Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

vốn kinh doanh và các biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và vốn kinh doanh


5
1.2.1. Vốn cố định của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường việc mua sắm, xây dựng hay lắp
đặt các tài sản cố định của doanh nghiệp đều phải thanh tốn, chi trả bằng tiền.
Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định
hữu hình và vơ hình được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Đó là số vốn đầu
tư ứng trước vì số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ khơng mất đi,
doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hố hay
dịch vụ của mình.
Vì là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định
nên quy mơ của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mơ của tài sản cố
định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và cơng nghệ, năng lực sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng ngược lại đặc điểm kinh tế của tài sản
cố định trong q trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm
tuần hồn và chu chuyển của vốn cố định. Ta có thể khái qt những nét đặc thù
về sự vận động của vốn cố định trong q trình sản xuất kinh doanh như sau:
Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều
này do đặc điểm của tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ
sản xuất quyết định.
Hai là: Vốn cố định được ln chuyển giá trị dần dần từng phần trong các
chu kỳ sản xuất, khi tham gia các chu kỳ sản xuất một bộ phận vốn cố định được
ln chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí
khấu hao) tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định, một phần được cố
định trong nó. Vốn cố định được tách thành hai bộ phận:
+ Bộ phận thứ nhất tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định
được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích
luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hố được tiêu thụ. Quỹ khấu
hao dùng để tái sản xuất tài sản cố định. Trên thực tế khi chưa có nhu cầu đầu tư
mua sắm tài sản cố định các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ
này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
+ Bộ phận thứ hai tức là phần còn lại của vốn tài sản cố định ngày càng
giảm đi trong những chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hồn thành một vòng
ln chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được ln chuyển vào giá trị sản
phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định lại dần
giảm xuống cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó mới
hồn thành một vòng ln chuyển.
Trong các doanh nghiệp vốn cố định là một bộ phận vốn quan trọng
chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tồn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất
kinh doanh nói chung. Quy mơ của vốn cố định, trình độ quản lý và sử dụng nó
là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Từ
những đặc điểm trên của vốn cố định đòi hỏi trong việc quản lý vốn cố định phải
ln gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định của
doanh nghiệp. Vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về vốn cố định như
sau:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là ln chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hồn thành một vòng tuần hồn khi tài sản cố định hết
thời gian sử dụng.
1.2.2. Vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn kinh doanh ứng trước
về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thơng nhằm đảm bảo cho
qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xun
liên tục.
Trong các doanh nghiệp tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại:
ngun nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang
đang trong q trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. Tài sản lưu động trong q
trình lưu thơng bao gồm thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bắng tiền, vốn trong
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
thanh tốn, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước. Tài sản lưu động
nằm trong q trình sản xuất và tài sản lưu động nằm trong q trình lưu thơng
ln thay đổi cho nhau, vận động khơng ngừng nhằm làm cho q trình sản xuất
diễn ra thường xun, liên tục.
Trong q trình sản xuất, khác với tài sản cố định, tài sản lưu động của
doanh nghiệp ln thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm. Và giá trị của
nó cũng được dịch chuyến một lần vào giá trị sản phẩm tiêu thụ. Đặc điểm này
quyết định sự vận động của vốn lưu động tức hình thái giá trị của tài sản lưu
động là: khởi đầu vòng tuần hồn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ sang
hình thái vật tư hàng hố dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào
chế tạo bán thành phẩm và thành phẩm. Kết thúc vòng tuần hồn, sau khi hàng
hố được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát
ban đầu của nó.
Các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau các chu kỳ sản
xuất được lặp đi lặp lại. Vốn lưu động hồn thành một vòng tuần hồn sau một
chu kỳ sản xuất.
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu
động và lưu thơng nhằm đảm bảo cho q trình tái sản xuất của doanh nghiệp
được thực hiện thường xun liên tục. Vốn lưu động ln chuyển tồn bộ giá trị
ngay trong một lần, tuần hồn liên tục và hồn thành một vòng tuần hồn sau
một chu kỳ sản xuất.
2. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
Để tiến hành hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi
phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Đó là tiền đề cần thiết cho việc hình
thành và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.
Sự phát triển kinh doanh với quy mơ ngày càng lớn đòi hỏi phải có lượng
vốn ngày càng nhiều. Hơn nữa ngày nay với sự phát triển của khoa học và cơng
nghệ ở tốc độ cao, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong điều kiện của
nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hố ngày càng cao, sự cạnh tranh trên thị
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
trường ngày càng mạnh mẽ thì nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, nhất là
nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng
lớn. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động cao độ nguồn vốn bên
trong đồng thời phải tìm cách huy động nguồn vốn bên ngồi để đáp ứng nhu
cầu phát triển của chính mình.
Vậy có thể hiểu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là việc doanh
nghiệp huy động số vốn tiền mình hiện có, số tiền nhàn rỗi nằm phân tán, rải
rác trong các tầng lớp dân cư hoặc từ các doanh nghiệp hay các tổ chức tài chính
khác tập trung lại thành nguồn tài chính to lớn để phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây chính là nguồn tài chính của mỗi doanh nghiệp.
Trên thực tế hiện nay vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuỳ theo từng tiêu thức phân loại mà
nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau. Cụ thể có
các cách phân loại sau:
2.1. Theo nguồn hình thành vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể
chia thành hai loại
2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp,
doanh nghiệp có quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo từng loại
hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau nà vốn chủ sở hữu
bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp
cổ phần và lợi nhuận để lại Tại một thời điểm vốn chủ sở hữu có thể được xác
định bằng cơng thức sau:
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
2.1.2. Nợ phải trả
Là khoản nợ phát sinh trong q trình sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải có trách nhiệm thanh tốn cho các tác nhân trong nền kinh tế: ngân
hàng, nhà cung cấp, cơng nhân viên, các tổ chức kinh tế và cá nhân khác (mua
chịu hay trả chậm ngun nhiên vật liệu)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
Ta có mơ hình nguồn vốn của doanh nghiệp theo cách phân loại này:

Tài sản
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu



Tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Qua tiêu thức phân loại này cho thấy kết cấu vốn sản xuất kinh doanh
được hình thành bằng vốn bản thân doanh nghiệp và từ các nguồn vốn huy động
bên ngồi doanh nghiệp. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt cơng tác tổ
chức và sử dụng vốn có hiệu quả và hợp lý, doanh nghiệp biết được khả năng
của mình trong việc huy động vốn là cao hay thấp.
Thơng thường mỗi doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để
đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự kết hợp giũa hai
nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang
hoạt động cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem
xét tình hình chung của nền kinh tế và tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
2.2. Theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành
nguồn vốn thường xun và nguồn vốn tạm thời.
2.2.1. Nguồn vốn thường xun
Bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có
tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này
dành cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường
xun cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.2. Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)
mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm
thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ
chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Mơ hình nguồn vốn của doanh nghiệp theo cách phân loại này:







Việc phân loại nguồn vốn theo cách này sẽ giúp cho các nhà quản
lý có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn một cách phù hợp với
thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Hơn nữa
cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế
hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức lựa chọn nguồn
vốn và quy mơ thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn
đạt hiệu quả cao.
2.3. Theo phạm vi huy động vốn
Với cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành
hai nguồn.
2.3.1 Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động của bản thân doanh
nghiệp, bao gồm: vốn chủ sở hữu, tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các
khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu từ nhượng bán thanh lý TSCĐ. Dưới đây
ta xem xét một số nguồn hình thành nên nguồn vốn bên trong.
+ Nguồn vốn chủ sở hữu: huy động từ số vốn thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp.
+ Quỹ khấu hao: để bù đắp TSCĐ bị hao mòn trong qúa trình sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp phải chuyển dịch dần phần giá trị hao mòn đó vào giá
TSLĐ Nợ ngắn hạn


Nợ dài hạn

TSCĐ Vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn thường
xun

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
trị sản phẩm sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao TSCĐ. Bộ phận giá trị hao mòn
đó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm được coi là một yếu tố chi phí sản
xuất sản phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCĐ.
Sau khi sản phẩm hàng hố được tiêu thụ, số tiền khấu hao được tích luỹ lại hình
thành quỹ khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp. Quỹ khấu hao TSCĐ là một
nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
trong doanh nghiệp. Trên thực tế khi chưa có nhu cầu mua sắm TSCĐ các doanh
nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh
của mình.
+ Lợi nhuận để lại để tái đầu tư: khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
có hiệu quả thì phần lợi nhuận thu được có thể được trích ra một phần để tái đầu
tư nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh.
2.3.2. Nguồn vốn bên ngồi doanh nghiệp
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngồi đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Nguồn vốn này bao gồm: nguồn
vốn liên doanh, liên kết, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành
trái phiếu và các khoản nợ khác
Dưới đây ta xem xét một số nguồn hình thành nên nguồn vốn bên ngồi
của doanh nghiệp
+ Từ hoạt động liên doanh, liên kết: nguồn vốn liên kết là những nguồn
đóng góp theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để cùng thực hiện một q trình kinh
doanh do mình thực hiện và cùng chia lợi nhuận. Việc góp vốn liên kết có thể
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo từng loại hình doanh
nghiệp: có thể là liên kết giữa nguồn vốn của nhà nước do doanh nghiệp nhà
nước quản lý với nguồn vốn tự có của các tổ chức và cá nhân trong hay ngồi
nước khơng phụ thuộc khu vực nhà nước, giữa nguồn vốn nhà nước do doanh
nghiệp này quản lý với nguồn vốn của nhà nước do doanh nghiệp khác quản
lý Hình thức góp vốn này thích hợp với các q trình kinh doanh có quy mơ
lớn hay một mình doanh nghiệp khơng thể có đủ vốn thực hiện được tổ chức
kinh doanh và quản lý vốn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
+ Từ nguồn vốn tín dụng: là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay
dài hạn của các ngân hàng thương mại, cơng ty tài chính, cơng ty bảo hiểm, hoặc
các tổ chức tài chính trung gian khác.
+ Từ phát hành trái phiếu: doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt
động kinh doanh thơng qua việc phát hành trái phiếu. Hình thức này giúp cho
doanh nghiệp thực hiện vay vốn trung và dài hạn qua thị trường với một khối
lượng lớn.
Đối với nguồn vốn bên ngồi, mỗi hình thức huy động vốn đều có những
ưu điểm và nhược điểm nhất định. Ví dụ: huy động vốn bên ngồi bằng hình
thức vay dài hạn ngân hàng, các tổ chức kinh tế khác và phát hành trái phiếu có
những ưu điểm là: tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn, chi
phí sử dụng vốn có giới hạn nên trong trường hợp doanh nghiệp đạt mức doanh
lợi cao thì khơng phải san sẻ phần lợi nhuận đó. Nhưng bên cạnh đó, nếu doanh
nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả hoặc bối cảnh nền kinh tế thay đổi bất lợi cho
doanh nghiệp thì nợ vay trở thành gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu rủi ro
lớn.
Như vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn sao cho có hiệu quả kinh tế
mang lại là lớn nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Doanh nghiệp cần nhận
thấy ưu điểm lớn của việc huy động vốn từ bên ngồi là tạo cho doanh nghiệp
một cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn. Sử dụng đòn bẩy tài chính là để khuếch đại
doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Mức doanh lợi đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn thì việc huy động vốn từ
bên ngồi sẽ càng giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhanh hơn.
Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại nguồn vốn kinh doanh
cho thấy: một mặt các doanh nghiệp cần tập trung tăng cường tổ chức quản lý
và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hiện có, mặt khác cần phải chủ động khai
thác các nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, SỬ
DỤNG VỐN KIN DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
Mục đích cao nhất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là
lợi nhuận. Muốn vậy các doanh nghiệp phải khai thác triệt để mọi nguồn lực sẵn
có là việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đây là u cầu bắt buộc đối với các
doanh nghiệp. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp cần có một hệ thống chỉ
tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bảo đảm phản ánh và đánh giá được hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Các số liệu được dùng để phân tích và đánh giá chủ yếu lấy từ các báo cáo
tài chính như bảng cân đối kế tốn và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Để
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
1.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Nợ dài hạn
Hệ số nợ dài hạn =
Tổng số vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh trong số vốn vay dài hạn của doanh nghiệp thì
phần vốn vay dài hạn của doanh nghiệp là bao nhiêu.

Vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu = = 1- Hệ số nợ
Tổng số vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số vốn của doanh nghiệp thì phần vốn
góp của chủ sở hữu là bao nhiêu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Hệ số nợ, hệ số vốn chủ sở hữu là hai tỷ số quan trọng nhất phản ánh cơ
cấu nguồn vốn. Qua việc nghiên cứu hai chỉ tiêu này ta thấy được mức độ độc
lập hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đơí với vốn kinh doanh của mình. Tỷ
suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc
lập cao với các chủ nợ, do đó khơng bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản
nợ vay. Nhưng khi hệ số nợ cao thì doanh nghiệp lại có lợi ích vì được sử dụng
một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng nhỏ và các nhà tài chính sử dụng
nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận.
Qua đó ta thấy được việc phân tích các hệ số kết cấu nguồn vốn là một
vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp cho người quản lý doanh nghiệp
đánh gía được tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó có quyết định đúng
đắn có nên tiếp tục đầu tư hay thu hẹp đầu tư, đồng thời có kế hoạch cho việc tổ
chức huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh.
1.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
Đây là các hệ số hoạt động có tác dụng đo lường xem khả năng khai thác
sử dụng vốn sản xuất kinh doanh như thế nào. Cụ thể là các chỉ số này được xác
định giữa việc so sánh giữa doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dươí các
tài sản khác nhau.
1.2.1. Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hố tồn kho bình qn ln
chuyển trong kỳ. Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được
đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng
vẫn đạt được doanh số cao. Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo cơng
thức:
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay =
hàng tồn kho Hàng tồn kho bình qn
(Nếu trường hợp khơng có giá vốn hàng bán thì có thế thay thế bắng
doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh . Khi đó thơng tin về vòng
quay hàng tồn kho sẽ có chất lượng kém hơn.)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét