Trong quá trình thực hiện bản Điều lệ tạm thời về chế độ hợp
đồng kinh tế, Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản quy định các điều
lệ về từng chủng loại hợp đồng chính trị ở nớc ta. Hợp đồng kinh tế
đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh
tế xã hội chủ nghĩa.
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối
quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh
doanh xã hội chủ nghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công phân tán
theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công
nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân từ sản
xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa .
Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế
độ hợp đồng kinh tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày
10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ). Điều lệ này đã quy định tơng
đối đầy đủ các vấn đề nh: Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc
ký kết, các nội dung ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải
quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng kinh
tế những quy định này đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng đáp
ứng yêu cầu của công cuộc cải tiến quản lý kinh tế, góp phần đa các
quan hệ hợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai đoạn này với sự
phát triển cao độ của cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp
đồng kinh tế đã trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nớc
để quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là hợp
đồng kinh tế đợc coi là một công cụ hữu hiện trong xây dựng, thực
hiện và đánh dấu việc hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch
Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa
hợp đồng kinh tế và kế hoạch. Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng
kế hoạch, thực hiện hợp đồng kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm
hợp đồng kinh tế là vi phạm hợp đồng kế hoạch Do đó, việc ký kết
hợp đồng kinh tế đợc Nghị định 54/CP quy định là một nghĩa vụ, là kỷ
luật Nhà nớc. Nhà nớc quy định tỷ mỉ, chặt chẽ gần nh toàn bộ nội
7
dung của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh.
Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp
đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Về mặt lý luận,
ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp đồng kinh tế
trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ là ở chỗ, trong quan hệ
hợp đồng kinh tế có sự thống nhất của 2 yếu tố: yếu tố trao đổi tài
sản (quan hệ ngang) và yếu tố tổ chức kế hoạch (quan hệ quản lý).
Nhng phải nói rằng, do Nhà nớc ta đã nhấn mạnh quá mức yếu tố tổ
chức - kế hoạch trong quan hệ hợp đồng kinh tế nên đã làm cho hợp
đồng bị biến dạng và đã trở thành công cụ chủ yếu để Nhà nớc thực
hiện sự can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị
kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện nội dung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cần xoá
bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp xác định
rõ phạm vi quản lý Nhà nớc về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh,
xác lập và mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị
kinh tế cơ sở, bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý trong các quan
hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế, không phân biệt thành phần kinh
tế.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một
nội dung mới. Bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm
theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 không còn phù hợp nữa. Vì vậy,
Nhà nớc đã ban hành Pháp lện hợp đồng kinh tế ở nớc ta, nó đã thể
chế hoá đợc những t tởng lớn về đổi mới quản lý kinh tế của Đảng,
trả lại giá trị đích thực của hợp đồng kinh tế với t cách là sự thống
nhất ý chí của các bên, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các văn bản
pháp lý cụ thể hoá pháp lệnh đã tạo thành hệ thống các quy phạm
pháp luật làm cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng kinh tế trong cơ chế kinh tế mới hiện nay.
8
b. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/
9/1989 thì hợp đồnh kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc
thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận
khác có mục đích kinh doanh cà thực hiện kế hoạch của
mình
c. Phân loại hợp đồng kinh tế:
*.Căn cứ vào thời gian của hợp đồng kinh tế
+Hợp đồng dài hạn: Hợp đồng này có thời hạn từ trên một nam nhằm
thực hiện kế hoạch dài hạn
+Hợp đồng ngắn hạn: Đây là những hợp đồng có thời hạn đợc thu
thực hiện từ một năm trở xuống.
Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng
kinh tế thành hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng
kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh.
Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế
đợc ký căn cứ vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao. Ký kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của
Nhà nớc, là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu
Pháp lệnh. Trong nền kinh tế thị trờng, số lợng hợp đồng kinh tế
thuộc loại này rất hạn chế .
Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp
đồng đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực
hiện kế hoạch của các chủ thể. Các chế độ ký kết, thực hiện hợp
đồng của loại hợp đồng này đợc nghiên cứu trong các mục tiếp theo
của chơng này.
Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế, trong
hợp đồng có thể chia hợp đồng kinh tế thành các loại sau đây :
9
- Hợp đồng mua bán hàng hoá
- Hợp đồng vận chuyển
- Hợp đồng xây dựng cơ bản
- Hợp đồng gia công
- Hợp đồng dịch vụ
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật
- Các loại hợp đồng khác.
3. Đặc điểm hợp đồng kinh tế
- Về nội dung: Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt
động kinh doanh. Đó là nội dung thực hiện các công việc sản xuất,
trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và
các thoả thuận khác do các chủ thể tiến hành trong một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình tái sản xuất, từ khi đầu t vốn đến khi
tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp.
Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục tiêu của các đơn vị
kinh tế. Vì vậy, mục đích là kinh doanh luôn đợc thể hiện hàng đầu
trong các hợp đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây dựng
và thực hiện kế hoạch của mình. Khác với hợp đồng kinh tế, nội dung
của hợp đồng dân sự lại chủ yếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng của các chủ thể ký kết.
- Về chủ thể hợp đồng, theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế thì hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay
pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật và phải ký kết trong phạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký.
Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định những ngời làm công tác khoa học
10
kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể,
các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở Việt Nam cũng có thể trở thành
chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp đồng với một pháp
nhân.
Trên thực tế hiện nay và xu hớng trong nền kinh tế thị trờng
chủ thể chủ yếu của hợp đồng kinh tế là các doanh nghiệp. Đối với
hợp đồng dân sự, mọi pháp nhân và cá nhân có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi đều có thể là chủ thể của hợp đồng ,.
- Về hình thức, hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn
bản. Đó là bản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản
có chữ ký của các bên xác nhận nội dung trao đổi, thoả thuận nh
công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận
Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy định bắt
buộc mà các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo. Văn bản này là sự
ghi nhận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận với
nhau, là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện các điều đã
cam kết, để các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra tính hợp
pháp của mối quan hệ kinh tế và giải quyết các tranh chấp, xử lý các
vi phạm nếu hợp đồng dân sự phải ký kết bằng văn bản hoặc thoả
thuận miệng tuỳ theo nội dung của từng quan hệ hợp đồng và ý chí
của các bên ký kết.
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ảnh mối quan
hệ giữa kế hoạch với thị trờng. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên
định hớng kế hoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện
kế hoạch của các đơn vị kinh tế. Trong đó có những hợp đồng kinh tế
mà việc ký kết và thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu
kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc. Trong cơ chế quản lý theo phơng
pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của
hợp đồng kinh tế. Mặc dù trong giai đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có
những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch hóa, nhng tính kế hoạch
11
của hợp đồng kinh tế vẫn tồn tại: Hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị
sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch, vừa là công
cụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch .
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp
đồng kinh tế và các loại hợp đồng khác nh hợp đồng dân sự, hợp
đồng ngoại thơng, hợp đồng lao động.v.v
II. Chế độ ký kết hợp đồng kinh tế:
1.Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế .
Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế là những t tởng chỉ
đạo, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế. Tính bắt buộc này đợc thể hiện thông qua
các quy phạm pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản đợc ghi nhận trong
Điều 3 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Hợp đồng kinh tế đ ợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện,
cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách
nhiệm tài sản và không trái pháp luật .
a- Nguyên tắc tự nguyện :
Theo nguyên tắc này, một hợp đồng kinh tế đợc hình thành, phải
hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do
ý chí ), không thể do sự áp đặt ý chí của bất cứ cơ quan, tổ chức hay
cá nhân nào.
Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý
chí, tự nguyện trong việc thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý
chí nhằm đạt tới mục đích nhất định. Các bên có quyền tự do lựa
chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và các nội dung ký kết. Mọi sự tác
động làm tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết nh bị c-
12
ỡng bức, lừa đảo, nhầm lẫn đều làm ảnh hởng đến hiệu lực của hợp
đồng kinh tế.
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong ký kết hợp đồng
kinh tế của các chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đảm bảo. Ký kết
hợp đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải
gắn liền với những các điều kiện nhất định, đó là :
- Không đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật.
- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh
trong các thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nớc thì không đợc
lợi dụng quyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất
bình đẳng, ép buộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt đợc những đòi hỏi bất
bình đẳng đó nên đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề
độc quyền của mình.
- Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn đợc
thể hiện qua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp
đặt của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng
kinh tế.
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu
bớc đổi mới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta,
đợc ghi nhận trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 .
Cũng cần lu ý rằng, trớc đây cũng nh hiện nay, việc ký kết
các hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh là nghĩa vụ
bắt buộc của các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp
lệnh, là kỷ luật Nhà nớc. Đối với việc ký kết loại hợp đồng này, tính
tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể do có sự ràng buộc
bởi tính kỷ luật của các chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh .
13
b. Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi:
Nội dung của nguyên tắc này là khi ký kết hợp đồng kinh tế,
các chủ thể phải đảm bảo trong nội dung của hợp đồng có sự tơng
xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của mỗi bên.
Tính bình đẳng này không phụ thuộc và quan hệ sở hữu và quan hệ
quản lý của chủ thể. Bất kể các đơn vị kinh tế thuộc thành phàn kinh
tế nào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ, cũng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu
trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết. Không thể có
một hợp đồng kinh tế nào chỉ mang lại lợi ích cho một bên hoặc một
bên chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ. Một hợp đồng kinh tế
đợc ký kết mà vi phạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh hởng đến
hiệu lực của hợp đồng kinh tế đó.
Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều
thành phần, cơ cấu chủ thể của hợp đồng kinh tế rất đa dạng,
nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng. Nó góp phần tạo nên sự
bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích
sự phát triển và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế
thị trờng.
c. Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và
không trái pháp luật
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ hợp
đồng kinh tế phải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo việc ký
kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, một chủ thể có thể ký kết
hợp đồng kinh tế trong trờng hợp đợc một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh
về tài sản.
14
Quy định việc ký kết hợp đồng không trái pháp luật đòi hỏi
nội dung, hình thức chủ thể của hợp đồng kinh tế đó phải phù hợp,
tuân theo các quy định của pháp luật, không đợc lợi dụng việc ký
kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp
đồng kinh tế và việc bảo về trật tự quản lý kinh tế của Nhà nớc. Một hợp
đồng kinh tế chỉ có thể đợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó
không trái pháp luật và các bên có khả năng thực hiện đẩy đủ các quyền
và nghĩa vụ của mình. Trong giai đoạn hiện nay nguyên tắc này càng cần đ-
ợc coi trọng.
2. Căn cứ để ký kết hợp đồng kinh tế
Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế đợc quy định tại Điều 10
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Theo quy định này, hợp đồng kinh tế
đợc ký kết trên các căn cứ sau:
a. Định hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách, chế
độ, các chuẩn mực kinh tế, kỹ thuật hiện hành.
Đối với mỗi đơn vị kinh tế, ký kết hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây
dựng kế hoạch và là cộng cụ để thực hiện kế hoạch của mình. Kế
hoạch của mỗi đơn vị kinh tế đợc xây dựng căn cứ vào định hớng kế
hoạch của Nhà nớc, do đó việc ký kết các hợp đồng kinh tế cũng
phải căn cứ vào định hớng kế hoạch của Nhà nớc. Ngoài ra, để đảm
bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trong việc xây dựng nội dung
của hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng các chủ thể cũng phải
căn cứ vào các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của Nhà n ớc,
các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành đối với từng loại sản phẩm,
ngành nghề.
15
b. Nhu cầu thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của
bạn hàng.
Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
luôn luôn gắn liền với sự vận động của thị trờng của quan hệ cung
cầu. Vì vậy, trong việc ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải
luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị trờng bao gồm các khả năng
cung cấp hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu cần đáp ứng về hàng hoá
dịch vụ của mình và của bạn hàng.
Căn cứ này nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đợc ký
kết có khả năng thực hiện trên thực tế, đồng thời đảm bảo cho sản
xuất kinh doanh vừa mang lại hiệu quả cao cho các đơn vị kinh tế,
vừa thoả mãn nhu cầu xã hội, đảm bảo gắn kế hoạch sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế với quan hệ thị trờng.
c. Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng
hoạt động của các chủ thể ký kết.
Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh
tế là những khả năng thực tế về tiền vốn, vật t, năng suất lao động,
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chức năng hoạt động là phạm vi ngành
nghề, lĩnh vực kinh tế mà đơn vị đó đợc tiến hành hoạt động.
Việc ký kết hợp đồng kinh tế không thể bỏ qua đợc căn cứ
này bởi vì nó đảm bảo khả năng thực tế của việc thực hiện hợp
đồng, đồng thời bảo đảm tính cân đối giữa khả năng và nhu cầu, giữa
sản xuất và tiêu thụ, giữa giá trị và hiện vật .
Mặt khác, các đơn vị kinh tế hoạt động đúng ngành nghề cần
đảm bảo các cân đối ngành kinh tế và trật tự quản lý kinh tế của Nhà
nớc .
16
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét