Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Đặc điểm về việc sử dụng các phương tiện nối trong văn bản báo chí


5
II. Nhận diện
Phép nối là một phương tiện được sử dụng tại vị trí đầu câu hoặc trước vị
từ (trước động từ ở vị ngữ). Nó là những từ có khả năng chỉ quan hệ để bộc lộ
(kiểu quan hệ giữa hai câu) có quan hệ với nhau, và chính bằng cách đó, nó có
tác dụng liên kết hai câu này lại với nhau.
Dấu hiệu để nhận diện các phép nối như những phương tiện liên kết phát
ngơn là sự vắng mặt của một trong hai ngơi chứa r.Ss
Ví dụ : Chúng ta xét hai ví dụ sau :
(1) : Lan khơng bằng lòng nhưng cơ cũng khơng thể hiện ra ngồi.
(2) : Lan khơng bằng lòng. Nhưng cơ cũng khơng thể hiện ra ngồi.
Với hai ví dụ đã nêu trên đây, thì chỉ có ví dụ thứ 2 , từ "nhưng" mơí là
phương tiện nối liên kết giữa các phát ngơn, bởi vì phát ngơn thứ hai thiếu hẳn
đi ngơi A của quan hệ. Để bù đắp sự thiếu hụt này, phát ngơn rB (kết ngơn) phải
liên kết với phát ngơn A (chủ ngơn) đứng trước nó.
Tuỳ thuộc vào tính chất của các phương tiện nối mà trong hiện tượng nối
liên kết cần phải phân biệt hai trường hợp: Nếu sự có mặt của các phương tiện
nối có thể làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của phát ngơn, khiến cho nó phụ thuộc
vào chủ ngơn khơng chỉ về mặt về nội dung mà cả về mặt cấu trúc , thì đó chính
là phép nối chặt (các từ nối như giới từ, liên từ là phương tiện của phép nối này).
Còn nếu sự vắng của các phương tiện nối chỉ làm cho phát ngơn chứa nó
phụ thuộc vào chủ ngơn về mặt nội dung mà khơng động chạm gì đến cấu trúc,
thì đó là phép nối lỏng.
Như vậy, theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, sẽ có hai loại phép nối
riêng biệt: Phép nối lỏng và phép nối chặt.
Để có một cách nhìn khái qt hơn về hai loại phép nối này, có thể xem
xét bảng so sánh sau đây:




THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
Bảng 1: So sánh những nét cơ bản nhất giữa phép nối lỏng và nối chặt
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Phép nối lỏng là phương thức
liên kết thể hiện ở sự có mặt
trong kết ngơn những phương
tiện từ vựng (từ, cụm từ) khơng
làm biến đổi cấu trúc của nó và
diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa
hai ngơi mà “ ngơi” còn lại là
chủ ngơn.
Phép nối chặt là phương thức liên kết
của ngữ trực thuộc thể hiện bằng sự
có mặt của các từ nối (liên từ, giới
từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy)
hoặc chỗ kết thúc (liên kết dự báo)
của nó, tạo thành một quan hệ ngữ
nghĩa hai ngơi giữa ngữ trực thuộc
với chủ ngơn.

III. Phân loại
Trong giới ngơn ngữ học hiện nay có rất nhiều cách phân loại từ nối và
phương tiện nối, nhưng trong đề tài nghiên cứu này, chúng tơi theo quan điểm
của tác giả Trần Ngọc Thêm [10], nhìn nhận các từ nối dưới hai loại chính sau
đây :
+ Phép nối lỏng
+ Phép nối chặt.
1. Phép nối lỏng
1.1. Khái niệm
(Như đã nêu ở phần trên). Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể
hiện ở sự có mặt trong kết ngơn những phương tiện từ vựng ( từ, cụm từ )
khơng làm biến đổi cấu trúc của nó và diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai
ngơi mà " ngơi" còn lại là chủ ngơn. [ 11, 170]
1.2. Nhận diện
Phép nối lỏng có thể được phân loại theo tính chất, chức năng của các
phuơng tiện nối, chính vì vậy cần phải xác định xem những loại yếu tố từ vựng
nào có thể làm phương tiện thể hiện của phép nối lỏng.Theo hướng này chúng ta
có thể tách ra thành hai kiểu :
+ Phương tiện nối là các từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
+ Phương tiện nối là những từ phụ tố có nghĩa so sánh trong danh ngữ
hoặc động ngữ
Trước hết, chúng ta đi xét xem các phương tiện nối là các từ và cụm từ
làm thành phần chuyển tiếp:
Đây là một loại phương tiện nối lỏng có số lượng lớn nhất và tần số sử
dụng cao nhất.
Với những "thành phần chuyển tiếp" thuộc phép nối lỏng này:
- Về mặt hình thức nó chỉ mang tính chất "chêm xen" ngồi nòng cốt
câu, chính vì thế việc thêm hay bớt nó, khơng ảnh hưởng gì đến cấu trúc của
phát ngơn.
- Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn nhận nó trên phương diện ngữ nghĩa thì
lại hồn tồn khác: Sự có mặt của nó chỉ ra sự liên kết của phát ngơn chứa nó
với chủ ngơn, do vậy nó làm mất đi tính hồn chỉnh nội dung của phát ngơn.
Ví dụ : " Gia đình chị bình qn mỗi năm thu trên 3 tấn lúa, hơn 2 tấn chè
búp tơi và xuất chuồng từ 1,5 – 2 tấn lợn thịt hơi. Ngồi ra, chị còn mở qn
may quần áo phục vụ bà con , thu nhập của gia đình chị đạt mức từ 25 -30 triệu
đồng / năm."
(Chị cán bộ dân số năng động _ Báo Yến Bái, số 1812, ra ngày 29-11-
06)
Với ví dụ trên đây, phát ngơn thứ hai là một câu rất đặc trưng, ở đó có
chứa từ " ngồi ra ", làm thành phần chuyển tiếp. Và thành phần chuyển tiếp này
chỉ ra:
+ Thứ nhất, phát ngơn chứa nó khơng phải là phát ngơn đầu tiên trong văn
bản, trước phát ngơn này còn ít nhất một phát ngơn khác liên kết với nó hay nói
cách khác nó có chức năng liên kết.
+ Thứ hai, sự kiện nêu ra trong phát ngơn chứa nó diễn ra trong cùng một
đối tương, hồn cảnh, sự việc, vớiý ý nghĩa là bổ sung thêm các sự kiện vào đó
để làm rõ nghĩa hơn cho phát ngơn trước. ( chức năng ngữ nghĩa ).
Các yếu tố cấu tạo từ vựng làm thành phần chuyển tiếp có cấu tạo và
nguồn gốc rất đa dạng.[ 11, 172] Chúng có thể là:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
+ Các từ : thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn, vả
lại, thậm chí, song le, sự thật, đặc biệt…
+ Các kết hợp cố định hóa : ( song tiết ) tiếp theo, thứ hai, ngồi ra, hơn
nữa, mặt khác, trái lại, ngược lại, tóm lại, nhìn chung…
+ Các kết hợp có xu hướng cố định hố : thường có ba mơ hình cấu tạo cơ
bản như sau:
- Mơ hình “ động từ + trạng tố chỉ cách thức” : nói cách khác, nói khác
đi, nói đúng ra, nói một cách tóm tắt, nói một cách chính xác hơn
- Mơ hình “ từ nối + đại từ “ :với từ nối là giới từ ta có : trên đây, trước
đây, sau đây, từ đó, do vậy ; với từ nối liên từ ta có : vì vậy, bởi vì, bởi vậy,
tuy thế, như thế
- Mơ hình tận cùng bằng từ “ là” : “ đại từ + là” :thế là, vậy là
“ danh từ + là”: nghĩa là, kết quả
là…
Còn đối với kiểu nối lỏng thứ hai: Chúng được chia thành hai loại nhỏ:
- Các từ làm phụ tố trong động ngữ: Nhóm này gồm các phụ từ như:
cũng, lại, vẫn, còn, cứ và các trợ động từ như: thêm, khi sử dụng các phụ từ
này còn có thể kết hợp lại để bổ sung nghĩa cho nhau (lại cũng, vẫn cứ, vẫn
còn )
Sự có mặt ở các yếu tố này khơng gây một ảnh hưởng đặc biệt nào đối với
cấu trúc của một phát ngơn. Chúng hoạt động giống hết như những phụ tố khác
khơng có chức năng nối lỏng. Chức năng nối lỏng ở các từ này là do ngữ nghĩa
của chúng quy định
Tất cả các phương tiện nối lỏng còn được phân loại theo các quan hệ ngữ
nghĩa mà chúng biểu hiện hoặc theo hướng liên kết của chúng (đó chính là liên
kết hồi quy hay dự báo). Có thể nói, đây là cách phân loại hết sức quan trọng.
Nói chung, các loại quan hệ thuần t khơng chỉ thể hiện một loại quan hệ
thuần t mà còn chia thành hai loại rõ rệt : Quan hệ định vị (gắn liền với các
sự vật.sự kiện) và quan hệ lơgíc (phổ biến ở những nội dung mang tính chất tư
duy, lập luận).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
1.3. Phân loại
Đối với những từ thuộc quan hệ trong phép nối lỏng, tác giả Trần Ngọc
Thêm [10] đã chia ra thành ba loại quan hệ khác nhau, làm cho người tìm hiểu
rất dễ nhận diện và phân biệt:
+ Quan hệ định vị
+ Quan hệ lơgíc- diễn đạt.
+ Quan hệ lơgíc- sự việc.
Trong mỗi một quan hệ riêng biệt đó, tác giả lại chia ra thành rất nhiều
các nhóm quan hệ nhỏ khác nhau, các từ nối khác nhau, tạo nên một hệ thống
những từ nối rất phức tạp, đa dạng.
Trên thực tế, có từ nối là thuộc quan hệ nối này, nhưng cũng lại thuộc
quan hệ nhóm khác. Những trường hợp như vậy, người ta rất dễ nhầm lẫn. Trong
tình hình đó chỉ có thể dựa vào những tính chất và bối cảnh của từng đoạn, từng
câu trong văn bản để có thể xác định được chúng.
( Để hiểu và phân biệt chúng một cách rõ nét hơn về các quan hệ nối,
cũng như phân biệt sự khác và giống nhau đối với phép nối chặt. Có thể xem
bảng 2, bảng 3, bảng 4 ở phần 3.2.3 sau.)
2. Phép nối chặt
2.1. Định nghĩa
“Phép nối chặt thuộc phạm vi nghiên cứu của hiện tượng nối liên kết.
Nó là một trong những phương thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện
bằng sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy),
hoặc chỗ kết thúc (liên kết dự báo) và tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai
ngơi giữa: Ngữ trực thuộc và chủ ngơn.” [11, 205]
Các ngữ trực thuộc có liên kết bằng phép nối chặt có thể gọi là Ngữ trực
thuộc nối.
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu: Ngữ trực thuộc là gì ?
"Nếu một phát ngơn liên kết với một phát ngơn khác trong văn bản
bằng một trong hai phương thức liên kết trực thuộc thì phát ngơn đó là Ngữ
trực thuộc.” [11, 184]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Như vậy, theo quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm, thì phép nối chặt là
một trong hai phương thức liên kết đặc thù nhất của Ngữ trực thuộc, và nó là
những phương thức liên kết cực mạnh.
Chúng ta cần phải khẳng định rằng từ nối dùng để liên kết các phát ngơn
lại với nhau.
2.2. Nhận diện
Thứ nhất, như đã chỉ ra rằng: Phép nối chặt là những phương thức liên kết
của Ngữ trực thuộc được thể hiện bằng sự có mặt của những từ nối ( liên từ, giới
từ). Và nhờ có những từ nối này mà phát ngơn trở nên khơng hồn chỉnh về cấu
trúc câu, trở thành một ngữ trực thuộc hẳn vào chủ ngơn. Cũng nhờ vào đó, mà
phép nối chặt có phần nào dễ nhận diện hơn.
Chúng ta đi xem xét ví dụ sau đây:
Ví dụ (1) : A! Bé hiểu rồi: “ Mùa hạ đến từ trong lòng, phải khơng nhỉ?”
Rồi, đơi hàng mi lại khẽ nhếch lên, dễ thương đến lạ kì!”
(Mùa hạ của bé _ Báo n bái, số 1748 ra ngày 3 – 7 – 2006 )
Ví dụ (2): “Bé ngước nhìn chùm phượng đỏ bên đường, gọi tiếng râm ran
hồ vào từng kẽ lá, thắp cho mùa hạ một màu đỏ man mác, lạ lùng. Rồi,một
đám mây trời mùa hạ trắng xố vẽ nên hạ bừng sáng với những tia nắng tinh
nghịch, màu phượng thắm rắc thêm nền trời long lanh.”
( Mùa hạ của bé _ Báo n bái, số 1748 ra ngày 3 – 7 – 2006 )
Qua hai ví dụ trên, chúng ta có thể thấy từ “ rồi” có nhiệm vụ là từ nối
giữa hai câu lại với nhau thành nội dung nhất định. Mới nhìn qua, tưởng chừng
như từ “ rồi” trong hai ví dụ đó hồn tồn giống nhau về quan hệ cũng như tính
liên kết.
Bởi lẽ, từ “ rồi” với ý nghĩa là : “ biểu thị hành động ở trong câu trước đã
hồn thành, nên chuyển sang hành động của câu sau.” Nhưng nếu chúng ta bỏ
từ nối “ rồi” đó đi trong cả hai ví dụ, thì sẽ nhận được một sự khác biệt nhau rõ
rệt:
Ví dụ (1): A! Bé hiểu rồi: “ Mùa hạ đến từ trong lòng, phải khơng nhỉ?”.
Đơi hàng mi lại khẽ nhếch lên, dễ thương đến lạ kì!”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
(Mùa hạ của bé _ Báo n bái, số 1748 ra ngày 3 – 7 – 2006 )
Ở ví dụ này, phát ngơn thứ hai chỉ là một ngữ trực thuộc của chủ ngơn mà
thơi, chứ nó khơng phải là một câu riêng lẻ. Nó phụ thuộc hồn tồn vào chủ
ngơn. Khơng giống như vậy, đối với:
Ví dụ (2): “ Bé ngước nhìn chùm phượng đỏ bên đường, gọi tiếng râm ran
hồ vào từng kẽ lá, thắp cho mùa hạ một màu đỏ man mác, lạ lùng. Một đám
mây trời mùa hạ trắng xố vẽ nên hạ bừng sáng với những tia nắng tinh nghịch,
màu phượng thắm rắc thêm nền trời long lanh.”
(Mùa hạ của bé _ Báo n bái, số 1748 ra ngày 3 - 7 - 2006 )
Chúng ta có thể thấy rõ ràng , dù bỏ đi từ nối “ rồi” nhưng đó vẫn là hai
câu đơn hồn tồn độc lập nhau, khơng hề phụ thuộc nhau về mặt ngữ pháp. Đó
chính là từ nối “ rồi” trong phép nối lỏng.
Như vậy chứng tỏ rằng, việc nhận diện xem đó có phải là phép nối chặt
hay khơng, thì điều quan trọng nhất chúng ta phải xét xem, nếu bỏ đi từ nối liên
kết thì phát ngơn thứ hai có phải là một ngữ trưc thuộc vào chủ ngơn hay khơng?
Nếu phải thì đó chính là phép nối chặt.
Tuy nhiên đây cũng là một hiện tượng nối xuất hiện rất ít trong văn bản.
Chính vì vậy, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm về vấn đề này.
2.3. Phân loại
Tương tự như ở hiện tượng nối lỏng mà đã nói đến ở phần 3.1.3, tác giả
Trần Ngọc Thêm dựa trên những quan hệ của những từ nối và cụm từ nối đó
trong câu, đã phân chia ra thành ba loại quan hệ lớn:
+ Quan hệ định vị.
+ Quan hệ lơgíc - diễn đạt.
+ Quan hệ lơgíc sự vật.
Vậy thì giữa hai hiện tượng nối lỏng và nối chặt (có cùng ba loại quan hệ
giống nhau như vậy), hoạt động của những từ nối, cụm từ nối có giống nhau
khơng?
Để xem xét rõ hơn về khía cạnh này, chúng tơi xin đưa ra ba bảng so sánh
sau dựa trên ba mối quan hệ nối đó:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Bảng 2: So sánh phép nối lỏng và phép nối chặt theo quan hệ định vị

Quan hệ định vị
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Định vị thời gian
Định vị
KGian
Định vị thời gian Định vị khơng gian
TG kế
tiếp
TG
đảo
TG đồng
thời
TG đột biến
TG kế
tiếp
TG đảo
TG
đồng
thời
KG tâm KG biên
KG định
hướng
Thế rồi,
lát sau
sau
khi
đồng thời,
trong đó
Bỗng nhiên,
đột nhiên
cạnh đó, gần
đó, tại đây
rồi,
đến,
từ
trước,
sau.

ở, tại,
trong
giữa
Cạnh, bên,
gần, ngồi
Từ, đến,
tới, ra,
vào.







THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
Bảng 3: So sánh phép nối lỏng và nối chặt theo quan hệ lơgíc - diễn đạt

Quan hệ lơgíc diễn đạt
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Trình tự diễn đạt Thuyết minh - bổ sung Xác minh- nhấn mạnh Trình tự diễn đạt
Thuyết
minh-bổ
sung
Mở đầu
Diễn
biến
Kết
thúc
Giải
thích
Minh
hoạ
Bổ sung Xác minh Chính xác
Nhân
mạnh
Đẳng
lập
Tuyển
chọn

Đầu tiê,
trước
tiên
Trên
đây, tiếp
theo,
Cuối
cùng,
tóm lại
Tức là,
nghĩa

Ví dụ, cụ
thể, minh
hoạ
Ngồi ra,
hơn nữa,
còn, nữa,,
Quả
nhiên, tất
nhiên …
Rõ ràng,
thật vậy,
sự thật
Nhất là,
đặc biệt

Và, với,
cùng
Hay,
hoăc
Như, rằng






THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Bảng 4: So sánh phép nối lỏng và nối chặt theo quan hệ lơgíc - sự vật
Quan hệ lơgíc sự vật
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Nhân quả Tương phản - đối lập Nhân quả
Tương
phản- đối
lập
Sở hữu-
phương tiện
Tương phản
đối
lập
Ngun nhân điều kiện
Giả
thiết
Hương
đích
Kết quả
Sở
hữu
Phương
tiện
Thì ra, hố
ra, như vậy,
Tuy nhiên,
tuy vậy, lẽ ra
Trái
lại,
Vì, bởi, tại,
do, nhờ…
Tuy dù,
dẫu, thà
Nếu,
giá, hễ
Để, cho Nên, thì,
mà…
Nhưng,
song
Của Bằng,
Với.



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét