Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong qúa trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao
hơn con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra
những công cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi, phát triển của
công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản
xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở
thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất, còn Quan hệ sản xuất là yếu tố ổn
định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Lực l-
ợng sản xuất là nội dung, là phơng thức, còn Quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, thì nội quyết
định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trớc sau
đó hình thức thay đổi theo, tất nhiên trong quan hệ với nội dung và hình thức
không phải là mặt thụ động, nó tác động trở lại đối với sự phát triển của nội
dung.
Cùng với sự phát triển của Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất cũng
hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
Lực lợng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho Lực lợng sản xuất phát
triển mạnh mẽ. Nhng Lực lợng sản xuất thờng phát triển nhanh, còn Quan hệ
sản xuất có xu hớng ổn định khi Lực lợng sản xuất đã phát triển lên một trình
độ mới, Quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, sẽ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng thức sản xuất. Sự phát triển khách quan
đó tất yếu dẫn đến xoá bỏ Quan hệ sản xuất cũ, thay bằng Quan hệ sản xuất
mới phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, mở đờng cho
Lực lợng sản xuất phát triển
.
3. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực l ợng sản xuất.
Sự hình thành, biến đổi và phát triển của Quan hệ sản xuất phụ thuộc vào
tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, nhng Quan hệ sản xuất là hình
thức xã hội mà Lực lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại
đối với Lực lợng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
Lực lợng sản xuất. Nếu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phát triển của Lực lợng sản xuất nó thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh. Nếu
nó không phù hợp, nó kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất, song tác
dụng kìm hãm đó chỉ tạm thời theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó sẽ
bị thay thế bằng kiểu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
Lực lợng sản xuất.
Sở dĩ Quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với Lực lợng
sản xuất(thúc đẩy hoặc kìm hãm); vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng
thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do
đó nó ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động- Lực lợng sản
xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế
việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật
vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của Quan hệ
sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu Quan hệ sản
xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan
hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, Quan hệ sản xuất
mới trở thành động lực, thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản
xuất.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của Lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, sự tác
động của quy luật này, đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản
xuất: Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã
hội chủ nghĩa.
Thời kỳ đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ, với Lực lợng
sản xuất thấp kém, Quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, đời sống của
họ phụ tuộc vào săn bắt, hái lợm.
Trong qúa trình sinh sống, họ đã không ngừng cải tiến và thay đổi công
cụ(Lực lợng sản xuất), đến sau một thời kỳ Lực lợng sản xuất phát triển,
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quan hệ cộng động bị phá vỡ, dần dần xuất hiện quan hệ t nhân. Nhờng chỗ
cho nó là một xã hội chiếm hữu nô lệ, với Quan hệ sản xuất chạy theo sản
phẩm thặng d, chủ nô muốn có nhiều sản phẩm, dẫn đến bóc lột, đa ra công
cụ lao động tốt, tinh xảo vào sản xuất, những ngời lao động trong thời kỳ này
bị đối xử hết sức man dợ. Họ là những món hàng trao đi đổi lại, họ lầm tởng
do những công cụ lao động dẫn đến cuộc sống khổ cực của mình, nên họ phá
hoại Lực lợng sản xuất, những cuộc khởi nghĩa nô lệ diễn ra khắp nơi.
Chấm dứt chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến ra đời, xã hội
mới ra đời, giai cấp thời kỳ này là dịa chủ, thời kỳ đầu giai cấp địa chủ nới
nỏng hơn chế độ trớc, ngời nông dân có ruộng đất, t do thân thể.
Cuối thời kỳ phong kiến, xuất hiện những công trờng thủ công và dẫn tới
Lực lợng sản xuất mẫu thuẫn với Quan hệ sản xuất, cuộc cách mạng t sản ra
đời, chế độ t bản thời kỳ này chạy theo giá trị thặng d và lợi nhuận, họ đa ra
những kỹ thuật mới, những công cụ sản xuất hiện đại áp dụng vào sản xuất,
thời kỳ này Quan hệ sản xuất là quan hệ sản xuất t nhân về t liệu sản xuất
nên dẫn tới cuộc đấu tranh gay gắt giữa t sản và vô sản, xuất hiện một số nớc
CNXH. CNXH ra đời quan tâm đến xã hội hoá công hữu, nhng trên thực tế
CNXH ra đời ở các nớc cha qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, chỉ có Liên Xô là
qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, nhng chỉ là chủ nghĩa t bản trung bình.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của Lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay
thế kế tiếp nhau từ thấp đến cao của phơng thức sản xuất.
4. Mối quan hệ biện chứng giữa Lực l ợng sản xuất và Quan hệ sản
xuất.
Khi trình độ Lực lợng sản xuất còn thủ công thì tính chất của nó là tính
chất cá nhân. Nó thể hiện ở chỗ chỉ một ngời có thể sử dụng đợc nhiều công
cụ khác nhau trong qúa trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Nh vậy, tất yếu
dẫn đến Quan hệ sản xuất sở hữu t nhân(nhiều hình thức) về t liệu sản xuất.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khi sản xuất bằng máy móc ra đời, trình độ sản xuất công nghiệp thì
một ngời không thể sử dụng đợc nhiều mà chỉ một công cụ, hoặc một bộ
phận chức năng. Nh vậy, qúa trình sản xuất phải nhiều ngời tham gia sản
phẩm lao động là thành quả của nhiều ngời, ở đây, Lực lợng sản xuất đã
mang tính xã hội hoá, tất yếu một Quan hệ sản xuất sản xuất thích hợp phải
là Quan hệ sản xuất sở hữu về t liệu sản xuất. Ănghen viết: Giai cấp t sản
không thể biến t liệu sản xuất có tính chất hạn chế ấy, thành Lực lợng sản
xuất mạnh mẽ đợc, nếu không biến những t liệu sản xuất của cá nhân, thành
những t liệu sản xuất có tính chất xã hội, mà chỉ một số ngời cùng làm mới
có thể sử dụng đợc.
Quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện
ở chỗ:
Xu hớng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi, phát triển. Sự
biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của Lực lợng
sản xuất mà trớc hết là công cụ. Công cụ phát triển đến mâu thuẫn gay gắt
với Quan hệ sản xuất hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ
Quan hệ sản xuất cũ thay bằng Quan hệ sản xuất mới. Nh vậy, Quan hệ sản
xuất vốn là hình thức phát triển của Lực lợng sản xuất(ổn định tơng đối),
Quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của Lực lợng
sản xuất(không phù hợp). Phù hợp và không phù hợp là biểu hiện của mâu
thuẫn biện chứng của Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, tức là sự phù
hợp trong mâu thuẫn là bao hàm mâu thuẫn.
Khi phù hợp cũng nh lúc không phù hợp với Lực lợng sản xuất, Quan hệ
sản xuất luôn có tính độc lập tơng đối với Lực lợng sản xuất, thể hiện trong
nội dung sự tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất, quy điịnh mục đích xã
hội của sản xuất, xu hớng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành
những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản
xuất.
Sự tác động trở lại nói trên của Quan hệ sản xuất bao giờ cũng thông qua
các quy luật kinh tế cơ bản.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phù hợp và không phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất là
khách quan và phổ biến của mọi phơng thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu
quan niệm trong CNTB luôn luôn diễn ra không phù hợp, còn dới CNXH
phù hợp giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất.
IV. CNTB d ới ánh sáng của quy luật về sự thích ứng giữa Quan hệ
sản xuất và Lực l ợng sản xuất.
Những năm trớc đây, khi nói đến mối quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa
và Lực lợng sản xuất của nó, ngời ta thờng nhấn mạnh rằng Lực lợng sản
xuất đã phát triển cao độ, tới mức mà khuôn khổ chật hẹp của Quan hệ sản
xuất t bản chủ nghĩa không thể chứa đựng nổi nữa; rằng mâu thuẫn giữa tính
chất xã hội của qúa trình sản xuất với hình thức chiếm hữu t nhân t bản chủ
nghĩa tất yếu trở nên gay gắt cực độ, đòi hỏi phải thay thế chế độ t hữu t bản
chủ nghĩa bằng chế độ công hữu về t liệu sản xuất. CNTB lúc đầu còn là ph-
ơng thức sản xuất tiến bộ trong lịch sử so với phơng thức sản xuất phong
kiến, đến nay đã trở thành phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội loài
ngời, không còn lý do gì để tồn tại nữa.
Nhng bớc vào những năm đầu của thập kỷ 80 đến nay, CNTB lại đang
chứng tỏ một sức sống mới. Phải chăng sau những cơn khủng hoảng, CNTB
đã tìm đợc một liều thuốc hồi sinh?. Năng suất lao động, nhịp độ phát triển
kinh tế của các nớc t bản tăng rõ rệt, trong thời gian tới còn hứa hẹn một sự
tăng trởng mạnh mẽ hơn.
Quy luật về sự thích ứng giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất, tìm
ra những điều chỉnh của CNTB về Quan hệ sản xuất có thể thích ứng đợc với
sự phát triển của Lực lợng sản xuất xã hội.
Nhờ những điều chỉnh này, CNTB không những không kìm hãm sự phát
triển của Lực lợng sản xuất, mà còn thúc đẩy, tạo điều kiện cho nó phát triển
mạnh mẽ hơn nữa. Đồng thời, những điều chỉnh đó cũng làm biến đổi bản
thân Lực lợng sản xuất, đặc biệt là những biến đổi của đội ngũ giai cấp công
nhân-Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại ở các nớc t bản
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chủ nghĩa, làm cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân hiện đại trở nên
phong phú hơn, đa dạng hơn, xuất hiện những trở ngại mới trên con đờng đi
tớimục tiêu xoá bỏ sự bóc lột của giai cấp t sản.
Về sự điều chỉnh của CNTB đối với Quan hệ sản xuất, cần thấy rằng qúa
trình điều chỉnh diễn ra ở tất cả các yếu tố trong hệ thống sản xuất t bản chủ
nghĩa. Những điều chỉnh ở các lĩnh vực, các khía cạnh khác nhau của Quan
hệ sản xuất đã tác động, ảnh hởng chi phối lẫn nhau, tổng hợp lại tạo ra sự
thích ứng, phù hợp của Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đối với Lực lợng
sản xuất xã hội, thúc đẩy sự phát triển của Lực lợng sản xuất, tạo ra những
biến đổi mới trong Lực lợng sản xuất. CNTB đã tỏ ra là còn có thể tạo điều
kiện cho sự phát triển hơn nữa của Lực lợng sản xuất và do đó có những cơ
sở mới cho sự tồn taị của mình. Tình hình đó đã xác minh cho tinh đúng đắn
của quan hệ Mác-xít không một chế độ xã hội nào lại diệt vong, khi tất cả
những Lực lợng sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo ra địa bàn đầy đủ cho sự
phát triển vẫn còn cha phát triển.
Trớc hết, chúng ta xem xét những điều chỉnh trong quan hệ sử dụng của
CNTB. Trong các nớc CNTB hiện nay đã áp dụng chế độ Sở hữu xã hội dới
dạng cổ phiếu để dần dần thay thế cho chiếm hữu cá thể và chiếm hữu t nhân
về t liệu sản xuất. Có thể nói, đây là một trong những hình thức quan trọng
nhất trong Quan hệ sở hữu để phần nào phù hợp, thích ứng với tính chất xã
hội hoá cao của Lực lợng sản xuất.
Ngời công nhân làm thuê có thể đợc mua cổ phần của công ty-xí nghiệp,
nh vậy họ đã trở thành những ngời đồng sở hữu công ty, xí nghiệp đó, có thể
cùng tham dự chia sẻ lợi nhuận. Sở hữu cổ phần trở thành biện pháp xã hội
hoá sở hữu hoặc một sự phân tán sở hữu, không thể cho t liệu sản xuất tập
trung trong tay một số ít ngời, hoặc thuộc một công ty độc quyền nào đó.
Mặt khác, việc trở thành đồng sở hữu sản xuất, đợc hởng một phần lợi
nhuận cũng làm cho ngời công nhân quan tâm đến qúa trình sản xuất, chú ý
tới việc tăng năng suất lao động, đẩy nhanh sự phát triển của Lực lợng sản
xuất hơn nữa. Đồng thời, đây cũng là sợi dây cột chặt lợi ích của hàng triệu
ngời lao động vào lợi ích của t bản, những ngời công nhân có cổ phiếu thờng
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tách khỏi các tổ chức chính trị, đoàn thể của giai cấp công nhân.Từ đó dung
hoà đợc sự xung đột giữa ngời lao động và nhà t bản.
Một xu hớng khác cho việc điều chỉnh Quan hệ tổ chức, quản lý, điều
hành qúa trình sản xuất xã hội của CNTB để thích thích ứng với trình độ hoá
ngày càng cao của Lực lợng sản xuất và tăng dần tính linh hoạt của tổ chức
sản xuất.
Nhờ áp dụng kĩ thuật mới đặc biệt là phơng tiện điều khiển bằng điện tử,
nền sản xuất t bản ngày nay đã có khả năng nhanh chóng đáp ứng đòi hỏi của
thị trờng, dễ dàng thích nghi với nhu cầu của ngời tiêu dùng. Và nh thế vòng
quay của quá trình sản xuất mở rộng t bản chủ nghĩa sẽ nhanh hơn, nền sản
xuất xã hội sẽ càng đợc thúc đẩy phát triển nhanh chóng.
Một điểm cần chú ý tới việc điều chỉnh Quan hệ tổ chức quản lý, điều
hành quá trình sản xuất xã hội của CNTB ngày nay, là sự giao kết chặt chẽ
giữa lĩnh vực sản xuất với lĩnh vực nghiên cứu, phát minh khoa học,thiết kế.
Những hoạt động trớc đây đợc coi là bên ngời sản xuất phục vụ sản xuất
nh cung ứng, tiêu thụ, hoạt động tài chính, giao thông, bu điện cũng trở thành
những yếu tố, những mắt khâu quan trọng của bản thân nền sản xuất. Dờng
nh khi quản lý, điều hành qúa trình sản xuất, ngời ta cũng đồng thời điều
hành, quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội.
Một sự điều chỉnh về Quan hệ sản xuất nữa mà CNTB đã thực hiện để có
thể thích ứng với trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất là sự điều chỉnh về
quan hệ phân phối.
Cần chỉ ra rằng CNTB sở dĩ có thể thực hiện đợc sự điều chỉnh này là nhờ
sự phát triển của Lực lợng sản xuất, đã tạo ra một năng suất lao động xã hội
cao. Mặt khác, chính nhờ sự điều chỉnh quan hệ phân phối CNTB có thể ràng
buộc chặt chẽ hơn nữa ngời công nhân cũng nh mọi thành viên khác của xã
hội, qua đó có thể ổn định đợc chế độ t bản chủ nghĩa, đồng thời vẫn thu đợc
lợi nhuận siêu ngạch ngày một nhiều hơn.
Nh vậy, giới hạn trong phạm vi mối quan hệ biện chứng giữa Quan hệ
sản xuất và Lực lợng sản xuất bởi chế độ t bản chủ nghĩa, với những điều
chỉnh của CNTB trong tất cả các yếu tố cấu thành của Quan hệ sản xuất, để
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có thể thích ứng với trình độ của Lực lợng sản xuất, tạo điều kiện cho sản
xuất phát triển hơn nữa. Những điều chỉnh này về Quan hệ sản xuất là những
thay đổi trong đội ngũ giai cấp công nhân, chính những điều kiện khách quan
này CNTB có thể tồn tại và phát triển.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ch ơng II : quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng
sản xuất với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
Nam.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc, đẩy mạnh phát triển sản xuất, cải tạo
và xây dựng Quan hệ sản xuất, nhất thiết phải gắn liền với việc nhận thức và
vận dụng quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của Lực lợng sản xuất.
I. Nhìn lại những sai lầm về quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của Lực l ợng sản xuất tr ớc Đại hội VI.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực l-
ợng sản xuất thì Lực lợng sản xuất phát triển thuận lợi, đồng thời kéo theo
Quan hệ sản xuất cũng phát triển. Con ngời có vai trò trong việc tác động đối
với Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, nhng con ngời không thể tự sáng
tạo, định hớng bất cứ hình thức nào của Quan hệ sản xuất mà mình muốn vì
rằng cái tất yếu phát triển của Quan hệ sản xuất luôn luôn bị quy định bởi
trạng thái của Lực lợng sản xuất.
Do nhận thức cha đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản
xuất và Quan hệ sản xuất trong công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ và xây
dựng Quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sức vận động gần nh cỡng bức
nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông trờng quốc
doanh, các nhà máy xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ Lực lợng sản
xuất đang còn thời kì quá thấp kém chúng ta đã tạo ra những quy mô lớn và
ngộ nhận là đã có Quan hệ sản xuất XHCN và còn nói rằng:mỗi bớc cải tạo
Quan hệ sản xuất cũ, xây dựng Quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời
và lớn mạnh của Lực lợng sản xuất mới, Quan hệ sản xuất XHCN có khả
năng vợt trớc mở đờng cho sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Thực tế
nhiều năn qua đã chứng minh quan điểm đó là sai lầm. Sai lầm chủ yếu
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
không phù hợp với tính chất và trình độải ở chỗ chúng ta duy trì Quan hệ sản
xuất lạc hậu so với sự phát triển của Lực lợng sản xuất nh ngời ta thờng nói
mà chủ yếu có những mặt của Quan hệ sản xuất bị thúc đảy lên quá cao, quá
xa một cách giả tạo làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém của Lực lợng
sản xuất.Bởi vậy,nhận định trong đại hội lần thứ VI là có căn cứ đẵ làm
phong phú thêm lý luận biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản
xuất Lực lợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp Quan hệ sản
xuất lạc hậu, mà cả khi Quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những
yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất.
Để chứng minh cho quan niệm sản xuất đi trớc hoặc nói theo cách thời
bấy giờ là giải quyết mâu thuẫn giữa Quan hệ sản xuất tiên tiến với Lực lợng
sản xuất lạc hậu chúng ta đã ra sức xây dựng Lực lợng sản xuất một cách
khẩn trơng bằng cách đa ra khá nhiều máy móc vào các cơ sở sản xuất nông
nghiệp mới hình thành còn non yếu, què quặt nhằm xây dựng mô hình lâu dài
công-nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện mà không tính đến khả năng quản
lý trình độ, tổ chức sử dụng của nông dân.
Thực trạng kinh tế ở nớc ta với nền nông nghiệp lạc hậu thì tính tất yếu
phù hợp với tính chất và trình độải cải tạo xã hội chủ nghĩa phát triển công
nghiệp quốc doanh, công nghiệp nặng chỉ nên coi nh mục đích lâu dài phù
hợp với tính chất và trình độải tiến tới chứ không coi nh một tất yếu trực tiép
phù hợp với tính chất và trình độải cải tạo ngay. Song chúng ta đã bất chấp
thực tế khách quan mà chỉ vin vào vai trò tích cực của nhân tố chính trị tởng
rằng nhà nớc chuyên chính vô sản, bằng những đờng lối chính sách và những
hoạt động tích cực có thể tìm cách giải quyết tốt nhất trong sản xuất và đời
sống xã hội có khả năng chủ động tạo ra Quan hệ sản xuất mới mở đờng cho
Lực lợng sản xuất phát triển. Nhng thực tế chúng ta đã không thể rút ngắn đ-
ợc những cơn đau của thời sinh đẻ nỗi đau đó cứ kéo dài, dẫu sao cũng
không thể nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắ lệnh để
xoá bỏ những giai đoạn đó.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét