
dục đại học chính quy, giáo dục đại học khơng chính quy (trong đó có cả hệ vừa học
vừa làm) đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến
lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 của đất nước là tăng tỷ lệ sinh viên lên 2% vào
năm 2010.
Song, sự bùng nổ GDĐH cũng có thể dẫn đến những bất cập về chất lượng,
đặc biệt là chất lượng đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm. Nhiều ngun nhân
được khảo sát như: hạn chế về nguồn nhân lực, chất lượng đầu vào, nộ
i dung,
chương trình, năng lực đội ngũ giảng viên, cơng tác quản lý . . . Trong các ngun
nhân được chỉ ra, cơng tác quản lý giáo dục được xem là vấn đề cấp thiết.
2

Nghị quyết TW 2 BCH TW Đảng, khóa VIII nhận định: “Cơng tác quản lý
giáo dục – đào tạo có những mặt yếu kém, bất cập … Mở rộng quy mơ giáo dục –
đào tạo và phát triển nhiều loại hình giáo dục – đào tạo nhưng có nhiều thiếu sót
trong việc quản lý chương trình, nội dung và chất lượng …”. Nghị quyết cũng đã đề
ra bốn giải pháp chủ yếu cho định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo
trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, giải pháp thứ 4 là “Đổi mới
cơng tác quản lý giáo dục”.
1.2 Thực trạng cơng tác đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm tại trường ĐH
Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ?H Qu?c Gia Thành phố Hồ
Chí Minh trong q trình thực hiện đào tạo đại học hệ
vừa học vừa làm trong những
năm qua đã có nhiều cố gắng trong đổi mới cơng tác quản lý và đã đạt được những
thành tích đáng kể. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khoa học quản lý, trong xu thế phát
triển giáo dục hiện nay, còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, khảo sát như tư duy
quản lý, chu trình quản lý, các thành tố quản lý, năng lực quản lý …v…v.
Trước đòi hỏi bức thiết củ
a đổi mới cơng tác quản lý giáo dục nhằm tạo bước
nhảy về chất trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm
(hệ tại chức) nói riêng, đáp ứng u cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có
chất lượng phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng tơi
thiết nghĩ, đối với trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí
Minh, bên cạnh những đề tài nghiên cứu đi sâu vào bản chất khoa học của cơng tác
quản lý đào tạo đại học nói chung, việc quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm
cũng cần được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tơi
chọn đề tài nghiên cứu:
“Quản lý đào tạo đại học hệ v
ừa học vừa làm ở Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp”.


3

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Giáo dục được coi là một trong nh
ững quốc sách hàng đầu liên quan trực tiếp
đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế – xã hội
đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của quốc gia. Do đó việc
quản lý giáo dục ln ln được các nước, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, đã phát
triển hay đang phát triển hết sức quan tâm. Từ việc thực hiện chính sách giáo dục
quố
c gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đến việc thực hiện các mục tiêu
giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục . . . ln g
ắn liền vớicơng tác quản lý giáo
dục từ bình diện quốc gia đến các cấp quản lý giáo dục ở địa phương và các cơ sở
giáo dục – đào tạo. Vì vậy nghiên cứu cơng tác quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay
là một u cầu cấp bách và có ý nghĩa rất to lớn.
UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền
giáo dục của xã hội học tập và học suốt đời cho mọ
i người. Quan điểm này thực ra
có từ rất sớm, nó xuất phát từ quan điểm “Giáo dục bình đẳng” trong tư tưởng của
Mác – Ăng ghen cho đến tư tưởng Hồ Chí Minh đó là “Mọi người ai cũng được học
hành”. Như vậy Giáo dục khơng thể tách rời xã hội mà giáo dục và xã hội là một
khối thống nhất. Xã hội học tập bao gồm các hình thức: giáo dục chính qui và giáo
dục khơng chính qui.
Báo cáo chính trị
của Đại hội Đảng lần IX cũng đã chỉ ra: ”Đẩy mạnh phong
trào học tập trong nhân dân bằng các hình thức chính qui và khơng chính qui (bao
gồm hệ VHVL), thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học
tập”. Như vậy để Nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống thì các nhà quản lý
giáo dục cần phải làm gì và làm như thế nào để có thể cùng phát triển m
ạnh hai hình
thức đào tạo này một cách có hiệu quả. Cơng tác quản lý đào tạo đặc biệt là hệ đào
tạo khơng chính quy (bao gồm các hình thức giáo dục thường xun, vừa học vừa
làm và từ xa . . .) phải hoạt động như thế nào để đảm bảo chất lượng đào tạo và đáp
ứng quy mơ ngày càng tăng của xã hội là hết sức quan trọng.
Trong bài nghiên cứu “Nhu cầu và giải pháp cho phương thức giáo dụ
c
khơng chính quy” PGS.TS Trịnh Minh Tứ và ThS Lê Hải Yến cho rằng:
4

“Nhu cầu của Giáo dục khơng chính qui ở tất cả các nước, nhất là những
nước đang phát triển là r
ất lớn vì khơng phải ai cũng có điều kiện để học tập chính
qui trên ghế nhà trường, con số này hiện nay chỉ chiếm 1- 2% dân số. Còn gần 40
triệu lao động của nước ta hiện nay kể cả những người đã có trình độ học vấn cao
có cần học nữa khơng. Trong những lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, nếu khoa học
kỹ thuật càng phát triển, muốn cạnh tranh trong hàng hóa và sản phẩm, hội nhập v
ới
nền kinh tế khu vực, đưa các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, đổi mới cơng nghệ
. . . thì những người lao động và quản lý trong các ngành nghề ấy liệu có cần phải
học khơng?”. Ngày 7-5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số
74/2001/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơng chức 2001-
2005, theo đó 100% cơng chức hành chính các ngạch cầ
n đáp ứng u cầu tiêu
chuẩn về kiến thức quản lý nhà nước và lý luận chính trò, do đó những cơng chức,
cán bộ đang làm việc hiện nay rất cần được học, được thường xun bồi dưỡng kiến
thức để cập nhật với những đổi thay của xã hội về mọi mặt!
Xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, tuổ
i thọ con người
càng cao, thì nhu cầu học tập của mọi người ngày càng lớn. Người ta có nhu cầu
muốn học để hiểu biết, để làm việc, để sống tốt hơn, để tự khẳng định mình, để
mong có cơ may và để hòa nhập vào cộng đồng ngày càng văn minh, tiến bộ.
Trước những nhu cầu cần phải học và muốn được học của xã hội ngày càng
to lớ
n như vậy thì chắc chắn phương thức đào tạo vừa học vừa làm sẽ đóng một vai
trò khơng nhỏ. Theo luật giáo dục, đào tạo vừa học vừa làm là bao gồm: “Các
chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; đào tạo bổ sung, tu nghiệp
định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cập nhật kiến thức, kỹ năng; các chương trình
để l
ấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm ”.
Như vậy trách nhiệm của các nhà quản lý giáo dục là phải làm thế nào để tổ chức và
quản lý việc học của hệ vừa học vừa làm cho có hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Hiện nay các hình thức đào tạo hệ vừa họ
c vừa làm rất đa dạng, đã đóng góp
5

một phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đáp ứng được phần nào nhu cầu
học tập của người lao động và của tồn xã hội. Tuy nhiên hiện nay cũng còn nhiều
ý kiến tranh luận về chất lượng của loại hình đào tạo này.
Trong phạm vi cho phép chúng tơi chỉ xin đề cập đến vấn đề Quản lý đào tạo
đại học hệ vừa học vừa làm ở trường Đại học Khoa h
ọc Xã hội và Nhân văn, ĐH
Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh nhằm đúc kết một số kinh nghiệm trong nhiều năm đào
tạo loại hình này. Đây là một vấn đề chưa có tác giả nào từng nghiên cứu. Từ những
kết quả nghiên cứu đã đạt được trong những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu
hơn những cái được và chưa được trong cơng tác quản lý đào tạo nhằm đề xuất
nhữ
ng giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo hệ vừa học vừa làm của
Trường ĐHKHXHNV.
3. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa
làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG Tp.Hồ Chí Minh
trong thời gian qua nhằm phân tích ngun nhân của thực trạng và đề xuấ
t những
giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đào tạo Hệ vừa học
vừa làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh là
nơi ln có một số ngành đào tạo mới, cung cấp nguồn nhân lực cho các tỉnh phía
Nam và Tp. Hồ Chí Minh ngày càng phát triển trong những năm tới.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề
tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận của cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học
vừa làm dựa trên cơ sở lý luận của quản lý trường đại học và quản lý cơng tác đào
tạo đại học.

6

4.2 Khảo sát thực trạng về cơng tác đào tạo hệ vừa học vừa làm ở trường
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
- Khảo sát thực trạng cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm
của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, bao
gồm khảo sát cơng tác quản lý các mặt sau:
- Chức năng tổ chức hệ VHVL củ
a nhà trường
- Bộ máy quản lý hệ VHVL của trường
- Các ngành nghề đã và đang đào tạo của trường.
- Quản lý thiết kế và tổ chức chương trình đào tạo.
- Cơng tác học vụ, điểm, tổ chức thi hết học phần, xét cơng nhận tốt nghiệp.
- Đội ngũ giáo viên.
- Cơ sở vật chất, kỹ thuậ
t phục vụ đào tạo.
- Tài chính cho nhiệm vụ đào tạo và quản lý đào tạo.
Dựa trên các kết quả khảo sát có được để tìm ngun nhân của thực trạng.
4.3 Đề xuất giải pháp
Từ những ngun nhân phân tích được ở phần trên, đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường
Đại học Khoa họ
c Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Các phòng ban và các nhân sự liên quan để tìm hiểu thực trạng cơng tác quản
lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu:
7

Cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy, sinh viên theo học và sinh viên đã tốt
nghiệp hệ VHVL để tìm hiểu cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm
của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
6. Giới hạn của đề tài
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tơi đã xây dựng
bộ cơng cụ nghiên cứu là bộ phiếu các câu hỏ
i điều tra trong giới hạn nhằm tìm hiểu
thực trạng cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thơng qua các đối tượng
nghiên cứu trong thời gian từ khi nhà trường có đào tạo loại hình này. Đặc biệt là
các số liệu thống kê sinh viên, giảng viên mà chúng tơi sử dụng trong luận văn là
các số liệu củ
a trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn đã và đang đào tạo
giai đoạn từ năm 2000 – 2006. Từ những dữ liệu thu được chúng ta sẽ nhận xét tổng
thể về cơng tác quản lý đào tạo của nhà trường để từ đó có những đánh giá đúng đắn
về thực trạng quản lý cơng tác đào tạo hệ VHVL của nhà trường.
7. Giả thuyết nghiên cứu:
Trong thực tiễn đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta đã có kinh
nghiệm quản lý có hiệu quả thơng qua số lượng và chất lượng sinh viên ra trường
(được xã hội đánh giá cao). Tuy nhiên, nếu khảo sát, nghiên cứu thực trạng cơng tác
quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm, để trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp mang tính khoa học, phù hợp với thực tiễn thì chắc chắn cơng tác quản lý đào
tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
8. Phương pháp và cơng cụ nghiên cứu:
8.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu và cơ sở lý luận:
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
các văn bản của nhà nước, Bộ GD-ĐT, ĐHQG và trường ĐHKHXH&NV
8

Tp.HCM, sách, báo, các tài liệu, các cơng trình nghiên cứu khoa học . . .
Phương pháp mà chúng tơi lựa chọn để tiến hành nghiên cứu q trình hồn
tất luận văn này theo ba quan điểm nghiên cứu sau:
• Quan điểm về hệ thống cấu trúc
• Quan điểm lịch sử – logic
• Quan điểm thựïc tiễn
- Phương pháp phỏng vấn:
Tiến hành gặp gỡ và trao đổi với Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo Phòng Đào
tạo Tại chức, m
ột số giảng viên và học viên (kể cả học viên đã tốt nghiệp) hệ đại
VHVL của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí
Minh, Ban giám hiệu các trường, các cơ sở có liên kết đào tạo với nhà trường về các
vấn đề liên quan.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò:
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo Phòng
Đào tạo Tại chức, một số giảng viên và học viên hệ đại học vừa học vừa làm của
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu
các trường, các cơ sở có liên kết đào với nhà trường; học viên hệ đại học vừa học
vừa làm của nhà trường về các vấn đề liên quan đến cơng tác quản lý đào tạo đại
học hệ vừa học vừa làm.
- Phương pháp tốn thống kê:
Dùng phương pháp tốn thống kê để tiến hành phân tích và xử lý các số liệu
điều tra nhằm định hướng các kết quả nghiên cứu: thống kê số liệu, tần số, tính tỷ lệ
phần trăm.
8.2 Cơng cụ nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu, chúng
tơi đã xây dựng bộ
cơng cụ nghiên cứu là bộ phiếu các câu hỏi khảo sát nhằm tìm
hiểu thực trạng cơng tác quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm của Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
9

để có những định hướng đúng hơn trong q trình đào tạo. Bộ câu hỏi tìm hiểu
những vấn đề cụ thể sau đây:
a) Các ngành nghề đào tạo nào đã đáp ứng và chưa đáp ứng được nhu cầu của
xã hội.
b) Quản lý q trình tuyển sinh và chất lượng đầu vào của sinh viên.
c) Quản lý chất lượng dạy và học: bao gồm nộ
i dung chương trình, phương
pháp giảng dạy, điều kiện học tập của sinh viên.
d) Quản lý học vụ: quản lý điểm, xét duyệt lên lớp, thi hết học phần và thi tốt
nghiệp.
e) Quản lý điều kiện cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo.
Bộ phiếu câu hỏi được xây dựng cho 3 đối tượng khách thể nghiên cứu:1)giảng
viên, cán b
ộ quản lý của trường và các cơ sở đào tạo; 2) sinh viên hệ vừa học vừa
làm đang theo học tại trường; 3) sinh viên đã tốt nghiệp hệ vừa học vừa làm của
trường.
Bộ phiếu này gồm hai phần:
- Phần I: thơng tin cá nhân nhằm tìm hiểu đối tượng theo học như độ tuổi, giới tính,
thành phần xã hội, nghề nghiệp, ngành theo học.
Đối với giảng viên và cán bộ
quản lý trọng tâm là độ tuổi và thâm niên cơng tác.
- Phần II: nội dung khảo sát với 17 câu hỏi (xem Phụ lục)
8.3 Tổ chức nghiên cứu
Trong q trình thực hiện đề tài này chúng tơi tiến hành các bước cụ thể như
sau:
- Bước 1: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các
văn bản- qui chế của nhà nước có liên quan đến cơng tác đào đại học đặc biệt là hệ
vừa học vừa làm, sách, báo, tạp chí, các tài liệu, các cơng trình nghiên cứu khoa học
. . . để xây dựng cơ sở lý luận.
- Bước 2: Tiến hành gặp gỡ và trao đổi với Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo
Phòng Đào tạo Tại chức, một số giảng viên và học viên (kể cả học viên đã tốt
nghiệp) hệ đại học vừa học vừa làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
10

văn Thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu các trường, các cơ sở có liên kết đào
tạo với nhà trường về các vấn đề liên quan để xây dựng bộ phiếu điều tra.
- Bước 3 : Sử dụng phiếu thăm dò để lấy ý kiến của Ban giám hiệu, Ban lãnh
đạo Phòng Đào tạo Tại chức, một số giảng viên và học viên hệ đại học vừa học vừa
làm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh;
Ban giám hiệu các trường, các cơ sở có liên kết đào với nhà trường; học viên đã tốt
nghiệp và đang theo học hệ
đại học vừa học vừa làm của nhà trường về các vấn đề
liên quan đến cơng quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm.
Sau 4 tháng phát phiếu và thu nhận phiếu trong q trình khảo sát, số phiếu chúng
tơi thu nhận được như sau:
Đối với cán bộ quản lý do bận cơng tác giảng dạy và kiêm nhiệm quản lý cho
nên với số lượng phiếu phát ra, một số phiếu chưa kịp phản h
ồi và một số phiếu
phản hồi chậm do đó số lượng phiếu thu thập được khơng như số chúng tơi dự tính
ban đầu.
Đối với sinh viên, số lượng phiếu này chúng tơi lựa chọn ngẫu nhiên trên tỉ
lệ số sinh viên đang theo học tại trường và số sinh viên đã tốt nghiệp. Với mong
muốn ban đầu của chúng tơi là số lượng của hai đối tượng này phải có sự t
ương
quan, nhưng vì chúng tơi khơng thể liên hệ được nhiều số lượng sinh viên đã tốt
nghiệp như số sinh viên đang theo học nên chúng tơi chỉ có thể nhận được một số
lượng tương đối ý kiến của các sinh viên đã tốt nghiệp.
Khách thể
Số phiếu
phát ra
Số phiếu
thu về
1. Giảng viên và cán bộ quản lý 120 72
2. Sinh viện hệ VHVL 400 358
3. Sinh viên đã tốt nghiệp hệ
VHVL
200 109
TỔNG CỘNG 720 539

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét