8. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Về mặt lý luận, những kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng nhằm
xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp hướng
nghiệp cho học sinh THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho những người làm
công tác giáo dục hướng nghiệp thấy được thực trạng biện pháp quản lý của
công tác này để từ đó đưa ra các biện pháp, chủ trương phù hợp; đồng thời kết
quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tư liệu phục vụ công tác bồi dưỡng
chuyên đề “Quản lý hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ở trường
THPT ” cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường THPT huyện Mường
Khương tỉnh Lào Cai.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo và các phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý giáo dục hướng
nghiệp ở các trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường
THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương tỉnh
Lào Cai
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng
các trường THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường
Khương tỉnh Lào Cai
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. VÀI NÉT SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Giáo dục hướng nghiệp một số nước trên thế giới
Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa
người lao động với nghề nghiệp, đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc
gia quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên học sinh có sự chọn
lựa nghề nghiệp sao cho phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá
nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước.
Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học,
hướng nghiệp và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới.Thế kỷ 19 (năm 1848),
những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách:
“Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn
nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ. Ngày
25/12/1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành
nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng
nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24/5/1938 công tác hướng
nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng
nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành
người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp.
Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin
hướng học và hướng nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm
trường. Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa
nền giáo dục. Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao
động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm
6
coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các
môn khoa học). Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong
việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực
dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào
đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp.
Ở Liên Xô (cũ), công tác hướng nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm như: E.A Klimov, V.N. Supkin, V.P Gribanov, V.A Kruchetxki
[23]. Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ
chọn nghề, các giá trị về nghề mà học sinh quan tâm, đồng thời đưa ra những
chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề tốt hơn.
Ở Nhật Bản, đã từ lâu giáo dục Nhật Bản chú ý đến vấn đề hoàn thiện
nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ
năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ
thông. Chính vì vậy, ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách
giáo dục đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước. Trong đó có nhiều biện
pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về hướng nghiệp và khoa
học tự nhiên trong các trường phổ thông.
Về giáo dục hướng nghiệp, quan điểm của UNESCO cũng cho rằng
giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường
bước vào cuộc sống lao động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học
sinh lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nước như Pháp, Mỹ, Anh đã
thành lập các phòng hướng nghiệp, với các trắc nghiệm, họ đã tư vấn cho
thanh niên ở đó chọn được những nghề thích hợp với khả năng của bản thân
và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội.
7
1.1.2. Giáo dục hướng nghiệp và vấn đề tạo nguồn cán bộ DTTS ở
Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc vận dụng sáng tạo
các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp người
lao động mới. Từ năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trong việc giáo
dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội
chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã khẳng định:
“Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm.”.
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập
đến một yếu tố mới của giáo dục. Đó là, “Việc cung cấp cho học sinh những
tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những
ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội dung giáo
dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ.
Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng
học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra
trường”. Có thể coi quyết định này là một mốc quan trọng đối với sự phát
triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy,
hướng nghiệp được chính thức coi như là một môn học và đồng thời được coi
như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học.
Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [10,
11], Trần Khánh Đức [13], Hà Thế Truyền [36,37], Đặng Danh Ánh [01, 02],
Nguyễn Viết Sự [26, 27], Nguyễn Bá Minh [22], Nguyễn Đức Trí [34,35],
8
Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân [19]. Trong các công trình
nghiên cứu về công tác hướng nghiệp đã tập trung vào những vấn đề như:
+ Vấn đề lịch sử phát triển hệ thống công tác hướng nghiệp ở các nước
trên thế giới và ở Việt nam.
+ Bản chất khoa học của công tác hướng nghiệp
+ Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác hướng nghiệp
+ Nội dung cơ bản và các hình thức hướng nghiệp.
+ Vấn đề tổ chức và điều khiển công tác hướng nghiệp.
+ Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp, coi hướng nghiệp là loại
hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề
phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân. Đổi
mới nội dung hướng nghiệp trong nhà trường hiện nay đang là một yêu cầu
ngày càng cấp thiết và xác định trong những năm tới, công tác hướng nghiệp
phải đóng góp hơn nữa vào việc giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên,
định hướng thế hệ trẻ vào những lĩnh vực sản xuất cần phát triển, tạo ra cho
mỗi thanh, thiếu niên nhiều khả năng để tự tạo ra việc làm.
Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu
cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục đích, ý
nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.
Về lĩnh vực nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp và vấn đề tạo nguồn
đào tạo cán bộ đối với trường THPT, riêng về mảng phổ thông Dân tộc nội trú
đã có các tác giả và nhóm nghiên cứu:
Phạm Đình Thái [28], Trần Thanh Phúc [24, 25], Bùi Thị Ngọc Diệp
[12]. Các công trình nghiên cứu đều tập trung vào các vấn đề:
+ Tổng kết và đánh giá công tác giáo dục toàn diện cho học sinh DTNT
và vấn đề tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số cho các địa phương ở hệ
9
thống trường PTDTNT
+ Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và đổi mới phương
thức đào tạo cho các trường PTDTNT nhằm đáp ứng được yêu cầu của giáo
dục học sinh dân tộc trong thời kỳ mới
+ Nghiên cứu về lý luận GDHN cho học sinh dân tộc nội trú đặc biệt là
học sinh THPT ở trường DTNT Tỉnh
+ Đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở các trường
PTDTNT trên toàn quốc và đề ra các giải pháp thực hiện nhằm đáp ứng nhu
cầu về nguồn cán bộ dân tộc cho các địa phương.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập tương đối toàn diện tới các mặt
giáo dục đào tạo của trường PTDTNT đặc biệt là công tác hướng nghiệp
dạy nghề cho học sinh được coi là một trong những hoạt động cơ bản hình
thành nhân cách người cán bộ dân tộc nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị
của trường PTDTNT tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các địa phương từ năm
1990 trở lại đây.
Song hiện nay, trong bối cảnh KT - XH của đất nước có nhiều thay đổi,
yêu cầu về nguồn cán bộ dân tộc được nâng lên cả về số lượng với những tiêu
chí cao hơn về năng lực và phẩm chất cộng với sự cải cách về quản lý hành
chính đang được thực hiện ở khắp các địa phương trên cả nước thì nhu cầu về
nguồn cán bộ cấp xã trở nên cấp thiết. Giáo dục hướng nghiệp để đáp ứng nhu
cầu này trong các trường THPT là vấn đề chưa được đề cập một cách sâu sắc
và có tính rộng rãi trong các công trình nghiên cứu nêu trên. Các trường
THPT trong huyện thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương là đào tạo học
sinh theo hướng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực nên công tác GD nói
chung và GDHN nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu của GD THPT, đồng
thời đáp ứng nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo nhân lực cho địa phương. Đó chính
là quan điểm mà nhóm nghiên cứu đề tài đúc rút được qua các công trình nêu
10
trên để thực hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH
LÀO CAI
1.2.1. Giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp
1.2.1.1. Giáo dục Hướng nghiệp
1) Quan niệm về Giáo dục hướng nghiệp
“GDHN là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và
xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ
có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống.
GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp
phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân
công lao động trong xã hội. Có thể nói ngắn gọn là GDHN là hướng dẫn cho
học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề
mà sau này các em sẽ chọn”. [21,tr115]
2) Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
Theo chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT thì GDHN có nhiệm vụ:
- Giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp.
- Tổ chức cho học sinh học tập làm quen với một số nghề phổ biến
trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương.
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để
khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất.
- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang
cần lao động trẻ tuổi có văn hoá.
Ngoài ra nhiệm vụ của GDHN là phải làm cho học sinh có thể thích
ứng với sự dịch chuyển của cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động trong xã
hội và địa phương, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động. Đồng thời còn rèn
11
luyện kỹ năng nghề nghiệp, thao tác kỹ thuật, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng
tính toán và khả năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn cho học sinh.
3) Các con đường hướng nghiệp
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, GDHN trong trường phổ thông được
thực hiện qua bốn con đường:
- Hướng nghiệp qua dạy các môn văn hóa.
- Hướng nghiệp qua dạy kỹ thuật công nghệ và dạy nghề phổ thông.
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN).
- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa (HĐNK)
4) Nguyên tắc của giáo dục hướng nghiệp
a) Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục
Đảm bảo tính giáo dục là nguyên tắc cao nhất của GDHN trong trường
THPT, nó đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải vừa góp phần hình
thành nhân cách toàn diện cho học sinh vừa phải tiến hành đồng bộ với các
mặt giáo dục khác nhằm đảm bảo giáo dục toàn diện.
Đảm bảo tính giáo dục trong GDHN còn có nghĩa là phải tránh các tư
tưởng lệch lạc xảy ra trong trường học, tư tưởng cường điệu hoá hay coi nhẹ
một mặt nào đó trong quá trình giáo dục.
b) Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục KTTH trong GDHN
Trong quá trình giáo dục ở trường THPT thì giáo dục lao động
(GDLĐ), giáo dục kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và GDHN là 3 quá trình giáo
dục riêng biệt song chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau, cùng nhau
thực hiện mục tiêu chung là đào tạo con người lao động mới. Mối quan hệ
này được biểu diễn bằng sơ đồ 1.1
12
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa GDLĐ, GDHN và giáo dục KTTH
GDLĐ trong trường phổ thông phải tuân theo tinh thần KTTH trong đó
nội dung chính là trang bị cho học sinh những nguyên lý cơ bản chung nhất
của quá trình sản xuất đồng thời rèn luyện cho học sinh sử dụng và điều khiển
được công cụ sản xuất cơ bản của một số ngành nghề chính.
Giáo dục KTTH có mục đích góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện,
có khả năng lao động sáng tạo và có tiềm lực để chuyển đổi nghề khi kỹ thuật
và qui trình công nghệ đổi mới.
Do vậy GDLĐ, giáo dục KTTH, GDHN tuy không đồng nhất với nhau
nhưng đều có chung mục tiêu là đào tạo con người không những sẵn sàng lao động
mà còn lao động sáng tạo có khoa học và đạt kết quả cao. Chính vì vậy GDHN phải
tiến hành trên tinh thần giáo dục toàn diện, giáo dục lao động và KTTH.
c) Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong giáo dục
hướng nghiệp.
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình GDHN phải được tiến hành sao cho
quá trình tiếp thu các tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của các ngành nghề
khác nhau của học sinh, phải diễn ra nghiêm ngặt, phù hợp với logic khoa học
GDLĐ
GD KTTH GDHN
Đào tạo
con
người
lao động
13
của lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng, cũng như phù hợp với đặc điểm tâm,
sinh lý lứa tuổi và lao động nhận thức của học sinh.
Nguyên tắc này đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải tiến hành
bằng nhiều con đường khác nhau và phải huy động được sự tham gia đóng
góp của nhiều lực lượng như gia đình, nhà trường và xã hội.
d) Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của quá trình GDHN
Đảm bảo thực tiễn là nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong GDHN.
Trong quá trình GDHN nếu đảm bảo tính thực tiễn sẽ làm tăng khả năng ứng
dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, giúp học sinh có khả năng
sáng tạo, thích nghi nhanh chóng hơn với đời sống xã hội đầy sự thay đổi như
ngày nay.
Để nâng cao hiệu quả của GDHN trong giai đoạn hiện nay ngoài việc
đảm bảo các nguyên tắc trên của GDHN, ta còn phải quán triệt các yêu cầu
sau đây:
- GDHN góp phần điều chỉnh việc chọn nghề cho thanh thiếu niên theo
hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế: GDHN phải thông tin chính xác về yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc hướng chọn nghề
của mình.
- GDHN phải phát huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng
nghề nghiệp
- GDHN gắn với làm chủ công nghệ mới
- GDHN chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường nguồn
nhân lực
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét