Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay

- Công khai mọi chính sách thương mại và đầu tư.
Với các điều kiện và nguyên tắc trên, nước “ đi sau” như nước ta có nhiều
thuận lợi, nhất là học hỏi kinh nghiệm của các nước “đi trước”, nhưng cũng phải
chịu rất nhiều khó khăn thách thức, mà quan trọng hàng đầu là bảo hộ nền sản xuất
trong nước và các doanh nghiệp việt nam, nhất là các doanh nghiệp mới “chân ướt
chân ráo” bước vào nền kinh tế thị trường. Đây khong chỉ đơn thuần là việc bảo hộ
thuần tuý cho nền kinh tế, cho từng doanh nghiệp, mà còn là vấn đề của yêu cầu
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn mới việc hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với quá trình tự
do hoá. Không thể có hội nhập quốc tế mà không có tự do hoá kinh tế, đây là một
đặc điểm mới của xu thế toàn cầi hoá ngày nay. Vấn đề quan trọng trong việc hội
nhập kinh tế quốc tế là cần xác định mức độ tiến trình hội nhập và tự do hoá như thế
nào cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế để có thể phát huy được các thế
mạnh của đất nước, tận dụng được những ưu thế của hợp tác quốc tế, tạo rá sự phát
triển vượt bậc của nền kinh tế quốc gia, nâng cao vị thế của mình trong phân công
lao động quốc tế.
2. Các nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Nhiều thế kỉ trước, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệ đóng
tàu, khai phá giao thông, những phát triển của thị trường hàng hoá đã tạo điều kiện
mở mang giao lưu buôn bán giữa các quốc gia. Trải qua quá trình phát triển lâu dài,
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực với
nhiều hình thức. Đặc biệt vài chục năm gần đây xuất hiện những yếu tố kinh tế kỹ
thuật rất mới dẫn đến bước phát triển nhảy vọt cua toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế.
Sau đây là 6 yếu tố cơ bản thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá:
2.1. Sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bước quá độ từ nền kinh tế
công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này được thể hiện rõ ở các quốc gia phát
triển. Cùng với nó các quốc gia đang phát triển cũng đã kết hợp bước chuyển nông
nghiệp lên công nghiệp kết hợp những bước nháy tắt để rút ngắn quá trình xây dựng
những cơ sở của nền kinh tế tri thức.
Trang 5
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lượng khoa
hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi cho sự
đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như: các công nghệ mới làm tăng tốc độ giao
dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Công nghệ thông
tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ
phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ
hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người trên tất cả các mặt giãu
các quốc gia. Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù muốn hay không dều chịu tác
động của của quá trình toàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại và phát triển trong
điều kiện hiện nay không thế không tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập
quốc tế.
2.2. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trường
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát
triển của kinh tế thi trường. Kinh tế thị trường phát triển đã mở ra điều kiện cho sự
gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị
trường mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy
mô sản xuất không bó hẹp trong phạm vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế,
như vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các
quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêu thụ. Thứ hai, nền kinh tế thi trường
phát triển của các quốc gia đưa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó
là cơ chế thị trường.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận hành : cơ
chế thi trường.
Kinh tế thi trườngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau giữa
các nền kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường không chỉ ở
sự mở rộng qui mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn nhâu giữa các
quốc gia mà còn thể hiện ở sự phát triển theo chiều sâu. Đó là sự bùng nổ phát triển
của thi trường tài chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trong
thanh toán giao dịch. Thi trường sản phẩm hàng hoá cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện
Trang 6
ở qui mô chưa từng có của khối luqongj giao dich thương mại và ở sự phát triển của
các dang giao dịch mới như thương mại dịch vụ và điện tử.
Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường chínhlà cơ
sở, điều kiệncho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày
nayđèu dựa trên cơ chế thị trường, sử dụng các phương tiện và công cụcủa kinh tế
thị trường trong hoạt động kinh doanh, đưa lại một không gian rộng lớn, không gian
toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lưu chuyểncác yếu tố của chính quá trình sản
xuất ấy,
2.3 Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc
chiến tranh lạnh bước vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển.
Trong vài thập niên trở lại đây nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ nhưng
kéo theo đó là những vấn đề mang tính chất toàn cầunhư sự phân hoá giàu nghèo, sự
ô nhiễm môi trường, dịch bệnh Những vấn đề này liên quan đến mọi quốc gia, có
tác động trên phạm vi toàn thế giới, nó quyết định sự phát triển tồn vong của toà thể
cộng đồng nhân loại.
Do đó khi giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu phải có sự nỗ lực
của mọi quốc gia, sự liên kết sức lực của cả cộng đồng. Bản thân mỗi quốc gia cho
dù tiềm lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết nổi vấn đề liên quan đến toàn
thế giới. Đây chính là cơ sở khách quan qui định , thúc đẩy cho việc tiến tới thống
nhất những qui phạm chung cho quá trình phát triển kinh tế.
2.4 Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia
Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa tư bản tất yếu dẫn
đến sự tâp trung sản xuất và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền sản xuất thế
giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 này dưới sự
tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã đưa lại sự phát triển chưa từng có
của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 nền
thưong mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới. Với sức mạnh như vậy các công ti
xuyên quốc gia không những có ưu thế trong phân phối tài nguyên trên phạm vi thế
giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn
Trang 7
thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu
hoá kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu
đã tạo ra mạng lưói liên kết kinh tế quốc tế. Các quốc gia có thể tham gia ngay vào
dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia
tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất
khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nứoc ngoài vào các nước đang phát
triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói
chung.
Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty xuyên
quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách biệt lập trong
phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân tộc từng bước thamm
gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế đồng thời nó cũng đem lại
nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính
đa dạng của nó.
2.5 Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hoá,
toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và khu vực
lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá.
Trong các tổ chức kinh tế- thương mại-tài chính toàn cầu và khu vực có ảnh
hưỏng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến ƯTO, IMF, ƯB và
các tổ chức khu vực khác như EU, NAFTA, APEC Với các mục tiêu chức năng
của mình các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các hoạt động kinh tế
quốc tế, điều phối và quản lí các hoạt động này. Cho dèu tính hiệu quả của các tổ
chức này còn đựoc đánh giá khác nhau xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc gia, song
không ai không thừa nhận sự cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí đang đặt ra
yêu cầu về hoàn thiệncơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng.
Tác động của các tổ chức toàn cầu và đặc biệt là các tổ chức khu vực đến xu
thế toàn cầu hoá kinh tế thể hiện ở hai điểm chính:
Trang 8
-Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia đựoc
hưỏng những ưu đãi của hoạt động kinh doanh khu vực; thúc đẩy các quốc gia trong
khu vực tiến đến những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Trên cơ sở các thoã thuận hợp tác song phương và đa phươngđã làm tăng lên
sự gắn bó tuỳ thuộc lân nhau giữa các nền kinh tế, thực chất nó đã thúc đẩy phân
công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc trong nội bộ tổ chức.
-Thứ hai hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình
thành một thị trường thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có
lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực.
Nói tóm lại các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là
động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
2.6 Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát triển.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụ thuộc
rất nhiều vào chính sách của các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì việc
đóng cửa đất nước không giao lưu thông thương với nưocs ngoài của các quốc gia
đã làm cho lưu thông quốc tế bị hạn chế nền kinh tế thế giới suy thoái mạnh.Nhưng
từ sau chiến tranh thế giới thứ haithì các quốc gia phát triển đã nhận thấy vấn đề cần
phải tự do háo thương mại, giảm các hàng rào thuế quan nhằm bành trướng thế lực
ra bên ngoài. Và cho đến naythì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải
cách mở cửa, thực hiện tư nhân hoá và tự do hoá mở ra không gian mới cho sự gia
tăng xu thế toàn cầu hoá. Đặc biệt trong quá trình cải cách nhiều quốc gia đã chuyển
hướng phát triển kinh tế từ hướng nội sang hướng ngoại mà cốt lõi là chuyển từ
công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.
Với chiến lượccôngnghiệp hoá hướng về xuất khẩu buộc các quốc gia phải
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế không chỉ phải dựa vào nhu
cầu bên trong mà phải căn cứ vào nhu cầu thị trường thế giới, sản xuất sản phẩm và
dịch vụ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của thị trường quốc tế. Muốn vậy đòi hỏi
các quốc gia phải mở cửa nền kinh tế, cho nhập các thành tựu công nghệ, thu hút
vốn đầu tư để xây dựng và phát triển một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp. Như vậy
với chiến lược hướng về xuất khẩu, trên thực tế đã đẩy đến xu thế gắn bó phụ thuộc
Trang 9
lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua thực hiện phân công lao
động quốc tế dựa trên thế mạnh của từng nền kinh tế đân tộc.
Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá
trong những năm gần đây chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố khác xem như
xung lực đẩy mạnh thêm cho xu thế toàn cầu hoá. Đó là sự phát triển về dân chủ,
văn hoá
3. Triển vọng phát triển toàn cầu hoá và hội nhập KTQT
3.1. Toàn cầu hoá không còn là âm mưu của các nước tư bản phát triển
nhằm thôn tính thế giới
Chúng ta đã biết rằng sau chiến tranh lạnh thế giới vận động theo trật tự đa
cực với một siêu cường là Mỹ. Với sức mạnh của mình Mỹ đóng vai trò chi phối
bàn cờ thế giới. Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mỹ luôn
chiếm 30% GDP thế giới. Và đến khi cường quốc Xô Viết sụp đổ thì Mỹ thực sự trở
thành một siêu cường duy nhất, Mỹ đã xúc tiến một chiến lược nhằm đề cao vai trò
lãnh đạo của mình. Mưu đồ của Mỹ là "không để có một kẻ thách thức nào ở lục địa
Âu - Á nổi lên có đủ khả năng thống trị nơi đây và thách thức nước Mỹ. Mỹ muốn
quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh hưởng, chịu sự chỉ huy, điều khiển của mình.
Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ thao túng các định chế kinh tế toàn cầu, đòi các
quốc gia phải mở rộng cửa thị trường, tham gia hội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế
theo các luật chơi đã được định sẵn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và quan niệm chuẩn
mực giá trị lối sống Mỹ. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến đã đồng nhất
toàn cầu hoá với Mỹ hoá.
Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế tư bản ta thấy bản thân các nền
kinh tế này cũng đã trải qua thời kì bảo hộ cao chống lại sự xâm naâpj từ bên ngoài.
Nhưng do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã đặt ra nhu cầu mở rộng
giao tiếp và mở rộng thị trường ngoài biên giới.
Sự phát triển CNTB của Mác đã chỉ ra luôn bị hai giới hạn bởi thị trường và
nguyên liệu, cho nên xu hướng bành trướng tìm kiếm thị trường và nguyên liệu có
nguồn gốc trong kết cấu phát triển của CNTB. Việc tạo ra sự phát triển vượt bậc của
lực lượng sản xuất trong CNTB so với các xã hội trước đó cũng chính là cơ sở, là
điều kiện cho quá trình bành trướng ra bên ngoài.
Trang 10
Như vậy xu thế quốc tế hoá toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự hình thành
và phát triển của CNTB đã lợi dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật tạo ra
sự phát triển sản xuất mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành của những liên minh độc
quyền cấu kết với nhau chi phối các quan hệ kinh tế.
Ngay trong thời kì đầu tiên này, quá trình quốc tế hoá đã chịu sự chi phối của
CNTB. Và khi hệ thống CNXH bị sụp đổ thì các nước đế quốc mưu toan lợi dụng
xu thế toàn cầu hoá để nhằm xoá bỏ các nước XHCN chúng muốn "buộc tất cả các
dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất TBCN". Các nước TBCN cũng nhận
thấy những cơ hội kiếm lợi lớn qua toàn cầu hoá nên càng thúc đẩy mạnh mẽ toàn
cầu hoá. Họ đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải mở cửa thị trường, phải chấp
nhận các luật chơi đã có do chính họ đặt ra nhằm loại bỏ những ưu thế, những lợi
thế so sánh của các quốc gia đi sau. Đồng thời họ đặt ra hàng loạt điều kiện cho các
nước đang phát triển trong quá trình tiếp xúc thị trường của chính họ. Trên thực tế
họ mong muốn tạo lập một mô hình kinh tế một loạt giá trị chung cho thế giới theo
quan điểm của họ.
Tuy nhiên sự thống trị, chi phối đó của CNTB mà đứng đầu là Mĩ chỉ là tạm
thời.
Thừa nhận sự chi phối của CNTB đối với quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện
nay, thừa nhận tính chất chính trị của quá trình toàn cầu hoá không có nghĩa chúng
ta tẩy chay, từ chối tham gia toàn cầu hoá kinh tế, mà ngược lại phải đấu tranh vì sự
toàn cầu hoá hướng tới sự tiến bộ và phát triển của nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đang
mưu toan phổ biến các giá trị và luật chơi tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu.
Song điều đó vấp phải xu hướng vươn tới tự do bình đẳng của cả nhân loại. Vì vậy
chính trong toàn cầu hoá chủ nghĩa tư bản cũng sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá
trình toàn cầu hoá không chỉ có Mỹ và các nước tư bản phát triển mà còn có hàng
loạt các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các quốc gia đang trên con đường đi
lên CNXH. Do vậy quá trình toàn cầu hoá không phải đơn giản là sự phổ biến các
giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu tranh, thoả thuận, sàng lọc, trong đó
các giá trị văn minh, nhân đạo của loài người sẽ được chấp nhận, đó chính là quá
trình hội nhập giao thoa của các nền kinh tế, các giá trị văn hoá, chính trị…, và
trong quá trình ấy những cái gì là tiến bộ sớm muộn sẽ tất yếu được phát triển. Đó là
Trang 11
quy luật phát triển của xã hội. Những diễn biến trong tổ chức thương mại thế giới
vừa qua chính là một ví dụ phản ánh xu thế đó. Và cũng vì vậy sẽ là không thoả
đáng khi xem toàn cầu hoá hiện nay thuần tuý mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Sự
đan xen của các lợi ích trong quá trình tham gia hội nhập của các chủ thể phản ánh
tính phức tạp và đầy mâu thuẫn của chính quá trình này.
3.2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng
Xu thế toàn cầu hoá từ khi xuất hiện cho đến nay trong quá trình phát triển
luôn vấp phải sự chống đối của những người có quan niệm sai lệch về toàn cầu hoá.
Nhưng điều đó không thể thay đổi được tính tất yếu của xu thế này. Toàn cầu hoá
vẫn diễn ra và diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các phương diện từ kinh tế cho
đến chính trị, văn hoá, xã hội. Trong tất cả các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế phát
triển nhất, có tác động đến các lĩnh vực khác của xu thế này. Toàn cầu hóa kinh tế
hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ gắn liền với xu thế khu vực hoá diễn ra cũng không
kém phần nhộn nhịp.
Trước xu thế đó thì hội nhập kinh tế quốc tế đã đang trở thành yêu cầu bức
thiết đối với mỗi nước. Ngày nay số đông các nước trên thế giới đã nhận thức được
rằng toàn cầu hoá là sản phẩm văn minh của nhân loại và do đó họ đón nhận, tự
nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy toàn cầu hoá. Như vậy hội nhập kinh tế
quốc tế cũng đang gia tăng nhanh chóng cùng với xu thế toàn cầu hoá.
II. THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Nhìn lại chặng đường phát triển của dân tộc ta, trên thực tế chúng ta chưa
bao giờ tách khỏi nền kinh tế thế giới, chúng ta đã đang và sẽ tiếp tục quá trình hội
nhập.
Giai đoạn từ năm 1945 cho đến khi chúng ta thực hiện đổi mới quan hệ Việt
Nam với khu vực bị ngừng trệ. Chúng ta chỉ tiến hành quan hệ với các nước XHCN
mà đáng chú ý là việc tham gia vào hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Nhưng bước
sang giai đoạn đổi mới mà bắt đầu từ đại hội Đảng 6 của Đảng đã mở ra phương
cách mới chúng ta đã tiến hành chuyển sang cơ chế thị trường. Cùng với những đổi
mới bên trong chúng ta thực hiện chuyển nhượng chiến lược trong kinh tế đối ngoại
từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Trang 12
Tiếp tục tinh thần đại hội VII, đại hội VII, VIII và gần đây nhất là đại hội IX
cùng các nghị quyết của hội nghị trung ương đã tạo nên cơ sở rất quan trọng để triển
khai thúc đẩy hội nhập kinh tế.
Thực hiện các đường lối đổi mới trong hơn 10 năm qua chúng ta đã có những
bước đi ban đầu tương đối bài bản trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới (nếu như
cuối năm 80 kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng trong điều
kiện Việt Nam bị bao vây cấm vận ngặt nghèo tưởng như khó đứng vững nổi, nhưng
với quyết tâm đổi mới mở cửa từng bước hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực chúng
ta đã được được những thành tích đáng khích lệ.
Năm 1993 Việt Nam đã nối lại quan hệ tín dụng với IMF và WB. Và từ đó
liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức viện trợ phát triển (ODA)
của Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức tài chính khác thường xuyên viện trợ để giải
quyết những vấn đề khó khăn tạo điều kiện cho nhiều ngành kinh tế phát triển.
Đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với trên 160
quốc gia trên thế giới, kí kết các hiệp định thương mại với hơn 60 nước.
Năm 1995 gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á, tham gia các Hiệp định
về khu vực đầu tư khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các chương trình ưu
đãi thuế quan (CEPT) hành động chung (CAPT). Đây là những bước hội nhập thực
sự vào hành động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội quan trọng nhất trong khu vực.
Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các nước ở các khu vực rộng
lớn hơn như Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Bắc Á, Châu Phi, châu Mĩ và nhiều khu vực
khác. Từ tháng 11/1998 Việt Nam đã trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), chúng ta đã và đang xây dựng, thực
hiện các chương trình hành động quốc gia (IAP), hành động chung (CAP), thúc đẩy
nhanh quá trình tự do hoá các dịch vụ, thương mại, dịch vụ giữa các nước trong
khối (với mục tiêu Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường thương mại và đầu tư vào
năm 2020).
Là thành viên của Hội nghị thượng đỉnh về hợp tác Á - Âu (ASEM) từ tháng
2/1995, Việt Nam đang tích cực, chủ động xúc tiến mở rộng thương mại đầu tư và
hợp tác hỗ trợ giữa các doanh nghiệp của các nước thành viên trong khối (từ tháng
6/1996 tiến hành đàm phán xây dựng Hiệp định thương mại thế giới WTO vào
Trang 13
tháng 1/1995. Và theo quy định của WTO chúng ta đã đang và sẽ chuẩn bị điều kiện
nhằm đáp ứng các yêu cầu của WTO để sớm gia nhập tổ chức này trong thời gian
gần nhất có thể được.
Như vậy nước ta ngày càng chủ động hơn trong quá trình hội nhập khu vực
và quốc tế để hoà mình vào xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ.
2. Những thành tựu của quá trình hội nhập kinh tế và hạn chế cần khắc
phục
2.1. Những thành tựu của hơn 1 thập kỷ hội nhập kinh tế quốc tế
Trải qua hơn 10 năm hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới nước ta đã
có được những kết quả bước đầu quan trọng.
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phương, đa phương với nhiều nơi trên
toàn thế giới đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
nước ta trong thập niên cuối của thế kỷ XX. Nếu như trước những năm 90, tốc độ
tăng GDP bình quân nước ta chỉ đạt khoảng 2-3%/năm thì ở thập niên cuối của thể
kỷ XX (1991-2000), mức tăng bình quân GDP đạt 6-8%/năm. Sau 10 năm, tổng sản
phẩm xã hội (GDP) tăng thêm 13 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp
hơn 2 lần. Nhiều mặt hoạt động sản xuất và đời sống xã hội đã có những bước phát
triển tương đối nhanh.
Song song với việc phát triển kinh tế rút ngắn khoảng cách đối với các quốc
gia thì nước ta đã có những thành công trong công cuộc xây dựng một nền kinh tế
độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập. Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng được
đường lối chính sách kinh tế độc lập tự chủ, chúng ta tự mình lựa chọn định hướng
phát triển kinh tế. Bên cạnh đó thì nước ta cũng đã đạt được thực lực kinh tế ở một
mức độ tương đối cao, giá trị sản xuất trong nước bước đầu đã đáp ứng được nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân và có phần tích luỹ cần thiết để thực hiện tái sản xuất
mở rộng. Nói tóm lại ta đã xây dựng được một nền kinh tế mà không hoặc rất ít bị lệ
thuộc, bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo khống chế, ép
buộc đó là yếu tố để nước ta đi đúng quĩ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Đến nay nước ta thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và tham gia
vào nhiều tổ chức và các hiệp định thương mại trên thế giới như ASEAN, AFTA,
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét