Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Một số biện pháp về tổ chức nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt May Hà Nội

* Cơ sở được sử dụng rộng rãi nhất là tổ chức theo chức năng. Những
chức năng cần thiết điển hình như là sản xuất, marketing, tài chính, kế toán,
và nhân sự…
* Một cơ sở được sử dụng phổ biến nữa là phân chia các phòng ban theo
sản phẩm. Tất cả những công việc gắn với việc sản xuất và bán một sản phẩm
hay một chủng loại sản phấm sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của một nhà quản
lý.
*Các loại hình khách hàng mà cơ sở hướng tới cũng có thể được sử dụng
như một cơ sở để phân chia tổ chức thành các phòng ban bộ phận.
* Một cơ sở nữa là tập hợp các phòng ban theo địa bàn hoạt động. Mọi
hoạt động trong một khu vực nhất định sẽ được giao cho một nhà quản lý.
* Cũng nhiều khi, các tổ chức xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức dựa trên
các quá trình của công việc. Các quá trình ở đây chỉ những công đoạn kỹ
thuật cần thiết để làm ra sản phẩm.
* Ngoài ra chúng ta cũng có thể sử dụng nhiểu cơ sở cùng một lúc để
phân chia tổ chức thành các bộ phận, phòng ban. Như vậy chúng ta sẽ các bộ
phận, phòng ban được tổ chức theo mô hình ma trận hỗn hợp.
2.3. Phân chia lao động, xác định vị trí của từng cá nhân.
Việc phân chia lao động đề cập đến mức độ chuyên môn hoá các công
việc cao hơn nữa sau khi đã phân chia tổ chức thành các phân hệ, các bộ
phận. Quá trình này là sự quy định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân để mỗi
người có cơ sở rõ ràng trong việc thực hiện các công việc của mình.
Tất cả các tổ chức đều bao gồm những công việc được chuyên môn hoá
và xác định những nhiệm vụ rõ ràng đến từng cá nhân. Tuy nhiên có thể có
những công việc được chuyên môn hóa nhiều hơn hay ít hơn công việc kia.
Sự khác biệt về mức độ chuyên môn hoá giữa các công việc dựa trên những
khía cạnh sau: _ Dựa trên nhịp độ làm việc.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
_ Dựa trên tính lặp lại của công việc.
_ Dựa trên những yêu cầu về kỹ năng.
_ Dựa trên việc xác định rõ các phương pháp.
_ Dựa trên sự chú ý cần thiết.
2.4. Trao quyền hạn.
Trao quyền hạn tức trao quyền ra quyết định cho một người nào đó hoặc
một cấp quản lý nào đó, mang tính đơn phương và buộc những người khác
phải tuân theo những quyết định thuộc thẩm quyền của người được trao quyền
hạn.
Việc trao quyền hạn là hết sức cần thiết cho những người đứng đầu các nhóm
để tiến hành quản lý các hoạt động, làm tăng tính cạnh tranh trong nội bộ tổ
chức từ đó giúp cho mọi người làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho tổ
chức. Tuy nhiên việc trao quyền hạn cũng có những hạn chế riêng của nó như
làm tăng các chi phí về hành chính, về tổ chức, gây ra tình trạng trùng lắp các
chức năng… Ngược lại với trao quyền hạn là sự tập trung hoá. Càng trao
nhiều quyền hạn cho các cấp bên dưới thì tổ chức đó càng ít tập trung hơn.
Ngược lại, càng trao ít quyền hạn, thì tổ chức đó càng tập trung hơn
Một tổ chức giữ được cân bằng tốt nhất nếu có khả năng tập trung ở cấp
cao quyền ra các quyết định chiến lược và chính sách nhằm tạo khuôn khổ
thống nhất cho hoạt động của toàn tổ chức. Một khi các quyết định chiến lược
và chính sách đã được đề ra ở cấp cao nhất, các quyết định tác nghiệp sẽ được
trao quyền cho các bộ phận.
2.5. Đảm bảo nguồn lực cho hoạt động của tổ chức.
Đảm bảo nguồn lực, cung cấp các nguồn lực thực chất là một tiền đề
quan trọng để thực hiện có hiệu quả quá trình tổ chức. Mọi nỗ lực của các quá
trình trên sẽ không thể giúp gì nếu tổ chức không đảm bảo được những nguồn
lực tài chính, nhân sự và thời gian cần thiết để tiến hành công việc. Nguồn lực
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
ở đây bao gồm nhân lực, tài lực, thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và cơ sở
vật chất …. Trong đó nguồn lực chính và quan trọng nhất là con người.
Việc thu hút và phân bổ nguồn lực giữa các bộ phận, phân hệ trong tổ
chức là hết sức quan trọng. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nguồn lực luôn
luôn là có hạn, dù tổ chức có mạnh đến đâu. Vì vậy tuỳ theo mức độ ưu tiên,
nguồn lực cần phải được phân bổ một cách hợp lý để có thể tạo ra sự khác
biệt thực sự về việc chú trọng vào từng lĩnh vực cần cải tiến.
3.Các thuộc tính của cơ cấu tổ chức.
3.1. Chuyên môn hoá và phân chia tổ chức thành các bộ phận.
* Chuyên môn hoá sẽ xảy ra khi một người, một bộ phận, một phân hệ sẽ
thực hiện một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ, công việc có mối quan hệ
tương đồng. Cơ cấu tổ chức quản lý được phân công, phân nhiệm các phân hệ
trong hệ thống theo các nhóm chuyên ngành, với những con người được đào
luyện tương ứng và có đủ quyền hạn. Thông qua chuyên môn hoá năng suất
lao động của tổ chức sẽ tăng lên, tạo nên những nhiệm vụ đơn giản dễ đào
tạo, việc quản lý cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên nó cũng tạo ra một cách làm
việc thụ động từ đó khả năng thích nghi của con người trước đòi hỏi của môi
trường là thấp, tạo cảm giác xa lạ, đối địch giữa những người lao động.
* Sự chuyên môn hoá theo chiều ngang tất yếu dẫn tới việc hình thành
các bộ phận và phân hệ của tổ chức. Việc hình thành các bộ phận, phân hệ
của tổ chức được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau làm xuất hiện các
mô hình tổ chức khác nhau.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo chức năng đó là phát huy tính tích
cực những ưu điểm của chuyên môn hoá. Tuy nhiên nó cũng có những nhược
điểm của chuyên môn hoá mà ta đã vừa đề cập ở trên. Ngoài ra nó cũng có
nhược điểm đó là nhóm khách hàng có tính đơn thị trường.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Ưu điểm chính của mô hình tổ chức theo sản phẩm là giúp việc quy định
trách nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng tương đối dễ dàng, tăng cường
việc phối hợp giữa các phòng ban chức năng. Nhược điểm là sự tranh giành
nguồn lực giữa các tuyến sản phẩm, nó cũng cần nhiều cán bộ quản lý chung.
Ưu điểm của mô hình tổ chức theo địa dư đó là chú ý đến nhu cầu thị
trường và vấn đề địa phương, có thể phối hợp hành động của các bộ phận và
hướng các hoạt động này vào các thị trường cụ thể. Nhược điểm là khó duy trì
hoạt động trên diện rộng một cách nhất quán và đòi hỏi nhiều cán bộ quản lý.
Mô hình tổ chức theo khách hàng có ưu điểm là tạo ra sự hiểu biết khách
hàng tốt hơn, đảm bảo chắc chắn hơn khi soạn thảo quyết định. Các nhược
điểm là tạo ra sự tranh giành quyền lực phản hiệu quả, thiếu chuyên môn hoá,
khó thích hợp với hoạt động nào khác ngoài marketing.
Mô hình tổ chức ma trận có ưu điểm đặc biệt là tính linh hoạt cao, giúp
tổ chức tập trung nguồn lực vào những khâu xung yếu. Tuy nhiên mô hình
cũng có những nhược điểm như là phức tạp, tính ổn định của cơ cấu là thấp.
Mô hình cơ cấu tổ chức này cũng có thể dẫn tới tình trạng lãng phí.
3.2. Quyền hạn và trách nhiệm.
Quyền hạn đó là quyền tự chủ trong quá trình quyết định và quyền đòi
hỏi sự tuân thủ quyết định gắn liền với một vị trí (hay chức vụ) quản lý nhất
định trong cơ cấu tổ chức. Đi liền với quyền hạn đó là trách nhiệm. Trách
nhiệm đó là bổn phận phải hoàn thành những hoạt động được phân công.
Quyền hạn và trách nhiệm đó là cơ sở để tiến hành mọi hoạt động trong tổ
chức và đó cũng là sợi dây liên kết các bộ phận với nhau.
Chủ yếu thường hay có ba loại quyền hạn sau, đó là quyền hạn trực
tuyến, quyền hạn tham mưu và quyền hạn chức năng.
Quyền hạn trực tuyến đó là quyền hạn cho phép người quản lý ra quyết
định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
Quyền hạn tham mưu đó là quyền đưa ra lời khuyên. Chức năng của nó
là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đưa ra những ý kiến tư vấn
Quyền hạn chức năng đó là quyền trao cho một cá nhân hay bộ phận
được ra quyết định và kiểm soát những hoạt động nhất định của các bộ phận
khác theo chế độ phi tập trung hóa.
3.3. Cấp quản lý và phạm vi kiểm soát.
Tầm kiểm soát hay phạm vi kiểm soát đó là số hữu hạn người và bộ phận
mà một nhà quản lý có thể quản lý hiệu quả. Nguyên nhân có các cấp quản lý
trong tổ chức là bởi giới hạn của tầm quản lý (hay tầm kiểm soát). Muốn xác
định tầm quản lý phù hợp, cần phải dựa trên các mối quan hệ cơ bản sau đây:
_ Tầm quản lý và trình độ của các cán bộ quản lý có quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Tính phức tạp của hoạt động quản lý và tầm quản lý có quan hệ tỷ lệ
nghịch.
_ Trình độ và ý thức tôn trọng tuân thủ mệnh lệnh của cấp dưới với tầm
quản lý có quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Tầm quản lý và sự rõ ràng trong xác định nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm có quan hệ tỷ lệ thuận.
_ Năng lực của hệ thống thông tin có ảnh hưởng đến tầm quản lý.
3.5. Phối hợp các bộ phận.
Phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con người, bộ phận,
phân hệ và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có kết quả và hiệu quả các mục
tiêu chung của tổ chức.
Phối hợp sẽ đặc biệt tỏ ra có hiệu quả đối với những môi trường công
việc luôn thay đổi, các công việc thường không thường nhật và dễ gặp phải
các tình huống khó dự đoán. Phối hợp được thực hiện nhờ cả các công cụ
chính thức và phi chính thức.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
_ Các công cụ chính thức bao gồm các kế hoạch, các công cụ cơ cấu, mô
hình tập trung, sự giám sát và ra quyết định trực tiếp của các nhà quản lý, các
công cụ hệ thống thông tin và truyền thông.
_ Các công cụ phi chính thức có thể kể đến văn hoá và các mối quan hệ
cá nhân, văn hoá với hệ thống nhận thức, những giá trị, những chuẩn mực,
những lễ nghi hàng ngày, các mối quan hệ cá nhân.
II. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM.
1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm.
Để hiểu được khái niệm của tiêu thụ sản phẩm trước hết ta cần hiểu được
thế nào là phân phối lưu thông hàng hoá. Phân phối thực chất là đưa hàng
hoá vào các kênh phân phối, là một hệ thống tổ chức và công nghệ điều hoà,
cân đối để tiếp cận và khai thác hợp lý nhu cầu của thị trường để đưa hàng
hoá từ nơi sản xuất đến các khách hàng cuối cùng một cách tiện lợi nhất,
nhanh nhất nhằm đạt lợi nhuận cao.
Bây giờ chúng ta mới đề cập đến khái niệm của tiêu thụ sản phẩm.
Như ta đã biết, hàng hoá đưa đến người tiêu dùng chưa phải là tiêu thụ
xong nếu như khách hàng chưa trả tiền, chỉ khi nào người sản xuất (hoặc
người nhập khẩu) đã nhận được tiền đầy đủ (có thể là tiền mặt, tiền chuyển
khoản, ngân phiếu hoặc hàng hoá trao đổi…) mới xem là hàng hoá đã tiêu thụ
xong.
Vậy tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thông qua tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ… chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển
vốn của doanh nghiệp được hoàn thành.
2.Vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
* Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trên
thị trường. Tiêu thụ sản phẩm là nơi duy nhất thực hiện mục đích của sản xuất
hàng hoá, là nơi đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng và thu hồi
vốn cũng như lợi nhuận, doanh thu cho doanh nghiệp.
* Tiêu thụ sản phẩm chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu
dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản
phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt
động dịch vụ.
* Công tác tiêu thụ sản phẩm cũng gắn người sản xuất với người tiêu
dùng. Từ đó có những định hướng chiến lược cho tổ chức mình trong quá
trình sản xuất, kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm không thể đặt ra khi đã sản xuất
xong sản phẩm, mà cần nghiên cứu và giải quyết trước khi tính toán sản xuất.
*Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân
đối giữa cung và cầu. Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là sản xuất đang
diễn ra một cách bình thường trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được
bình ổn trong xã hội. Thông qua tiêu thụ sản phẩm dự đoán được nhu cầu tiêu
dùng chung trong xã hội và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản
phẩm. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp xây dựng được các kế hoạch một cách
phù hợp số lượng sản phẩm được truyền tải nhiều hơn và thường xuyên hơn
cũng như giải quyết hiệu quả các nhu cầu tiêu dùng của rộng rãi dân chúng
trong xã hội. Tiêu thụ sản phẩm cũng góp phần tăng trưởng kinh tế, chiếm
lĩnh thị trường cho doanh nghiệp và nhiều mục đích khác.
Tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, tiếp tục mở rộng quy
mô sản xuất của các doanh nghiệp. Nó góp phần thu hút lao động, tạo thêm
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm được tệ nạn xã hội, tiếp tục
mở rộng quy mô phát triển sản xuất của các doanh nghiệp cũng như quy mô
sản xuất của toàn xã hội.
3.Khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ cấu của kênh tiêu thụ.
3.1.Khái niệm.
Theo Philipe Cotler, kênh tiêu thụ đó là các cơ cấu có quan hệ với nhau,
cùng dựa vào nhau trong quá trình đưa sản phẩm hoặc dịch vụ từ người cung
cấp đến người tiêu dùng hoặc đến những hộ kinh doanh thương mại.
Hiệp hội thị trường tiêu dùng Mỹ cho rằng kênh tiêu thụ là cơ cấu tổ
chức của các nhà đại lý và các nhà buôn bán trong và ngoài doanh nghiệp.
Học giả kinh doanh tiêu thụ Streen và Er.Ansirie lại cho rằng kênh tiêu
thụ là một hệ thống gồm các tổ chức có liên quan với nhau, cùng dựa vào
nhau làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ được sử dụng hoặc tiêu thụ thuận lợi.
Tuy cách biểu đạt của các định nghĩa trên có khác nhau nhưng đều
chung một bản chất. Tức kênh tiêu thụ là con đường lưu thông của hàng hoá
từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng, đây cũng là con đường hoàn
chỉnh, thông suốt từ đầu đến cuối. Con đường này tuỳ theo doanh nghiệp cụ
thể, hàng hoá cụ thể có thể là con đuờng trực tiếp hoặc con đường gián tiếp,
có thể dài, có thể ngắn, có thể rộng, có thể hẹp.
3.2.Đặc điểm.
Kênh tiêu thụ có ba đặc điểm quan trọng sau:
_ Các kênh tiêu thụ đều có khởi điểm bắt đầu từ nhà sản xuất và kết
thúc ở những nơi tiêu thụ. Đặc trưng này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì nó
chỉ rõ ai là người phát ra động lực, tác động lên kênh tiêu thụ và ai là người
chịu lực.
_ Kênh tiêu thụ là một trong những yếu tố tổ hợp tạo nên thị trường tiêu
thụ. Tổ hợp sách lược thị trường tiêu thụ bao gồm bốn yếu tố cơ bản, thường
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
được gọi là “4P”, tức là sản phẩm (product), giá cả (price), các kênh (place),
xúc tiến (promotion).
_ Trong quá trình lưu thông thông có ít nhất một lần phải chuyển giao
quyền sở hữu, nếu người sản xuất trực tiêp đưa hàng đến tay người tiêu dùng.
Nhưng phần lớn thì sự tham gia của các cơ cấu trung gian là không thể thiếu
Trong trường hợp này thì quyền sở hữu được chuyển giao nhiều lần.
3.3.Chức năng của kênh tiêu thụ.
Chức năng của kênh tiêu thụ thường bao gồm: tiêu thụ, mua, vận
chuyển, tồn trữ hàng, thu gom vốn, tiêu chuẩn hoá, chịu các rủi ro và xử lý
các thông tin thị trường… Tác dụng của các thành viên thuộc kênh tiêu thụ là
làm cho việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm từ người sản xuất đến
người tiêu dùng trở nên có hiệu quả và tiện lợi hơn. Đối với người quản lý, thì
sự quản lý kênh tiêu thụ là xúc tiến và thúc đẩy những chức năng lưu thông
trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng.
Bảng dưới đây là một cách phân loại chức năng của kênh tiêu thụ
Loại hoạt động Chức năng
Trao đổi Tiêu thụ, mua
Vận chuyển Vận tải, trữ hàng
Các hoạt động phụ trợ Thu gom vốn, tiêu chuẩn hoá, thông tin thị trường
Bảng1. Những chức năng thông thường của kênh tiêu thụ
3.4.Cơ cấu các thành viên trong kênh tiêu thụ.
Các thành viên cơ bản trong kênh bao gồm các nhà sản xuất, nhà bán
buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng.
* Nhà sản xuất là những doanh nghiệp trong chuỗi giá trị làm nhiệm vụ
chuyển hoá những nguyên liệu đầu vào, các tư liệu sản xuất thành công nghệ
phẩm và hàng tiêu dùng.
* Nhà bán buôn là những công ty chuyên làm nghiệp vụ bán buôn. Bán
buôn là tiêu thụ hàng hoá hoặc dịch vụ tới những người chuyên làm nghiệp vụ
bán lẻ hoặc mua sản phẩm để thực hiện thương nghiệp.
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
* Nhà bán lẻ là những doanh nghiệp mà lượng tiêu thụ của họ chủ yếu là
do bán lẻ. Bán lẻ là tiêu thụ hàng hoặc dịch vụ tới những cá nhân người tiêu
dùng hoặc những hộ hoạt động không thực hiện mục đích thương mại.
* Người tiêu dùng là điểm cuối cùng của toàn bộ kênh tiêu thụ. Các sản
phẩm của nhà sản xuất chỉ khi nào đưa đến tay người tiêu dùng hoặc đến
hộ sử dụng thì mới thực hiện được đầy đủ giá trị
4.Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong các doanh
nghiệp.
Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp bao gồm
những vấn đề cơ bản sau đây:
4.1. Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản
xuất như thế nào? Và cho ai? Tức thị trường đang cần những loại sản phẩm
gì? Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó ra sao? Dung lượng thị trường về sản
phẩm đó như thế nào? Ai là người tiêu thụ những sản phẩm đó.
_ Nghiên cứu thị trường trước hết phải nghiên cứu quy mô, cơ cấu và sự
vận động của thị trường để nắm bắt được thị trường hiện tại, thị trường tiềm
năng. Sau đó là nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân
cư và sức mua, vị trí và sức hút. Tiếp theo là nghiên cứu động thái và xu thế
vận động của thị trường ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh (tăng trưởng,
bão hoà, đình trệ hay suy thoái).
_ Trong nội dung nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cũng phải rất chú
ý đến công tác nghiên cứu khách hàng. Để nghiên cứu khách hàng, doanh
nghiệp cần xác định các thông số khái quát và phân loại khách hàng tiềm
năng, nghiên cứu tập tính và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn khách hàng và
ảnh hưởng của trao đổi thông tin mua bán đến tiến trình mua hàng, nghiên
cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng, nghiên
Nguyễn Thị Lan Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét