LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả họat động cung cấp dịch vụ tài chính của tym": http://123doc.vn/document/1053120-dinh-huong-va-giai-phap-de-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cung-cap-dich-vu-tai-chinh-cua-tym.htm
CHƯƠNG I – HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1Giới thiệu chung về họat động tài chính vi mô
- Định nghĩa tài chính vi mô
Hiện nay, trong giới thực hành và nghiên cứu tài chính vi mô tồn tại một số cách
định nghĩa khác nhau về hoạt động này. Dứơi đây là một số định nghĩa tiêu biểu về
tài chính vi mô:
Tài chính vi mô, theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), là
hoạt động cung cấp một phạm vị rộng lớn các dịch vụ tài chính như các khoản cho
vay nhỏ, tiết kiệm vi mô, bao hiểm vi mô, chuyển tiền, thanh toán … cho các hộ gia
đình nghèo hoặc có thu nhập thấp, cũng như tài trợ cho các hoạt động kinh doanh
rất nhỏ của họ.
Một định nghĩa khác được đưa ra bởi Ngân hàng Thế Giới(World Bank – WB):”
Tài chính vi mô được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi
ích cho dân cư thu nhập thấp (kể cả phụ nữ và nam giới). Thuật ngữ này đề cập tới
dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập thấp, bao gồm cả những đối
tượng làm ăn cá thể. Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng,
tuy nhiên một số tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ như bảo hiểm và
thanh toán”.
Để tạo điều kiện cho hoạt động tài chính vi mô trong nước phát triển, trong năm
2005, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành Nghị Định số 28 để điều chỉnh họat
động này. Trong Điều 2, khoản 1 đã định nghĩa tài chính vi mô (tài chính quy mô
nhỏ) như sau: “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài
chính, ngân hàng nhỏ và đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp,
đặc biệt là những người nghèo và hộ gia đình nghèo”.
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
Mặc dù có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng thuật ngữ tài chính vi
mô nói chung bao gồm ba nôi dung sau:
- Đối tượng khách hàng là những người có thu nhập không cao. Mức thu nhập của
những người này có thể thay đổi từ ở trên ranh giới nghèo đói tới mức rất thấp
xa ranh giới nghèo đói. Nhưng mức thu nhập của họ không hoặc khó đảm bảo
cho vịêc duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như họat động sản xuất
hiện tại.
- Các sản phẩm tài chính được cung cấp tới cho khách hàng chủ yếu là Tiết kiệm
và cho vay. Tuy nhiên, cùng với thời gian nhiều tổ chức đã mở rộng thêm các
sản phẩm bảo hiểm và thanh toán.
- Việc cung cấp sản phẩm tài chính được thực hiện một cách 6ien tục và bền vững
tới các khách hàng.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động tài chính vi mô
Theo định nghĩa trên, tài chính vi mô là họat động tài chính cho người nghèo và
hướng tới người nghèo. Trọng tâm lớn nhất và không thay đổi từ khi hình thành của
họat động này là xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bộ phận những người
có thu nhập thấp. Có lẽ chính bởi mục tiêu này, mà khi bắt đầu hình thành, người ta
thường coi đây là một hoạt động mang tính chất từ thiện.
Theo lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn”, cách hiệu quả nhất để giúp những người
nghèo không còn nghèo nữa là cung cấp vốn cho họ. Chính từ suy nghĩ này, trường
phái đầu tiên trong họat động tài chính vi mô ra đời, trong khoảng thời gian những
năm 1940 đến cúôi những năm 1960, với trọng tâm cung cấp càng nhiều càng tốt các
khỏan vốn cho người nghèo. Đối với họ, một phần do nhầm lẫn với hoạt động từ
thiện, việc hòan trả các khỏan vay thường không được chú trọng tới. Bên cạnh đó,
lãi suất áp dụng cho các khỏan vay thường rất thấp. Nếu đứng trên khía cạnh chính
sách lãi suất để phân chia các trường phái hoạt động tài chính vi mô thì đây được coi
là giai đoạn chạy theo lãi suất bao cấp được chủ động không chỉ bởi tổ chức cung
cấp mà còn được khuyến khích bới chính các chính phủ.
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
Sau một thời gian áp dụng phương châm họat động tài chính vi mô trên, các chính
phủ cũng như các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô nhận thấy những
hiệu quả không đáng kể của hoạt động này. Vào những năm 1970, trường phái hạn
chế tín dụng được hình thành. Theo đó, việc cung cấp các khỏan vay được nhìn nhận
và đánh giá thận trọng hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng lãi suất cho hoạt động tài chính
vi mô trong thời gian này vẫn là lãi suất bao cấp. Điều này có thể được giải thích bởi
những định kiến về người nghèo cũng như khả năng tài chính của họ vẫn còn nặng
nề trong một bộ phận lớn những nhà hoạch định cũng như những nhà họat động tài
chính vi mô.
Vào giữa những năm 1970, những người theo tư tưởng mới bắt đầu thủ nghiệm
những mô hình cung cấp dịch vụ tài chính vi mô mới cũng như áp dụng lãi suất
thương mại vào họat động này. Đây là những người cởi bỏ những quan điểm đã cũ
và không đúng về người nghèo. Theo họ, người nghèo hoàn toàn có khả năng tiêt
kiệm và trả nợ. Điều quan trọng khi thiết kế một sản phẩm tài chính cho người
nghèo không nằm ở việc làm cho giá thật rẻ mà làm sao cho người nghèo có thể tiếp
cận tới một cách nhanh chóng và hiệu quả. Một lọat các điển hình thành công đã
xuất hiện trong giai đoạn này như Grameen Bank ở Bangladesh, ACCION ở Brazil,
… Tuy nhiên, đứng trên các nhà hoạch định chính sách, sự bất đồng với quan điểm
về lãi suất cho vay đối với tín dụng vi mô vẫn cọn mạnh mẽ. Rât nhiều chương trình
của chính phủ vẫn tiếp tục sử dụng lãi suât trợ cấp bởi nhiều lý do.
Kể từ những năm 1980 tới nay, họat động tài chính vi mô đã thực sự phát triển
mạnh mẽ. Về phía các sản phẩm và dịch vụ, các tổ chức tài chính vi mô không chỉ
cung cấp đơn thuần các khỏan vay nhỏ mà còn mở rộng ra nhiều sản phẩm tài chính
khác như tiết kiệm, bảo hiểm, giáo dục đào tạo… Về số lượng các tổ chức tài chính
vi mô thì tính cho tới năm 2003, đã có trên 10.000 tổ chức cung cấp các dịch vụ tới
hơn 80 triệu người nghèo tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Nam Mỹ và Châu
Phi. Với sự mở rộng này, mạg lưới 7ien kết các tổ chức được mở ra rộng rãi, hàng
lọat các nghiên cứu và hợp tác phát triển đã được thực hiện với mục tiêu là mở rộng
hơn nữa họat động tài chính vi mô. Các nghiên cứu mở rộng và những quy chuẩn
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
chung cho tài chính vi mô được thiết lập nhằm hướng tới mục tiêu là hoạt động tài
chính vi mô bền vững và phát triển.
Cùng với sự thành công của họat động tài chính vi mô mới, cái nhìn của các chính
phủ đã thiện cảm hơn với hoạt động này. Tại một số nước như Bangladesh, chính
phủ không chỉ tham gia như một cổ đông mà còn có những đạo luật riêng để điều
hành họat động này. Tuy nhiên, bên cạnh những điển hình đáng khích lệ thì một số
chính phủ vẫn mang nặng những tư tưởng định kiến, đặc biệt là trong vấn đề lãi suất
của hoạt động tài chính vi mô. Tại một số nước như Trung Quốc, Campuchia và Việt
Nam, những nhà hoạch định chính sách và những nhà thực hành tài chính vi mô thực
sự vẫn không thể đi đến được những đồng ý chung trong việc đưa ra các chính sách
và điều phối hợp lý.
1.1.3 Vai trò của tài chính vi mô
Sau một thời gian dài hình thành và phát triển, họat động tài chính vi mô được ghi
nhận là có những thành công sau:
Thứ nhất, hoạt động tài chính vi mô góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo
của thế giới nói chung và của từng quốc gian nói riêng. Bằng vịêc cung cấp các dịch
vụ tài chính cho người nghèo, giúp họ có khả năng thực hiện các họat động sản xúât
tăng thu nhập, một tỷ lệ lớn dân số của các nước đang phát triển đa thóat khỏi cảnh
nghèo đói. Bên cạnh đó, việc tăng thu nhập đã tao thêm cơ hội cho những người
nghèo tiếp cận tới các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, nước sạch. Nói một cách
khác, tài chính vi mô có tác động tới việc cải thiện đời sống của người nghèo. Chính
bởi vai trò này, tài chính vi mô được xem là mắt xích quan trọng trong việc thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.
Thứ hai, tài chính vi mô mang lại cho người nghèo, những người rất dễ bị thương
tổn bởi các rủi ro những công cụ phòng ngừa hữu hiệu. Việc cung cấp các sản phẩm
như tiết kiệm và bảo hiểm mang lại cho người nghèo những cái đệm đỡ khi có
những rủi ro bất thường xảy ra. Thêm vào đó, các khỏan vay với mục tiêu mở rộng
sản xuất kinh doanh cho người nghèo đã khiến họ có nhiều cơ hôi vươn tới các thị
trường rộng lớn hơn nằm ngoài “lũy tre làng”. Chính điều này đã giảm thiểu rủi
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
9ien9h họ khi có sự cố bất thường xảy ra đối với khoảng thị trường nhỏ bé này vì họ
có thể mang sản phẩm của mình đi bán ở nơi khác.
Thứ ba, hoạt động tài chính vi mô góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực tài
chính nông thôn. Khi những người ngheo đã thoát nghèo nhờ hoạt động tài chính vi
mô thì nhu cầu của họ đối với các sản phẩm tài chính không hề giảm. Tuy nhiên, do
họ không còn là những khách hàng mục tiêu của các tổ chức tài chính vi mô nữa, họ
cần tới những tổ chức tín dụng thương mại. Với một lượng lớn các khách hàng tăng
thêm hàng năm, thị trường nông thôn sẽ thật là hấp dẫn hơn đối với các tổ chức tín
dụng thương mại.
1.2Tổ chức tài chính vi mô
1.2.1 Định nghĩa tổ chức tài chính vi mô
Theo như quan điểm của ADB, “tổ chức tài chính vi mô là những tổ chức cung
cấp các dịch vụ tài chính cho các hộ gia đình và cá nhân nghèo và có thu nhập
thấp”. Định nghĩa này của ADB được sử dụng rất rộng rãi trong giới thực hành tài
chính vi mô. Đây cũng được coi là định nghĩa chung nhất về một tổ chức tài chính vi
mô. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số định nghĩa khác nhau về tổ chức tài chính vi
mô. Nhìn chung các định nghĩa khác định nghĩa của ADB đều chỉ ra thêm một số
đặc điểm của nguồn vốn hay tổ chức của tổ chức tài chính vi mô tùy thuộc vào đặc
điểm thực hành tài chính vi mô ở từng nơi.
Trong Nghị định 28/2005 của ngân hàng nhà nước Việt Nam, tại điều 2 khoản 2
có định nghĩa tổ chức tài chính vi mô (tổ chức tài chính quy mô nhỏ) như sau:” tổ
chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và huy động tiết
kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia
đình và cá nhân có thu nhập thấp”. Đây là một định nghĩa chỉ thêm ra đặc điểm về
nguồn vốn của một tổ chức tài chính vi mô, đó là có thể huy động vồn thương mại từ
các nguồn như đi vay và huy động tiết kiệm bên ngoài bên cạnh vốn tự có. Bên cạnh
đó, mặc dù không được chỉ ra trong định nghĩa này nhưng việc các tổ chức tài chính
vi mô hiện đang họat động ở Việt Nam lại sử dụng rất nhiều vốn tài trợ từ các nhà
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
tài trợ. Các nhà tài trợ cho họat động tài chính vi mô có thể là các chính phủ, các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức và các ngân hàng phát triển
1.2.2 Phân loại tổ chức tài chính vi mô
Ngừơi ta có thể phân loại các tổ chức tài chính vi mô theo nhiều tiêu thức như sự
điều chỉnh của luật pháp, đặc điểm sở hữu, đặc điểm về cơ cấu sản phẩm
• Phân loại theo sự điều chỉnh của các văn bản luật do ngân hàng nhà nước
ban hành. Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất trong giới nghiên
cứu và thực hành tài chính vi mô. Theo cách phân loại này, các tổ chức tài chính
vi mô được chia thành ba nhóm:
- Khu vực chính thức gồm các tổ chức chịu hoàn tòan sự điều chỉnh bởi các văn
bản của ngân hàng nhà nước. Các tổ chức nằm trong nhóm này bao gồm những
ngân hàng thương mại hoạt động chuyên biệt trong lĩnh vực tài chính vi mô, các
ngân hàng hỗ trợ phát triển dành cho người nghèo do chính phủ thành lập, các
ngân hàng làng xã. Ở Việt Nam, những tổ chức họat động trong lĩnh vực tài
chính vi mô thuộc nhóm này gồm : Ngân hàng Chính sách Xã hôi, ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn.
- Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức chịu sự điều chỉnh một phần bởi các
văn bản pháp quy của ngân hàng nhà nước. Tại một số quốc gia, các chính phủ
đã ban hành một số văn bản pháp quy chuyên biệt để điều hành họat động của
các tổ chức này. Các tổ chức tài chính vi mô nămg tỏng nhóm này gồm: Các tổ
chức phi chính phủ, các chương trình cho người có thu nhập thấp của chính phủ,
các tổ chức đoàn thể xã hội. Ở Việt Nam, một số tổ chức tài chính vi mô được
xếp vào nhóm này gồm: Quỹ tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
(TYM), các tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam như Save Children
US, GRET, Bình Minh CDC.
- Khu vực phi chính thức gồm các tổ chức và cá nhân họat động không chịu bất cứ
điều chỉnh nào của các văn bản pháp quy. Những tổ chức họat động trong nhóm
này là những nhóm cho vay và tiết kiệm tự nguyên trong cộng đồng, những
người cho vay nặng lãi, gia đình, những bạn hàng…
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
• Phân loại theo cơ cấu sở hữu
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô thuộc sở hữu của chính phủ gồm những tổ
chức được thành lập dựa trên vốn của chính phủ và được đìêu hành bởi chính
phủ. Hầu hết ở các nước đều có dạng tổ chức như thế này. Chúng tồn tại dưới
danh nghĩa là những ngân hàng dành cho người nghèo và thực hiện các chương
trinh phát triển cho người nghèo. Những ngân hàng dạng này thường được các
chính phủ sở tại hỗ trợ rất nhiều nên không mấy khi sử dụng tới vồn tài trợ từ
bên ngòai.
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô được thành lập trên cơ sở vốn góp của các cổ
đông. Các cổ đông của nó có thể là các tổ chức tài chính, các cá nhân, các khách
hàng của chính tổ chức và cả các chính phủ. Do đặc điểm có sự góp vồn nên các
tổ chức này được đòi hỏi phải chia lợi tức cho các cổ đông của nó từ phần lợi
nhuận au thuế. Cổ phần của các cổ đông có thể được chuyển nhượng dựa trên
các quy định của pháp luật của ở nước sở tại.
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô được thành lập bởi các cơ quan đòan thể xã
hội và các tổ chức phi chính phủ. Đặc điểm quan trọng nhát của nhóm này là sử
dụng tương đối nhiều vốn tài trợ của các nhà tài trợ bên ngòai và tổ chức mẹ.
Vốn góp của chủ sở hữu của các tổ chức trong nhóm này thường rất nhỏ do phần
lớn là lợi nhuận giữ lại lũy kế qua các năm.
• Phân loại theo cơ cấu sản phẩm
- Nhóm tổ chức triển khai đơn một sản phẩm tài chính. Phổ biến nhất trong nhóm
này là những tổ chức chỉ thực hiện duy nhất một chương trình cho vay tới các
thành viên của nó. Trên thực tế, tiết kiệm có xuất hiện trong họat động của tổ
chức này nhưng các khỏan tiết kiệm này lại gắn chặt với họat động cho vay do
được coi như là một phương pháp bảo đảm cho các khỏan vay. Các tổ chức
trong nhóm này thường không chỉ tập trung tới họat động tài chính cho người
nghèo mà còn cung cấp đa dạng các phúc lợi xã hội khác. Chẳng hạn, bên cạnh
cho vay, một số tổ chức còn cung cấp các khóa đào tạo miễn phí cho người
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
nghèo về nông nghiệp hoặc một số tổ chức lại cung cấp các hỗ trợ cho địa
phương để nâng cao năng lực y tế cơ sở …
- Nhóm tổ chức cung cấp đa dạng các sản phẩm tài chính. Đặc điểm của các tổ
chức này là họat động tập trung trong lĩnh vực cung cấp các sản phẩm tài chính
cho người nghèo. Các sản phẩm được cung cấp không chỉ bó hẹp trong tiết kiệm
và cho vay mà có thể mở rộng ra các sản phẩm bảo hiểm và thanh toán. Đối với
các tổ chức này, họat động đào tạo cho các thành viên cũng được tiến hành
nhưng không nên hiểu đây là một họat động chuyên biệt của nó. Trên thực tế,
đây chỉ mà những đạo tạo mang tình phụ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho các
hoạt động cung cấp dịch vụ của tổ chức.
1.3Các dịch vụ tài chính chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức tài
chính vi mô
Các tổ chức tài chính vi mô trên tòan thế giới hiện đang cung cấp tới những khách
hàng của mình một danh mục đa dạng các sản phẩm tài chính. Dứoi đây là các sản
phẩm tài chính chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi mô:
1.3.1 Cung cấp các khỏan tín dụng nhỏ
Cung cấp các khỏan tín dụng nhỏ được xem là dịch vụ đầu tiên được cung cấp tới
người nghèo bởi các tổ chức tài chính vi mô. Thật khó để có thể định nghĩa thế nào
được gọi là một khỏan tín dụng nhỏ vì điều này còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế
của mỗi khu vực nơi mà tổ chức cung cấp dịch vụ. Thông thường, hiện nay, các tổ
chức cung cấp các khỏan vay có giá trị bình quân khoảng 300 USD.
Về vấn đề lãi suất, hiện nay vẫn còn tồn tại hai chính sách lãi suất trong họat động
tài chính vi mô. Chính sách thứ nhất là chính sách lãi suất bao cấp, tức là thục hiện
lãi suât thấp hơn so với lãi suất cho vay bình quân của thị trường (thậm chí ngang
bằng hoặc thấp hơn lãi suất huy động trên thị trường) và không đủ bù đắp các chi phí
họat động. Có hai hình thức của lãi suất bao cấpi) thực hiện lãi suất bao cấp một
cách tự nguyện trong các chương trình tín dụng cho người nghèo; (ii) chính phủ ban
hành các chính sách để buộc các tổ chức phải thực hiện chính sách lãi suất bao cấp.
Mục tiêu của chính sách này là mang lại dịch vụ tín dụng rẻ cho người nghèo nhằm
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
khuyến khích họ vay vốn mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, hậu quả của chính sách này
là sự mất bền vững trong hoạt động tài chính vi mô và lãng phí trầm trọng nguồn lực
khi mà ngừoi ta không nhìn nhận một cách chính xác thực lực tài chính của chính
các khách hàng của mình.
Chính sách lãi suất thứ hai là thực hiện lãi suất thương mại, tức là lãi suất phải bù
đắp đủ các chi phí cho hoạt động tín dụng. Với việc thực hiện lãi suất này, các tổ
chức có thể đủ khả năng đảm bảo khả năng tự bền vững và hạn chế sự phụ thuộc vào
hỗ trợ tài chính của các nhà tài trợ để duy trì hoạt động. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp để đảm bảo đủ bù đắp các chi phí thì lãi suất đặt ra lại quá cao và tổ chức
có thể bị coi là những kẻ cho vay nặng lãi.
Về thời hạn của các khỏan vay. Các tổ chức chủ yếu cung cấp các khỏan vốn
trung và ngắn hạn. Tỷ trọng của các khỏan vốn ngắn hạn (dưới 1 năm) luôn cao và
chiếm vị thế áp đảo trong cơ cấu cho vay. Các khỏan vốn trung hạn cũng được cung
cấp, tuy nhiên, hầu như không có tổ chức nào cung cấp khỏan vốn có thời hạn trên 3
năm.
Mục đích của các khoản cho vay hiện nay cũng được mở rộng. Trong thời gian
đầu cung cấp các khỏan vay vi mô, các tổ chức thường chỉ chấp nhận cho vay nếu
khỏan vay đó để tài trợ cho họat động sản xuất kinh doanh tạo thu nhập. Về sau này,
khi nhận ra rằng nhu cầu tiêu dùng của người nghèo là rất lờn và họ có thể sử dụng
chính các khỏan vay tạo thu nhập để sử dụng vào mục đích tiêu dùng rồi lấy những
khỏan khác bù vào, các tổ chức đã thực hiện cho vay các khỏan vay với mục đích
tiêu dùng như xây nhà, đào giếng … họăc những khỏan vay phục vụ những trường
hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, không phải khách hàng nào của tổ chức cũng được tiếp
cận tới những khỏan vốn này. Để được vay, họ thường phải đảm bảo một số điều
kiện về thời gian tham gia tổ chức, kỷ luật hòan trả …
Tài sản thế chấp đựơc xem là một phần đi liền đối với họat động cho vay của bất
cứ một tổ chức tín dụng nào. Đối với tài chính vi mô, tài sản thế chấp có một số khác
biệt. Rất ít các khỏan vay của tài chính vi mô đòi hỏi tài sản thế chấp dưới dạng hiện
vật. Thông thường,tổ chức tài chính vi mô sử dụng những hình thức bảo đảm sau:
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP – NĂM 2007
- Sự bảo đảm của tổ, nhóm. Hình thức bảo đảm này xuất hiện trong hình thức cho
vay theo tổ nhóm. Theo đó, tổ nhóm sẽ chịu trách nhiệm về khỏan vay của các
thành viên trong nhóm của mình.
- Tiêt kiệm bắt buộc, loại tiết kiệm này có thể được sử dụng rỗng rãi trong tât cả
các phương pháp tiếp cận. Trung bình hàng tuần, khách hàng phải nộp một
khỏan tiết kiệm bắt buộc có giá trị tùy thuộc vào giá trị khỏan vay hoặc quy định
của tổ chức. Tiết kiệm bắt buộc tạo thành một khỏan bảo đảm cho khỏan vay của
khách hàng. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ thì số tiền trong
tài khỏan tiết kiệm này sẽ được lấy ra để trừ nợ. Bên cạnh đó, tiết kiệm bắt buộc
còn có tác dụng là rèn luyện tình thần tiết kiệm trong người nghèo để khi họ
hòan trả hết nợ thì họ có một khoản tiết kiệm.
Về phương pháp tiếp cận, hiện nay có ba hình thức chủ yếu để các tổ chức cung
cấp các dịch vụ của mình tới khách hàng. (trình bày cụ thể trong phụ lục 1)
- Cho vay cá thể, tức là tổ chức cung cấp các khỏan vay tới từng cá nhân và người
này không thuộc bất cứ một nhóm hỗ trợ hay bảo đảm nào. Phương pháp cho
vay này không thích hợp đối với đối tượng khách hàng có thu nhập nằm dưới
ranh giới nghèo đói. Hơn nữa, độ rủi ro của phương pháp này cao hơn nên đòi
hỏi khách hàng của tổ chức phải có hoạt động tạo thu nhập tương đối ổn định.
Các khỏan vay thường nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản cố định có giá trị
tương đối lớn.
- Cho vay theo nhóm, hiện phương pháp tiếp cận này được thực hiện theo hai
phương pháp là phương pháp cho vay theo nhóm kiểu của ngân hàng Grameen
Bank và theo mô hình nhóm tương hỗ. Trong phương pháp cho vay này có sự
đảm bảo nhóm cho khỏan vay của mỗi thành viên. Thêm vào đó, việc tham gia
vào các buổi sinh họat hàng tuần là bắt buộc đối với những thành viên. Tại
những buổi sinh họat như thế này, việc xem xét các khỏan vay, phát vốn, hòan
trả và trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên cũng được diễn ra. Tiết kiệm bắt
buộc được thực hiện trong cho vay tổ nhóm. Chính bởi những điều này mà
SINH VIÊN TRẦN THỊ NGỌC TÚ – LỚP TCDN 45C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét