Lê Huy Hoằng
3.3. Tổng hợp kết quả kiểm toán chu trình hàng tồn kho 48
Chơng II: Thực tiễn kiểm toán chu trình hàng tồn kho 50
Trong kiểm toán báo cáo tài chính do AASC thực hiện
I. Tổng quan về Công ty Dịch vụ T vấn Tài chính 50
Kế toán và Kiểm toán
1. Lịch sử hình thành và phát triển 50
2. Cơ cấu tổ chức 51
3. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh và các dịch 53
vụ của AASC
II. Thực tiễn kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm 56
toán báo cáo tài chính do AASC thực hiện
1. Quy trình kiểm toán chung của AASC 56
2. Chơng trình kiểm toán hàng tồn kho của AASC 58
3. Thực hiện kiểm toán hàng chu trình tồn kho tại các 63
khách hàng của AASC
3.1. Lập kế hoạch kiểm toán chu trình hàng tồn kho 63
3.1.1. Chuẩn bị kiểm toán 63
3.1.2. Tìm hiểu khách hàng 64
3.2. Thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng tồn kho tại hai 76
công ty ABC và Công ty XYZ
3.2.A. Thực hiện kiểm toán tại Công ty ABC 77
3.2.A.1. Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ 77
3.2.A.1.a. Kiểm tra số d trên tài khoản 78
hàng tồn kho
3.2.A.1.b. Kiểm tra tính có thực của nghiệp 79
vụ phát sinh
3.2.A.1.c. Kiểm tra tính đầy đủ và việc phân 81
loại, trình bầy các nghiệp vụ kinh tế
3.2.A.2. Kiểm tra trực tiếp số d 85
3.2.A.2.a. Kiểm kê hàng tồn kho 86
3.2.A.2.b. Kiểm tra chi tiết tính giá nguyên 88
vật liệu
3.2.A.2.c. Kiểm tra chi tiết công tác tập 89
hợp chi phí sản xuất
3.2.A.2.d. Kiểm tra công tác phân bổ chi phí 91
đánh giá sản phẩm dở dang và tính
giá thành sản phẩm
3.2.A.3. Kết thúc kiểm toán ở Công ty ABC 93
3.2.B. Thực hiện kiểm toán tại Công ty XYZ 96
3.2.B.2. Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ 96
3.2.B.2. Kiểm tra chi tiết số d 97
5
Lê Huy Hoằng
Chơng III: Một số nhận xét và giải pháp góp phần 103
hoàn thiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho
trong kiểm toán báo cáo tài chính do aasc thực hiện
I. Nhận xét công tác kiểm toán hàng tồn kho 103
do AASC thực hiện
1. Một số nhận xét về hoạt động của Công ty Dịch vụ T 103
vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán
2. Nhận xét về công tác kiểm toán chu trình hàng 105
tồn kho do AASC thực hiện
II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán 109
chu trình hàng tồn kho do AASC thực hiện
1. Sự cần thiết hoàn thiện quy trình kiểm toán 109
hàng tồn kho tại AASC
2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình 111
kiểm toán chu trình hàng tồn kho
Kết luận. 116
Danh mục tài liệu tham khảo 118
6
Lê Huy Hoằng
Chơng I
Những vấn đề cơ bản về kiểm toán chu trình
hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính.
I. Kiểm toán tài chính với vấn đề kiểm toán hàng tồn kho.
1. Khái niệm về kiểm toán tài chính và cách thức tiếp cận kiểm toán
trong kiểm toán tài chính.
Thuật ngữ kiểm toán đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III trớc
Công nguyên, gắn liền với nền văn minh Ai cập và La mã cổ đại. Hình thức sơ
khai ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra đợc thực hiện bằng cách
ngời soạn thảo các báo cáo và đọc cho một bên độc lập nghe. Ngày nay, kiểm
toán đợc hiểu là hoạt động xác minh và bầy tỏ ý kiến về thực trạng đợc kiểm
toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ thuật của kiểm toán viên có trình độ nghiệp
vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực [6,49].
Kiểm toán tài chính là một trong các loại hình của kiểm toán, là hoạt
động đặc trng nhất của kiểm toán nó biểu hiện cụ thể và sinh động nhất các
đặc trng cơ bản của kiểm toán. Trong đó đối tợng của kiểm toán tài chính là
các bảng khai tài chính. Bảng khai tài chính là các bảng tổng hợp chứa đựng
những thông tin tài chính đợc lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở những
tài liệu kế toán tổng hợp và chi tiết theo các quy tắc, các chuẩn mực hay các
quy đinh pháp lý.
Việc xác minh và đa ra các ý kiến nhận xét xác đáng về các bảng khai tài
chính đợc kiểm toán luôn là cái đích mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán
hớng tới. Để đạt đợc mục đích của mình, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
sử dụng những cách tiếp cận khác nhau đối với đối tợng kiểm toán, và về cơ
bản có hai cách phân chia các bảng khai tài chính thành các phần hành nh sau:
phân theo khoản mục hoặc phân theo chu trình.
7
Lê Huy Hoằng
Phân theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc
nhóm khoản mục theo thứ tự trong các Bảng khai tài chính vào một phần
hành[7,10]. Ưu điểm của cách phân chia này là thực hiện đơn giản, tuy nhiên
không hiệu quả do mất đo sự liên hệ giữa các khoản mục do đó không gắn kết
đợc kết quả và công việc kiểm toán.
Phân theo chu trình là cách phân chia đợc căn cứ vào mối liên hệ chặt
chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong
một chu trình chung của hoạt động tài chính. Cách phân chia này có u điểm
hơn cách phân chia theo khoản mục là gắn kết đợc mối liên hệ cũng nh thấy đ-
ợc sự tác động qua lại giữa các khoản mục, do đó kết quả kiểm toán và công
việc kiểm toán có thể liên hệ với nhau đồng thời nâng cao đợc hiệu quả trong
công tác kiểm toán. Với cách phân chia này, các chu trình thờng bao gồm các
phần hành cơ bản sau: kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền, kiểm toán tiền
mặt, kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán, kiểm toán chu trình tiền l-
ơng và nhân viên, kiểm toán chu trình hàng tồn kho, kiểm toán huy động-
hoàn trả vốn.
2. Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Quy trình kiểm toán là trình tự tiến hành công việc kiểm toán của mỗi
cuộc kiểm toán, đợc sắp xếp theo thứ tự phù hợp với diễn biến khách quan của
hoạt động kiểm toán, phù hợp với các quy định pháp lý hoặc những chuẩn mực
đợc thừa nhận, nhằm đảm bảo chất lợng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán.
Trong kiểm toán báo cáo tài chính quy trình kiểm toán bao gồm ba giai đoạn
sau: lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế các trơng trình kiểm toán, thực hiện kế
hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán là công việc đầu tiên mà các kiểm toán viên cần
thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
300 Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán, trong
đó mô tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán. Kế
8
Lê Huy Hoằng
hoạch kiểm toán phải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập chơng trình kiểm toán,
lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch tổng quát và kế hoạch kiểm toán
chi tiết) là công việc phức tạp, do đó công việc này thờng đợc thực hiện bởi
các giám đốc kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán hay các kiểm toán viên có kinh
nghiệm và thờng đợc thực hiện qua các bớc sau:
a. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán là giai đoạn công ty kiểm toán và kiểm
toán viên thực hiện các các công việc: liên hệ với khách hàng thờng xuyên
cũng nh khách hàng tiềm năng, đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận
diện các lý do kiểm toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên thực
hiện kiểm toán và ký kết các hợp đồng kiểm toán.
b. Thu thập thông tin cơ sở.
Thu thập thông tin cơ sở là bớc công việc tiếp theo giúp cho kiểm toán
viên có đợc cái nhìn tổng quan ban đầu về khách hàng và thông thờng đợc tiến
hành qua các bớc: tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách
hàng, xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trớc và hồ sơ kiểm toán chung,
tham quan nhà xởng, nhận diện các bên hữu quan và dự kiến nhu cầu về
chuyên gia bên ngoài.
c. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực
hiện các thủ tục phân tích.
Thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho
kiểm toán viên và công ty kiểm toán hiểu biết đợc các quy trình mang tính
pháp lý có ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng. Những thông
tin này đợc kiểm toán viên thu thập qua tiếp xúc với ban Giám đốc của khách
hàng nh: giấy phép thành lập và điều lệ công ty; Các Báo cáo tài chính, báo
cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong vài năm tr-
ớc; Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc; Các
9
Lê Huy Hoằng
hợp đồng và cam kết quan trọng nh: hợp đồng mua, bán hàng, mua bán tài
sản
Các thủ tục phân tích cũng đợc kiểm toán viên thực hiện đồng thời trong
bớc công việc này nhằm xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo
tài chính.
Thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất
quan trọng, qua đó tìm ta xu hớng biến động và tìm ra những mối liên hệ có
mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với
giá trị dự kiến (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520).
Việc sử dụng nhiều hay ít, phạm vi rộng hay hẹp, thời gian dài hay ngắn
các thủ tục phân tích trong giai đoạn này tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm, tính
chất hoạt động kinh doanh của khách hàng. Các thủ tục phân tích đợc các
kiểm toán viên sử dụng có hai loại cơ bản sau: phân tích ngang (phân tích xu
hớng) và phân tích dọc (phân tích tỷ suất).
d. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro.
Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai
phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ, hoặc là từng nhóm
mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không
thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm [7,111].
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên thực hiện việc đánh giá
mức độ trọng yếu với mục đích để ớc tính mức độ sai sót có thể chấp nhận đợc
của Báo cáo tài chính. Sau đó kiểm toán viên thực hiện phân bổ mức đánh giá
cho từng khoản mục kiểm toán.
Việc ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu đợc thực hiện nhằm lập kế hoạch
phục vụ cho việc thu thập những bằng chứng kiểm toán thích hợp. Kiểm toán
viên thực hiện ớc lợng (đánh giá ban đầu) về tính trọng yếu trên phạm vi toàn
bộ Báo cáo tài chính sau đó mức ớc lợng này sẽ đợc phân bổ cho từng khoản
mục cụ thể dựa vào bản chất, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đối với khoản
10
Lê Huy Hoằng
mục phân bổ nhằm mục đích xác định số lợng các bằng chứng kiểm toán cần
thu thập đối với từng khoản mục.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, xuất phát từ nhiều nguyên nhân
khác nhau, khả năng kiểm toán viên đa ra nhận xét không xác đáng về báo cáo
tài chính của doanh nghiệp là điều luôn có thể xảy ra, khả năng đó đợc gọi là
rủi ro kiểm toán. Rủi ro cũng đợc đề cập tới rất nhiều lĩnh vực khác liên quan
đến rủi ro kiểm toán nh: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện.
Rủi ro tiềm tàng (rủi ro cố hữu) là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản
mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc
hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ [7,115].
Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống
kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động
không hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này
[7,117].
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên Báo
cáo tài chính mà không đợc ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát
nội bộ và cũng không đợc kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm
toán[7,117].
Việc xác định mức trọng yếu và rủi ro là thủ tục phức tạp, đòi hỏi trình
độ, khả năng xét đoán, kinh nghiệm của kiểm toán viên cũng nh những chỉ dẫn
mang tính nghề nghiệp của các công ty kiểm toán.
e. Ngiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá
rủi ro kiểm soát.
Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế IAS 400 quy định: "Kiểm toán viên cần
phải có sự hiểu biết phù hợp về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch
kiểm toán và đề ra một số biện pháp kiểm toán có hiểu quả. Kiểm toán viên
cần phán đoán về mặt nghề nghiệp để đánh giá các rủi ro kiểm toán và đề ra
các quy trình kiểm toán nhằm hạn chế rủi ro một cách có thể chấp nhận đợc".
11
Lê Huy Hoằng
Khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kiểm toán viên
quan tâm đến hai mặt chủ yếu: sự hiện hữu của bộ máy kiểm soát và các quy
chế kiểm soát; tính hoạt động liên tục và có hiệu lực của hệ thống kiểm soát
nội bộ. Mục đích của việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
là đánh giá khả năng kiểm toán, nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm
tàng .để có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp. Việc tìm hiểu hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đợc kiểm toán viện thực hiện thông
qua thẩm vấn nhân viên và Ban giám đốc khách hàng, kiểm tra sổ sách và
chứng từ đã hoàn tất, quan sát hoạt động của khách hàng để nắm bắt đ ợc
những thay đổi trong hệ thống kiểm soát nội bộ nh các chế độ, thủ tục cũng
nh sự vận dụng thực tế của các chế độ, thủ tục tại công ty khách hàng.
Trong quá trình tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, để
đạt đợc sự hiểu biết tốt nhất kiểm toán viên thờng sử dụng các phơng pháp vẽ
các lu đồ, lập Bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ, lập Bảng tờng thuật về kiểm
soát nội bộ để thấy đợc u nhợc điểm của hệ thống, mô tả và phân tích cơ cấu
kiểm soát cũng nh nhận xét chính xác về các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với
các hoạt động cụ thể.
Những nghiên cứu ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
là căn cứ để kiểm toán viên đánh giá tính hiệu lực của hệ thống này trong việc
ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trong hoạt động tài chính. Việc
đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đợc kiểm toán viên thực hiện cho từng
mục tiêu kiểm toán chi tiết, và từng loại nghiệp vụ kinh tế trong từng chu trình
theo các bớc: nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá
vận dụng, nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù, nhận diện và đánh giá
các nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro kiểm soát.
f. Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chơng trình kiểm
toán.
Kiểm toán viên căn cứ vào các khoản mục của kiểm toán, nội dung và
thời gian báo cáo cho khách hàng đã đợc dự kiến trong hợp đồng, các trọng
12
Lê Huy Hoằng
điểm cần đi sâu, độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch
kiểm toán chi tiết. Kế hoạch chi tiết là việc kiểm toán viên xác định rõ việc sử
dụng các thủ tục kiểm toán, các bớc công việc cụ thể phải tiến hành trong thực
hiện kiểm toán. Song song với việc lập kế hoạch chi tiết, kiểm toán viên cũng
thực hiện thiết kế các chơng trình kiểm toán trên cơ sở kế hoạch chi tiết đợc
duyệt.
Chơng trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm
toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các
kiểm toán viên cũng nh dự kiến về những t liệu, thông tin liên quan cần sử
dụng và thu nhập. Trọng tâm của chơng trình kiểm toán là các thủ tục kiểm
toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận đợc kiểm
toán[7,119].
Việc soạn thảo một chơng trình kiểm toán đúng đắn và phù hợp sẽ giúp
cho kiểm toán viên có thể sắp xếp khoa học, không bỏ sót một khoản mục hay
một thủ tục kiểm toán nào trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đồng thời giúp
cho các kiểm toán viên có thể phối hợp một cách đồng bộ và hiệu quả cũng
nh dễ dàng cho các chủ nhiệm kiểm toán hay kiểm toán viên trởng giám sát
nhân viên của mình.
Tuy nhiên, chơng trình kiểm toán chỉ là những dự định, do đó trong quá
trình thực hiện công tác kiểm toán, nếu xuất hiện những sự kiện mới hoặc
những nhân tố mới kiểm toán viên phải linh động điều chỉnh cho phù hợp.
2.2. Thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là bớc công việc quan trọng tiếp theo của
một cuộc kiểm toán, là quá trình các kiểm toán viên thực hiện đồng bộ các
công việc đã thiết kế trong kế hoạch và chơng trình kiểm toán, kết hợp với khả
năng của kiểm toán viên để thu thập, tích luỹ các bằng chứng kiểm toán đối
với từng loại nghiệp vụ, từng loại thông tin cấu thành Báo cáo tài chính. Là
giai đoạn kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểm toán đợc hình thành từ các
loại trắc nghiệm kiểm toán: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số d
13
Lê Huy Hoằng
và trắc nghiệm phân tích. Thủ tục kiểm toán đợc hình thành rất đa dạng và tuỳ
thuộc vào kết quả đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ khách
hàng mà kiểm toán viên sẽ quyết định sử dụng các thủ tục kiểm toán khác
nhau.
Nếu có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên phải xem
xét mức độ tin cậy của hệ thống để sử dụng quy mô các loại trắc nghiệm công
việc cho phù hợp ( thủ tục kiểm soát). Đánh giá ban đầu (đánh giá ở phần trên)
về hệ thống kiểm soát nội bộ là có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ tiếp tục thực
hiện trắc nghiệm đạt yêu cầu. Với kết quả thu đợc là hệ thống kiểm soát này
có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ sử dụng một số ít các trắc nghiệm độ vững
chãi để xác minh những sai sót có thể có.
Nếu kết quả cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ không có hiệu lực ngay
từ đánh giá ban đầu hoặc sau khi sử dụng các trắc nghiệm đạt yêu cầu thì kiểm
toán viên sẽ áp dụng các trắc nghiệm độ vững chãi với quy mô lớn.
Quy mô trình tự và các kết hợp cụ thể của các trắc nghiệm kiểm toán phụ
thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán viên.
2.3. Kết thúc kiểm toán.
Đây là giai đoạn cuối cùng của một cuộc kiểm toán, là quá trình kiểm
toán viên và công ty kiểm toán lập và phát hành báo cáo kiểm toán. Báo cáo
kiểm toán là những nhận xét và đánh giá của kiểm toán viên và công ty kiểm
toán về đối tợng đợc kiểm toán. Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính có ý
nghĩa, vai trò quan trọng đối với những ngời sử dụng Báo cáo tài chính, do đó
Báo cáo kiểm toán phải đợc trình bầy theo những tiêu chuẩn cả về nội dung và
hình thức.
Nội dung của các báo cáo kiểm toán do các công ty kiểm toán khác nhau
có thể khác nhau, tuy nhiên Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính thờng
gồm một số yếu tố cơ bản sau: tên và địa chỉ Công ty kiểm toán, số hiệu báo
cáo tài chính, tiêu đề báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính, ngời nhận báo
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét