Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ": http://123doc.vn/document/557296-thuc-trang-va-giai-phap-nham-day-manh-xuat-khau-san-pham-nong-san-viet-nam-vao-thi-truong-my.htm


Về khí hậu.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hởng sâu sắc của chế độ gió
mùa Châu á. Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miền
Nam. Miền Bắc có mùa đông lạnh. Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông
Cửu Long có khí hậu kiểu Nam á. Đây là điều kiện khí hậu thuận lợi để đa dạng
hoá các loại cây trồng. Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào phân bổ
khá đồng đều trên phạm vi cả nớc. Tiềm năng nhiệt của nớc ta đợc xếp vào dạng
giàu có với số giờ nắng cao, cờng độ bức xạ lớn, độ ẩm tơng đối trong năm lớn hơn
80%, lợng ma khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý tởng cho nhiều loại cây
trồng sinh trởng và phát triển.
Vị trí địa lý và các cảng khẩu.
Từ trớc đến nay, một khối lợng lớn hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đợc
vận chuyển bằng đờng biển. So với các phơng thức vận tải quốc tế bằng đờng sắt, đ-
ờng ống và đờng hàng không thì phơng thức vận tải này có nhiều thuận lợi hơn,
thông dụng hơn và có mức cớc phí rẻ hơn.
Trong thực tiễn chuyên chở bằng đờng biển, các doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều thuận lợi nổi bật. Đờng biển Việt Nam có hình chữ S, hệ thống cảng biển nói
chung đều nằm sát đờng hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thể hành
trình theo tất cả các chuyến đi Đông Bắc á, Đông Nam á, Thái Bình Dơng, Trung
cận Đông, Châu Phi, Châu Mỹ. Một số cảng có khả năng bốc xếp hàng xuống tàu
lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt, lại gần đờng hàng hải quốc tế.
Về nguồn nhân lực.
Dân số nớc ta là gần 80 triệu ngời, cơ cấu dân số trẻ với trên 80% sống bằng
nghề nông. Đây là một lực lợng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực nông
nghiệp. Mặc dù chất lợng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều quốc gia
khác trên thế giới nhng con ngời Việt Nam với bản chất cần cù sáng tạo, ham học hỏi
là tiềm năng lớn góp phần vào chất lợng lao động ngành nông nghiệp Việt Nam.
Tình hình kinh tế của Việt Nam với các chính sách nông nghiệp.
Với mục đích hoà nhập vào đời sống kinh tế thế giới và tiến tới việc mở rộng thị
trờng xuất khẩu cho hàng hóa xuất khẩu, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các tổ
chức quốc tế và khu vực.
Tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN và
đã ký kết các văn kiện của hiệp hội nh hiệp định khung về tăng cờng hợp tác
5
ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), phấn đấu gia nhập
WTO. Ngoài ra Việt Nam còn xúc tiến thơng mại nhằm cung cấp cho các nhà sản
xuất những thông tin đầy đủ về thị trờng xuất khẩu nh trung tâm xúc tiến thơng mại
OSAKA và ROMA.
Ngoài những điều kiện thuận lợi trên, với quan điểm của Đảng và Nhà nớc Việt
Nam, xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu nên việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu
hàng nông sản cũng đợc chú trọng và quan tâm. Việc u đãi đầu t trong và ngoài nớc
vào lực lợng sản xuất nông sản đã và đang tạo đợc động lực mới cho sự phát triển
của ngành này. Việc đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng
tạo đợc những bớc đột phá.
2. Dự báo tiềm năng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam vào thị trờng Mỹ.
Dự báo đợc xây dựng trên hai cơ sở quan trọng. Đó là, chiến lợc phát triển kinh
tế xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001 2010 và chỉ thị của Thủ tớng chính phủ về
chiến lợc phát triển hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 2010.
+ Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2000.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX quyết định chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội của Việt Nam trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI (2001-2010) là
Chiến lợc đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền tảng để đến 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp.
Mục tiêu tổng quát của chiến lợc 10 năm (2001-2010) là đa nớc ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân,
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế, tạo nền tảng đến năm 2020 đa nớc
ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
Để thực hiện đợc mục tiêu của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội trong giai
đoạn từ 2001-2010, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng nêu rõ định hớng phát
triển kinh tế đối ngoại trong đó có định hớng phát triển hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam. Cụ thể về xuất khẩu:
- Tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. Tạo thị trờng ổn định cho một số mặt hàng
nông sản- thực phẩm và công nghiệp có khả năng cạnh tranh, tìm kiếm các thị
trờng cho mặt hàng xuất khẩu mới, nâng cao chất lợng cho các mặt hàng xuất
khẩu.
- Phấn đấu đạt tổng kim ngạnh xuất khẩu 5 năm tới đạt 114 tỷ USD, trong đó
nhóm hàng nông lâm thuỷ sản chiếm 30 % tổng kim ngạch XK, tăng bình
quân hàng năm 16,2 %.
6
+ Chiến lợc phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2010-2020.
Để thực hiện chiến lợc, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và định
hớng phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng của Đại hội Đảng IX, ngày 27

tháng 10
năm 2000, Thủ tớng Chính phủ đã ra chỉ thị số 22/2000/CT-TTg về chiến lợc phát
triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010. Chỉ thị khẳng định:
Chiến lợc phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010, nhất
là xuất khẩu phải là chiến lợc tăng tốc toàn diện, phải có những khâu đột phá với
bớc đi vững chắc tiếp tục chủ tr ơng dành u tiên cao nhất cho xuất khẩu Chỉ thị
nêu rõ:
- Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 phải đạt mức tăng trởng
bình quân từ 15%/năm trở lên phấn đấu cân bằng cán cân th ơng mại vào
những năm 2009-2010 và xuất siêu vào thời kỳ sau 2010.
- Giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng công
nghệ mới
- Đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trờng có sức mua lớn nh
Mỹ, EU
3. Nhu cầu nhập hàng nông sản vào thị trờng Mỹ.
Thị trờng Mỹ là một thị trờng nhập khẩu mới, đầy tiềm năng đối với hàng hoá
nói chung của Việt Nam. Căn cứ vào thực trạng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang
Mỹ trong thời gian qua, căn cứ vào định hớng chiến lợc phát triển xuất nhập khẩu
của Việt Nam giai đoạn 2001-2010, đặc biệt, căn cứ vào chính sách chế độ qui chế
điều tiết hoạt động XNK giữa hai nớc đã đạt đợc thoả thuận trong Hiệp Định Thơng
Mại song phơng có thể dự báo rằng, riêng đối với thị trờng này, kim ngạnh hàng hoá
Việt Nam xuất sang Mỹ sẽ tăng 15% hàng năm trong ba năm đầu (sau khi Hiệp
Định có hiệu lực) và 18% cho ba năm tiếp theo và giữ ở vị trí tăng lên 15% cho đến
hết năm 2010.
Bảng 1: Dự báo tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt
Nam sang Mỹ
Đơn vị tính: %
Năm 2000 2001-2004 2005-2007 2008-2010
Tốc độ tăng trởng bình quân
liên hoàn (%)
8 15
*
18
*
>15
Nguồn: (Báo cáo Thơng Vụ Việt Nam tại Mỹ)
Ghi chú: (*) là tốc độ tăng trởng bình quân cho mỗi năm của cả thời kỳ 3 năm
7
Nhu cầu về các mặt hàng nông sản trên thị trờng Mỹ
- Cà phê:Tổng nhập của Mỹ đối với các loại cà phê năm 2000 là 3,726 tỷ USD
năm 2001 tăng lên 3,928 tỷ USD. Dự kiến trong 10 năm nữa, nhu cầu nhập
khẩu của Mỹ sẽ tăng khoảng 10%/năm ( Báo cáo Thơng vụ Việt Nam tại Mỹ).
Nhu cầu tiêu dùng cà phê của Mỹ rất cao khoảng 17,8 triệu bao (bao 60 ký)
năm 2000 18 triệu bao năm 2001 và còn tiếp tục tăng trong những năm tiếp
theo. Hàng năm Mỹ chỉ sản xuất đợc khoảng 250000 bao tức 15000 tấn/năm.
Nếu giá cả và chất lợng cạnh tranh tốt các doanh nghiệp Việt Nam có thể tăng
xuất khẩu vào Mỹ theo nhu cầu của thị trờng, ít nhất với mức tăng bình quân
(10-15%/năm), đạt khoảng 350 triệu USD vào năm 2010.
- Hạt tiêu: Hàng năm Mỹ nhập khẩu số lợng khá lớn hạt tiêu cha xay và đã xay.
Trên thế giới nhập khẩu 202 ngàn tấn, trị giá khoảng 931 triệu USD, trong đó
Mỹ nhập khẩu 43,3 ngàn tấn (22% thị phần) khoảng 198 triệu USD. Mặt hàng
này Việt Nam thâm nhập vào Mỹ chậm hơn cà phê, nhng từ những năm tới,
khả năng tăng xuất khẩu mặt hàng này sẽ cao vì Trung Quốc và Tây Ban Nha,
những nớc hiện đang đứng trên Việt Nam về XK mặt hàng này lại không có
nhiều hạt tiêu nh Việt Nam.
- Hạt điều: Thị trờng Mỹ cũng tiêu thụ mạnh loại mặt hàng này dới dạng thô và
chế biến. Từ năm 1996, Việt Nam có điều xuất khẩu sang thị trờng Mỹ. Năm
2001 đạt 32,48 triệu USD ở mặt hàng điều, đứng thứ ba sau ấn độ và Brazil
trên thị trờng Mỹ.
- Chè các loại: Hàng năm Mỹ nhập khẩu các loại chè xanh và đen, trung bình
130 triệu USD/ năm. Giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có thể tăng đều đặn
20%/năm nếu tăng đợc xuất khẩu trực tiếp và có thể đạt 3 triệu USD vào năm
2010.
- Các mặt hàng gia vị khác: Mỹ là thị trờng có nhiều ngời gốc Châu á và có
nhiều doanh nghiệp nhỏ của Việt kiều nhập khẩu vào Mỹ, trong những năm
sau này có thể tăng nhanh mặt hàng này, tới năm 2010 có thể đạt giá trị xuất
khẩu 1 triệu USD.
- Cao su: Việt Nam đứng thứ năm trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu cao su
thiên nhiên. Mỹ hàng năm nhập khẩu trên dới 1 tỷ USD cao su thiên nhiên và
trên 9 tỷ sản phẩm cao su.
- Mặt hàng rau quả tơi và chế biến: là nớc có nền nông nghiệp lớn nhất thế
giới và có nhiều loại rau quả với số lợng lớn, nhng hàng năm Mỹ cũng là nớc
nhu cầu nhập khẩu khá lớn rau quả tơi và chế biến. Hàng năm Mỹ nhập khẩu
8
khoảng 2,7 tỷ USD rau tơi, 2,3 tỷ USD rau quả khô và đóng hộp, 3,5 tỷ USD
trái cây và các loại hạt ăn đợc. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ là
tỏi, đậu xanh, đậu phộng, dứa đóng hộp, chuối khô trị giá xuất khẩu từng
hợp đồng nhỏ.
4. Định hớng của các doanh nghiệp Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang có thuận lợi lớn
trong việc xuất khẩu hàng nông sản sang thị trờng Mỹ, đó là Hiệp Định thơng mại
Việt Nam- Hoa Kỳ đã đợc ký kết và các loại hàng nông sản nh cà phê nhân, chè, hạt
tiêu các loại, cao su thiên nhiên thuế đợc hởng hay không đợc hởng Qui chế Tối huệ
quốc ( Most Favoured Nation- MFN ) đều bằng 0.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng Mỹ năm 2001 mới đạt
khoảng 900 triệu USD, trong khi đó khả năng nhập khẩu của thị trờng Mỹ lớn
khoảng 1300 tỷ USD/năm (Việt Nam mới chỉ chiếm 0,07% thị phần nhập khẩu của
Mỹ).
Thời gian qua, một số hàng nông sản của Việt Nam nh cà phê, hạt tiêu, chè, quế,
hạt điều đã có mặt trên thị trờng Mỹ và đứng thứ 3 đến thứ 9 trong các nớc có hàng
xuất khẩu sang thị trờng Mỹ .
Tơng lai trong vòng 5 năm đến 10 năm nữa kim ngạch các mặt hàng này của các
doanh nghiệp Việt Nam còn tăng lên theo hớng :
Hạt tiêu của Việt Nam sẽ tăng kim ngạch , vợt qua Trung Quốc , Tây Ban Nha để
trở thành 1 trong 5 nớc xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất vào thị trờng Hoa kỳ .
Chè đen của Việt Nam có khả năng tăng kim ngạch trung bình trên 20% /năm
trên thị trờng Hoa Kỳ.
Hạt điều của Việt Nam có sản lợng trên dới 30.000 tấn hàng năm, có thị trờng
khá ổn định với 2 thị trờng lớn hiện nay là Hoa Kỳ và Trung Quốc tiêu thụ hàng năm
70% lợng nhân điều xuất khẩu, còn lại Việt Nam bán cho Australia và các nớc Châu
âu.
Riêng các mặt hàng cha chế biến nh gạo , bắp , đậu nành , hoa quả, xuất
khẩu sang Mỹ bị hạn chế do Mỹ cũng là nớc sản xuất nông sản lớn của thế giới về
các loại này.
Cà phê Việt nam xuất khẩu sang Mỹ hiện nay đã đạt khoảng 40.000 tấn /năm,
chủ yếu là cà phê hạt. Các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình giao lu buôn bán
9
với Mỹ sẽ phải học hỏi kỹ thuật công nghệ chế biến cà phê để có thể xuất khẩu đợc
cà phê đã qua chế biến.
Theo nh định hớng, trong giai đoạn tiếp theo các doanh nghiệp Việt Nam sẽ
phát triển xuất khẩu sang thị trờng Mỹ những mặt hàng nông sản chế biến sâu và có
hàm lợng công nghệ cao.
III. Những thời cơ và thách thức đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam vào
thị trờng Mỹ.
+ Những thời cơ:
Mỹ là thị trờng rộng lớn với số dân 284,5 triệu ngời và là một trong những nớc
có mức thu nhập bình quân đầu ngời cao nhất thế giới.
Hiệp định Thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam sẽ thuận lợi trong việc mở rộng thị trờng tiêu thụ hàng nông sản, đặc
biệt một số hàng nông sản chủ lực của Việt Nam góp phần nâng kim ngạch xuất
khẩu, cải thiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ thơng mại với Mỹ. Mặt hàng
rau tơi xuất sang Mỹ chênh lệch giữa MFN và không có MFN là 10-50%, nên khi có
MFN, doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu hàng chục triệu USD rau quả tơi
sang Mỹ, nếu đảm bảo tiêu chuẩn chất lợng, an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt
của Mỹ. Hiện nay mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ khoảng 30 triệu USD hạt
điều, kim ngạch này có thể tăng lên gấp đôi, nếu các doanh nghiệp sản xuất và chế
biến mặt hàng này đáp ứng đòi hỏi của chất lợng.
Chính phủ Việt Nam đang có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ cho mặt
hàng nông sản xuất khẩu: Hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ xây
dựng qui hoạch, hỗ trợ đầu t, hỗ trợ xúc tiến thơng mại Những hỗ trợ này góp phần
tăng tiềm lực cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trờng Mỹ.
+ Những thách thức:
Mỹ tăng cờng kiểm soát thông qua các tiêu chuẩn nh: GMP, ISO, HACCP, an
toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất và chế biến mặt hàng nông sản khi đ a vào
thị trờng Mỹ. Muốn đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đối với hàng nông sản thì phải
quan tâm từ khâu chọn giống, kỹ thuật chăm sóc, kỹ thuật thu hoạch và xử lý sau thu
hoạch, bảo quản, vận chuyển Trong khi đó sản xuất kinh doanh mặt hàng này của
Việt Nam còn rất lạc hậu, mang tính hàng hoá thấp.
10
Mặc dù hiệp định Thơng Mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, hàng hoá Việt
Nam vào Mỹ sẽ đợc hởng MFN nhng cha ở mức cao và thờng xuyên, vẫn phải cạnh
tranh quyết liệt với các hàng hoá của Trung Quốc, của các nớc ASEAN và nhiều nớc
khác trên thị trờng Mỹ, trong cuộc chiến này giá cả và chất lợng mang tính quyết
định. Hàng nông sản của Việt Nam với chủng loại tơng tự nhng có chất lợng thấp
hơn và giá thành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá các nớc nói trên vốn đã
có mặt tại thị trờng Mỹ trớc hàng hoá của Việt Nam hàng chục năm.
Nớc Mỹ là một nớc có nền nông nghiệp phát triển có năng xuất cao, là nớc
hàng năm nhập khẩu hàng tỷ USD hàng nông sản. Cho nên hàng nông sản của Việt
Nam phải cạnh tranh đợc với các hàng nông sản của các doanh nghiệp Mỹ mới có
thể có đợc chỗ đứng trên thị trờng.
Luật pháp Mỹ qui định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập khẩu
hàng hoá từ nớc ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của Chính Phủ liên Bang, Bộ thơng
Mại, Văn phòng Đại diện thơng mại, uỷ ban Thơng Mại Quốc Tế, và cụ thể nhất là
Hải quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm về vấn đề này. Các giấy tờ cần xuất
trình trong qui trình nhập hàng vào Mỹ gồm: giấy nhập khẩu hải quan, hoá đơn th-
ơng mại, danh mục kiện hàng (nếu có), giấy tờ khác theo yêu cầu cụ thể của Chính
quyền Liên bang hay địa phơng. Mỹ có rất nhiều qui định luật chặt chẽ và chi tiết
trong buôn bán, các qui định về chất lợng, kỹ thuật Vì thế, khi các nhà xuất khẩu
Việt Nam cha nắm rõ hệ thống qui định về luật lệ của Mỹ thờng cảm thấy khó làm
ăn tại thị trờng này. Một số qui định của Mỹ về vấn đề nhập khẩu: Nhãn hiệu và
nhãn thơng mại, hạn ngạch nhập khẩu, làm thủ tục hải quan. Luật chống bán phá giá,
vấn đề gian lận thơng mại
- Tại thị trờng Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn chất lợng sản
phẩm. Ngời tiêu dùng Mỹ thờng không muốn trả tiền theo giá niêm yết. Hàng hoá
bán tại Mỹ thờng phải kèm theo dịch vụ sau bán. Số lợng và chất lợng dịch vụ này là
điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối với ngời bán. Các nhà kinh doanh tại thị trờng
Mỹ phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt. Ngời tiêu dùng Mỹ thờng nôn nóng, nhng lại
mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và thay đổi nhanh chóng đổi mới cải tiến
đối với sản phẩm của mình.
Nh vậy, những qui định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu là những rào
cản phi thuế đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu chất lợng hàng hoá không tăng
và giá cả không hạ thì việc tăng kim ngạch và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt
Nam tại thị trờng Mỹ là một vấn đề nan giải.
11
12
Chơng II
Thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông sản
việt nam vào thị trờng mỹ
I. Tình hình hoạt động kinh doanh nông sản Việt Nam vào thị trờng Mỹ
1. Kim ngạch một số mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu vào thị tr-
ờng Mỹ.
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam nh cà phê, hạt tiêu, chè, quế, hạt
điều đã có mặt trên thị tr ờng Mỹ, đứng hàng thứ 3 đến thứ 9 trong số các nớc có
hàng nhập khẩu vào thị trờng Mỹ. Xét về cơ cấu xuất khẩu, hàng nông sản chiếm
phần chủ yếu và thờng tập trung vào một số mặt hàng ở bảng 2.
Bảng 2: Kim ngạch một số mặt hàng nông sản của Việt Nam vào thị tr-
ờng Mỹ
Đơn vị tính: 1000 USD
Nhóm hàng 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
1. Quả và
hạt
901 7.973 15.900 23.400 23.700 51.100 50.400
2. Cà phê,
chè, gia vị
143.455 110.910 108.208 142.600 100.100 155.300 151.600
3. Ngũ cốc 5 5.845 20.995 5.300 5.472 6.421 6.956
4. Chế phẩm
từ ngũ cốc,
bột mỳ
412 1.150 1.828 1.890 2.005 2.200 2.305
5. Chế phẩm
từ rau
195 1.987 2.917 3.152 3.428 3.076 4.784
6. Cao su và
sản phẩm từ
cao su
1.572 564 3.031 2.900 3.500 2.400 4.781
Nguồn : Hải quan Mỹ và cơ sở dữ liệu của Uỷ ban thơng mại quốc tế Hoa
Kỳ (USITC).
Cà phê:
Cà phê là mặt hàng có giá trị kim ngạch lớn nhất. Hàng năm, nớc ta xuất khẩu
với kim ngạch đều trên 100 triệu USD ( số lợng khoảng 40000 tấn/năm). Việt Nam
bắt đầu xuất khẩu cà phê Robusta vào Mỹ từ năm 1994 và ngay năm đầu tiên đã đạt
32 triệu USD. Sau khi suy giảm vào các năm 1997, 1998 (nguyên nhân là do giá cà
13
phê trên thị trờng thế giới có biến động) kim ngạch đã tăng trở lại vào năm 1999 đạt
142,6 triệu USD. Hiện nay, Việt Nam đã vơn lên đứng thứ 7 về giá trị trong số các n-
ớc xuất khẩu cà phê vào Mỹ (theo số liệu thống kê của Hải Quan Mỹ).
Mặt hàng chè:
Năm 1998 Việt Nam xuất sang Mỹ 842 ngàn USD đừng hàng thứ 15 trong số
các nớc xuất khẩu chè vào thị trờng Mỹ. Năm 2001 xuất khẩu chè đã đạt kim ngạch
trên 1 triệu USD. Do thuế nhập khẩu chè đen là 0% cho cả MFN và non- MFN nên
chè đen của ta có khả năng tăng kim ngạch trung bình 20% năm trên thị trờng Mỹ
trong thời gian tới.
Hạt tiêu:
Mặt hàng này có mặt tại thị trờng Mỹ sau mặt hàng cà phê, năm 2000 đạt kim
ngạch 3,8 triệu USD. Năm 2002 tăng lên 4,2 triệu USD đứng thứ 7 trong số các nớc
xuất khẩu hạt tiêu vào Mỹ. Hạt tiêu Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là loại hạt
tiêu đen, loại cha xay cha nghiền. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tăng kim ngạch,
vợt qua Trung Quốc và Tây Ban Nha để trở thành 1 trong 5 nớc xuất khẩu hạt tiêu
lớn nhất vào thị trờng Mỹ.
Quế:
Đây là sản phẩm có mức thuế non-MFN là 0% nên mặt hàng này năm 1996
xuất khẩu sang Mỹ đã đạt 878 ngàn USD. Năm 1998 giảm xuống còn 596 ngàn USD
nhng vẫn đứng hàng thứ 3 trong số các nớc xuất khẩu quế vào Mỹ. Năm 2002 kim
ngạch đã lên tới 984 ngàn USD. Dự kiến đến năm 2005 Việt Nam sẽ xuất khẩu sang
Mỹ khoảng 2 triệu USD chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu quế của Việt Nam.
Cao su:
Doanh số xuất khẩu ở mặt hàng cao su còn nhỏ. Năm 1998 cả hai nhóm mặt
hàng cao su thiên nhiên và sản phẩm cao su Việt Nam đa vào thị trờng Mỹ đạt giá trị
kim ngạch 3 triệu USD. Tuy có giá trị kim ngạch tăng trong những năm tiếp theo đến
năm 2002 đạt 4,781 triệu USD nhng so với kim ngạch của các nớc Đông Nam á
nh Malaysia, Indonesia, Thái Lan thì còn rất nhỏ. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu
cao su thiên nhiên của Thái Lan là 247 triệu USD, sản phẩm cao su là 546 triệu USD.
Rau và chế phẩm từ rau:
Một số mặt hàng nh quả hạt ăn đợc, rau quả chế biến và thực phẩm chế biến
cũng đợc xuất sang Mỹ. Trong đó thực phẩm chế biến đạt kim ngạch 17,8 triệu USD
vào năm 2001. Trong sản phẩm quả và hạt ăn đợc thì hạt điều là sản phẩm chủ yếu.
Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này đạt 7,6 triệu USD tới năm 2002 đạt 32
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét