- Ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc
phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế
đồng đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia. Ở các vùng kinh tế
khác nhau thì có sự phát triển khác nhau. Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn
một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên. Do đó vấn đề đặt ra là
làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều
chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
- Ngân hàng thương mại còn là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và thế
giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh
tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh
tế trong khu vực và trên toàn thế giới cùng với chính sách mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động
của các Ngân hàng thương mại được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng
hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động rộng khắp
của mình, các ngân hàng có khả năng thu hút được nguồn vốn từ các cá nhân
và các tổ chức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế
trong nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng
hoạt động của họ ra nước ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt
động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.
Chính từ sự mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế mà nền kinh tế trong
nước có sự thâm nhập vào thị trường quốc tế đồng thời tăng cường khả năng
cạnh tranh với các nước khác trên thế giới.
1.4 Các loại hình
Căn cứ vào nhiều hình thức khác nhau mà người ta phân chia ra thành
các loại Ngân hàng Thương mại khác nhau:
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
5
- Dựa trên tiêu thức sở hữu, người ta phân biệt Ngân hàng Thương mại
công và Ngân hàng Thương mại tư.
Ngân hàng Thương mại công là loại ngân hàng thương mại do nhà nước
cấp toàn bộ vốn điều lệ và bộ máy lãnh đạo do nhà nước bổ nhiệm. Còn Ngân
hàng Thương mại tư là loại hình ngân hàng thương mại do tư nhân hùn vốn
dưới hình thức góp cổ phần.
- Căn cứ vào tiêu thức quốc tịch, người ta chia thành Ngân hàng Thương
mại bản xứ và Ngân hàng Thương mại nước ngoài.
Ngân hàng Thương mai bản xứ là ngân hàng thương mại do nhà nước
hoặc công dân nước sở tại sở hữu. Ngân hàng Thương mại nước ngoài là do
nhà nước hoặc các tổ chức công dân nước ngoài sở hữu.
- Dựa trên tiêu thức cơ quan cấp giấy phép hoạt động, người ta phân biệt
ngân hàng thương mại toàn quốc: là loại hình ngân hàng thương mại do chính
phủ hoặc do một cơ quan quản lý trung ương ( thường là ngân hàng trung
ương) cấp giấy phép hoạt động.
Ngân hàng thương mại địa phương: là loại hình ngân hàng thương mại
do chính quyền địa phương cấp giấy phép hoạt động.
- Căn cứ vào tiêu thức số lượng chi nhánh người ta phân biệt Ngân hàng
thương mại duy nhất và Ngân hàng thương mại mạng lưới.
Ngân hàng thương mại duy nhất là loại hình ngân hàng thương mại chỉ
có một hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia. Trong
khi đó ngân hàng thương mại mạng lưới là loại hình ngân hàng có hội sở
trung ương và phân chi nhánh hoạt động trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ và có
thể cả ở nước ngoài.
Tóm lại: Ngoài những cách phân biệt thường dùng trên đây để xem xét
loại hình của một ngân hàng thương mại, một số nước trên thế giới còn có các
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
6
cách phân biệt khác như: căn cứ vào tiêu thức doanh số hoạt động, căn cứ vào
tiêu thức chuyên môn hoá hoạt động tín dụng để đánh giá xem xét loại hình
của ngân hàng thương mại đó.
II. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1. Hoạt động huy động vốn
1.1 Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng Thương mại. Nó được
huy động thông qua các hình thức sau:
1.1.1 Các khoản tiền gửi của khách hàng
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư:
Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của ngân hàng. Thông
thường người gửi tiết kiệm nhận được một cuốn sổ nhỏ trong đó nhân viên
ngân hàng xác định toàn bộ số tiền rút ra,gửi thêm, số tiền lãi. Khách hàng ở
đây là tất cả các dân cư có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử
dụng, có thể gửi vào ngân hàng nhằm tìm kiếm một khoản tiền lãi.
- Tiền ký gửi:
Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng.Việc
sử dụng những khoản tiền ký gửi được thực hiện thông qua những thoả thuận
giữa khách hàng và ngân hàng. Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng cho
thấy rằng hình thức ban đầu của hoạt động ngân hàng là việc bảo quản những
đồng tiền vàng cho khách hàng. Người chủ phải bảo đảm trả lại chính những
đồng tiền mà họ được chuyển giao và bảo quản. Trong những trường hợp này
người chủ không thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay đối với những đồng tiền
nhận bảo quản đó và không thể thu lợi nhuận để trả lợi tức cho người gửi tiền.
Cùng với sự phát triển của xã hội đã tạo điều kiện cho người bảo quản có thể
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
7
sử dụng những đồng tiền đó bởi vì người gửi tiền không yêu cầu phải trả lại
chính những đồng tiền họ gửi mà chỉ yêu cầu trả lại giá trị tiền mà họ đã gửi.
Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay mượn đó để cấp tín
dụng thu lợi tức và trả lãi cho người gửi tiền.
1.1.2 Vốn vay của các tổ chức tài chính tín dụng
Các Ngân hàng thương mại có thể thu hút vốn bằng cách vay ở các tổ
chức tài chính tín dụng. Đối với những ngân hàng ở các nước phát triển có
quan hệ rộng khắp thì nguồn vốn này là một nguồn vốn vay thường xuyên và
khá quan trọng. Nguồn vốn vay mượn này đã trở thành một nguồn vốn quan
trọng hơn đối với các ngân hàng trong những năm qua. Trong hoạt động quan
hệ quốc tế, việc vay mượn từ các tổ chức tín dụng quốc tế cũng đã cung cấp
cho ngân hàng những nguồn vốn quan trọng. Tuy nhiên đối với các quốc gia
đang phát triển, các ngân hàng thương mại thường có quan hệ quốc tế hạn
hẹp, do đó việc thu hút những nguồn vốn này còn nhiều hạn chế và thường
được huy động theo các chương trình dự án quốc tế.
1.2 Nguồn vốn vay từ ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới
nhiều hình thức như cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các
giấy tờ có giá cuả ngân hàng thương mại. Vốn hình thành từ nguồn này đảm
bảo cho khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại.
1.3 Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống
Các ngân hàng thương mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác
nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các
chi nhánh trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là vì trên
mỗi địa bàn thì có những điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau do đó có tác
động mạnh mẽ đến nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn của từng chi nhánh.
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
8
Để giải quyết tình trạng này các ngân hàng thương mại hoặc các sở tài chính
sẽ thực hiện việc điều hoà nguồn vốn trong hệ thống. Chính vì vậy nguồn vốn
điều hoà trong hệ thống cũng là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp cho
ngân hàng có thể mở rộng được hoạt động trên thị trường và làm tăng lợi
nhuận của ngân hàng.
2. Sử dụng và khai thác nguồn vốn
2.1 Hoạt động cho vay
Hướng cơ bản và chủ yếu trong sử dụng và khai thác các nguồn vốn của
Ngân hàng thương mại là cho vay. Hoạt động cho vay có thể được phân loại
bằng nhiều cách như: Mục đích, thời hạn, hình thức đảm bảo, phương pháp
hoàn trả và nguồn gốc khách hàng
- Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì khoản mục tín dụng được chia
thành:
+ Cho vay có bảo đảm: là hoạt động quan trọng của ngân hàng. Cho vay
có bảo đảm là hình thức cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể. Vật thế
chấp bao gồm nhiều loại khác nhau như: bất động sản, máy móc thiết bị, biên
nhận ký gửi hàng hoá, cổ phiếu Yêu cầu cơ bản của những vật thế chấp là
có thể bán được. Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải được đảm bảo
là nhằm tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt những rủi ro, mất mát trong
trường hợp người vay không muốn hoặc không thể trả nợ khi đến hẹn.
Sự bảo đảm là yêu cầu bắt buộc có đối với các khoản vay vì một trong
những lý do chính đó là sự yếu kém về mặt tài chính của người vay, sự yếu
kém này có thể được biểu hiện thông qua một vài yếu tố bao gồm nợ nần
chồng chất, quản lý yếu kém và lợi nhuận thấp. Trong điều kiện tài chính như
vậy người đi vay có thể tạo uy tín bằng việc thế chấp các tài sản. Cho vay có
bảo đảm cũng tạo tâm lý yên tâm cho ngân hàng. Khi người vay đem cầm cố
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
9
các tài sản mang quyền sở hữu của mình thì họ sẽ có ý thức hoàn trả nợ. Kỳ
hạn của mỗi khoản vay cũng ảnh hưởng đến việc khoản vay đó có cần được
bảo đảm hay không. Khi kỳ hạn cho vay dài, rủi ro trong việc không hoàn trả
tăng lên thì các khoản cho vay càng cần có sự bảo đảm.
Khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có người bảo đảm trả
thay thì khi đến hạn tài sản cầm cố, thế chấp có thể là động sản và cũng có thể
là bất động sản.
+ Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng. Đối những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể
cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung
Khác với cho vay bảo đảm, cho vay không bảo đảm được dựa trên tính
liêm khiết và tình hình tài chính của người vay lợi tức có thể được trong
tương lai và tình hình trả nợ trước đây. Trong hoạt động ngân hàng một số
khoản vay lớn nhất được thực hiện dựa trên một cơ sở không bảo đảm. Một số
công ty được các ngân hàng xem là người vay chủ yếu, trong nhiều trường
hợp họ được hưởng lãi suất ưu đãi và không cần bảo đảm. Những công ty ấy
có danh tiếng trên thị trường, có cách quản lý hiệu quả, có các sản phẩm và
các dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận ổn định và với một tình
hình tài chính vững mạnh. Họ sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng các báo cáo
tài chính của mình để ngân hàng nắm rõ tình hình tài chính và sự tiến bộ của
họ để ngân hàng cung cấp các khoản cho vay không đảm bảo.
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
10
Các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất được vay không
cần bảo đảm, nhiều tác nhân cũng được hưởng đặc quyền ấy. Những người có
nhà riêng, có công ăn việc làm ổn định, hoạt động trong các công sở
- Căn cứ theo các phương pháp hoàn trả thì khoản mục tín dụng được
phân chia thành:
+ Các khoản cho vay hoàn trả một lần:
Những khoản cho vay hoàn trả một lần thường là những khoản cho vay
thẳng, nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối
cùng. Những khoản lãi có thể được trả vào những thời điểm khác nhau hoặc
trả khi đáo hạn. Đối với khoản cho vay hoàn trả một lần, việc hoàn trả khi đáo
hạn trở thành một gánh nặng đối với khách hàng. Những khoản cho vay hoàn
trả một lần thường là những khoản cho vay ngắn hạn.
+Các khoản cho vay hoàn trả nhiều lần:
Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi người đi vay phải hoàn trả theo
những thời điểm nhất định.
Cho vay hoàn trả nhiều lần thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt
kỳ hạn thực hiện hợp đồng. Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành một gánh
nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp toàn bộ khoản vay được trả
một lần. Đối với nhiều người có khoản cho vay hoàn trả nhiều lần, ví dụ như
các khoản trả góp đóng một vai trò như một phương tiện tích luỹ. Nó làm tăng
hiệu quả sử dụng vốn.
- Căn cứ theo kỳ hạn thì khoản mục tín dụng được phân chia thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.Cho vay theo yêu cầu là khoản vay không
có kỳ hạn nhất định và phải được trả khi khách hàng có yêu cầu vào bất cứ lúc
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
11
nào. Cho vay theo yêu cầu của người vay ở vào một vị thế rất linh hoạt và có
thể trả nợ trong một thời gian rất ngắn.
Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi trong việc
tài trợ mang tính thời vụ về vốn luôn chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam, cho vay
trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu
được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị
công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối
đa có thể lên tới 20 - 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm
. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây
dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn, nhưng từ những
năm 1970 trở lại đây các NHTM đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một
trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài
hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng.
Khách hàng thường ưa chuộng những khoản tín dụng trung và dài hạn vì
một số lý do:
Thứ nhất: Đối với các khoản vay trung và dài hạn khách hàng có thể
yên tâm về thời gian sử dụngđồng vốn trong sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: Các khoản vay trung và dài hạn thường thuận tiện hơn các
khoản vay ngắn hạn.
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
12
Thứ ba: Các khoản vay trung và dài hạn dễ dàng thực hiện hơn so với
các hình thức tài trợ khác như: phát hành cổ phiếu mới , trái phiếu
Vốn trung hạn và dài hạn là một nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh
sự tăng trưởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển.
2.2 Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp Ngân hàng
Thương mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động được.
Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho Ngân hàng
Thương mại. Ngân hàng Thương mại có thể đầu tư vốn mua chứng khoán
ngắn hạn của chính phủ. Những chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho
Ngân hàng Thương mại, vừa góp phần vào việc cân bẳng thu chi ngân sách
thường xuyên ; đồng thời góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh
tế quốc dân.
Ngân hàng Thương mại còn được phép đầu tư vốn để mua cổ phiếu và
trái phiếu của các doanh nghiệp, thông qua đó những Ngân hàng thương mại
lớn tham gia vào việc thành lập quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên, Ngân
hàng Thương mại chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất định,
không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.
2.3 Hoạt động ngân quỹ
Là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng. Nó bao gồm
nghiệp vụ quỹ về tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ở Ngân hàng
Thương mại, tiền trong quá trình thu nhận, và cũng có thể bao gồm cả nghiệp
vụ về chứng khoán ngắn hạn.
+ Quỹ tiền mặt bao gồm tiền giấy và tiền đúc được sử dụng để chi trả
cho khách hàng. Quỹ tiền mặt lớn hay nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào quy mô
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
13
ngân hàng, mối quan hệ giữa thanh toán tiền mặt và thanh toán chuyển khoản,
tính thời vụ của các khoản chi tiền mặt.
+ Tiền gửi của Ngân hàng Thương mại ở Ngân hàng Trung ương bao
gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán
+ Tiền gửi ở các ngân hàng khác phục vụ cho việc chi trả theo yêu cầu
của khách hàng, của Ngân hàng Thương mại này qua một Ngân hàng Thương
mại khác.
3. Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng
Thương mại
Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc cơ bản là đi vay để cho vay do đó
giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Để có vốn vay, ngân hàng phải thực hiện công tác huy động.
Nếu số lượng vốn huy động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cường hoạt động
sử dụng vốn, khi đó ngân hàng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản
đầu tư. Trong trường hợp ngân hàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp như
thay đổi lãi suất, mở rộng các dịch vụ nhưng cũng không thể tăng được khối
lượng vốn huy động dẫn đến việc phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa
chọn, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên số lượng vốn huy động cơ cấu, loại hình, thời gian huy động
lại phụ thuộc vào phương hướng kinh doanh tức là vào chiến lược tín dụng
của ngân hàng. Khi ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm
lĩnh những thị trường lớn hơn, lúc này ngân hàng cần phải tăng cường hoạt
động huy động vốn nhằm huy động đủ số vốn cần thiết. Trong trường hợp
doanh số cho vay của ngân hàng không tăng nhưng để tăng lợi nhuận, giảm
bớt loại vốn huy động có lãi suất cao, tăng cường vốn huy động có lãi suất
thấp,giảm bớt chi phí của việc huy động. Còn khi ngân hàng muốn thu hẹp
Nguyễn Mạnh Thái QTKD Thương mại 47B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét