Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam 04

đợc các nhà t bản a chuộng nhất nên nó đợc hình thành và ngày càng phát triển mạnh
mẽ.
Sự ra đời và phát triển rộng rãi của của các định chế tài chính tạo động lực thúc đẩy
công ty cổ phần ra đời và phát triển:
Sự ra đời và phát triển của tín dụng là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh
tế hàng hoá.
Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng có vai trò to lớn trong quá trình cạnh tranh,
làm giảm chi phí lu thông và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Tín dụng còn có vai trò
động lực thúc đẩy việc hình thành và phát triển các công ty cổ phần, bởi vì:
Việc phát hành cổ phiếu trong công ty cổ phần không thể nào thực hiện nếu
không có thị trờng tiền tệ phát triển, nếu không có những doanh nghiệp và dân c có nhu
cầu sử dụng vốn tiền tệ trên thị trờng.
Thực tiễn lịch sử ra đời và phát triển của các công ty cổ phần trên thế giới đều
chứng tỏ việc phát hành cổ phiếu chỉ đợc thực hiện thông qua các ngân hàng, đôi khi
còn do bản thân ngân hàng tiến hành. Chẳng hạn ở Đức năm 1896, trong ngành công
nghiệp điện lực, có 39 công ty cổ phần. Hầu hết các công ty này đều nảy sinh từ sự giúp
đỡ của các ngân hàng.
Nh vậy, về lịch sử cũng nh về logic, tín dụng có trớc khi thành lập công ty cổ
phần, tín dụng là cơ sở trực tiếp, là động lực thúc đẩy công ty cổ phần ra đời và phát
triển.
1.1.2. Những vấn đề chung về công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là hình thức tổ chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng nó
có những đặc trng cơ bản sau:
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có t cách pháp nhân và
các cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần góp vốn của mình. Điều này
cho phép công ty có t cách pháp lý đầy đủ để huy động những lợng vốn lớn nhằm rải rác
thuộc nhiều cá nhân trong xã hội. Vốn của công ty đợc chia làm nhiều phần bằng nhau
gọi là các cổ phần. Cổ phần là phần vốn cơ bản thể hiện một khoản giá trị thực tế tính
bằng tiền. Cổ phiếu chứng minh t cách thành viên của ngời góp vốn vào công ty cổ
phần, những thành viên này gọi là cổ đông.
5
Nh vậy vốn cổ phần là do các cổ đông đóng góp bất cứ ai kể cả t nhân, Nhà nớc
và cá nhân dù chỉ mua một cổ phiếu thôi cũng trở thành ngời chủ sở hữu chung tài sản
hợp nhất của công ty cổ phần. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ
đồng sở hữu. Quyền trách nhiệm và lợi ích của mỗi chủ sở hữu phụ thuộc vào số lợng cổ
phiếu của họ trong công ty. Cổ đông nắm đợc số lợng cổ phiếu khống chế thì có quyền
chi phối hoạt động của công ty. Khi muốn thu hồi vốn nhanh, các cổ đông chỉ có cách là
bán các cổ phiếu của mình trên thị trờng chứng khoán.
Cơ cấu tổ chức và điều hành công ty cổ phần:
Do đặc điểm nhiều chủ sở hữu trong công ty cổ phần, nên các cổ đông không thể
trực tiếp thực hiện vai trò chủ sở hữu của mình, mà phải thông qua tổ chức đại diện làm
nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty, bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám
đốc điều hành và Ban kiểm soát.
Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty là đại hội của những
ngời đồng sở hữu đối với công ty cổ phần.
Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của công ty cổ phần. Hội đồng quản trị bao
gồm những thành viên có trình độ chuyên môn cao và quản lý giỏi, để có khả năng hoàn
thành tốt các nhiệm vụ do Đại hội đồng cổ đông giao phó. Số thành viên của Hội đồng
quản trị do Đại hội cổ đông quyết định và ghi vào Điều lệ công ty.
Giám đốc điều hành là ngời điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu
trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn đợc
giao. Về thực chất, Giám đốc điều hành công ty là ngời làm thuê cho Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Giám đốc không làm việc theo nhiệm kỳ mà làm việc theo thời hạn hợp đồng
ký kết với Chủ tịch hội đồng quản trị.
Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên cơ sở xã hội hoá sản xuất:
Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh tế thích ứng đòi hỏi của nền sản xuất
xã hội hoá. Nó là sự xác định và xác nhận quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bằng
hình thức cổ phần và phân phối lợi tức cổ phần theo mức doanh lợi của công ty. Công ty
cổ phần là sự biểu hiện xã hội hoá về mặt kinh tế xã hội, nó phù hợp với tính chất và
trình độ xã hội hoá về mặt kinh tế kỹ thuật.
1.1.3. Điều kiện để hình thành công ty cổ phần:
6
Muốn thành lập công ty cổ phần cần phải có một số điều kiện nhất định, trong đó
nhất thiết phải có đợc các điều kiện:
Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn:
Công ty cổ phần thực chất là công ty hợp danh do nhiều thành viên (tức là các cổ
đông) tham gia góp vốn để cùng kinh doanh. Các cổ đông của công ty cổ phần có thể là
thể nhân hay pháp nhân nghĩa là có thể do các cá nhân hay các tổ chức kinh tế, xã hội
có t cách pháp nhân tham gia. Nhng các cá nhân hay các tổ chức đó phải độc lập có
quyền tự quyếtt định đối với phần vốn của mình. Để có quyền quyết định họ phải là ng-
ời chủ sở hữu của phần vốn đó, hay nói cách khác họ là những ngời sở hữu độc lập. Nh
vậy công ty cổ phần là công ty có nhiều ngời đồng sở hữu.
Những ngời có vốn muốn tham gia đầu t để kinh doanh thu lợi nhuận:
Trong xã hội có thể có nhiều ngời có vốn nhàn rỗi và ai cũng muốn dùng nó để
thu lợi nhuận, nhng do kinh doanh có nhiều may rủi nên không phải bất cứ ai cũng dám
bỏ vốn đầu t vào kinh doanh. Chỉ có một số ngời có vốn dám mạo hiểm mới góp vốn
hình thành công ty cổ phần, và họ trở thành cổ đông. Đây là hình thức đầu t mạo hiểm
nhất so với đầu t nh là: mua công trái, trái phiếu, tiền gửi tiết kiệm v.v , do kinh doanh
có khả năng bị phá sản, nhng lại là dạng đầu t có hứa hẹn cao nhất và không bị lạm phát
làm sói mòn tiền vốn.
Lợi nhuận thu đợc phải đủ sức hấp dẫn ngời có vốn tham gia kinh doanh:
Những ngời có vốn luôn tìm nơi nào đầu t có lợi nhất, nên khi có ý định góp vốn
vào công ty cổ phần để kinh doanh thu lợi nhuận bao giờ họ cũng so sánh giữa lợi nhuận
có thể thu đợc khi góp vốn vào công ty cổ phần với khoản lợi tức họ thu đợc, nếu đem
số tiền đó gửi vào ngân hàng, hoặc đầu t lĩnh vực khác. Nếu doanh thu do kinh doanh
lớn hơn lợi tức ngân hàng hoặc lợi tức ngân hàng hoặc lợi tức đầu t vào lĩnh vực khác,
lớn hơn đủ mức cần thiết thì ngời có vốn mới sẵn sàng góp vốn vào công ty cổ phần để
tham gia kinh doanh. Nếu ngợc lại thì họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng hoặc đầu t vào lĩnh
vực khác mà không góp vốn vào công ty cổ phần, do đó công ty cổ phần không thể hình
thành đợc. Nh vậy trong kinh doanh, yếu tố rủi ro thờng hay xảy ra, làm cho những ngời
có vốn góp vào công ty không thu đợc doanh lợi mà còn có khi mất cả vốn (trờng hợp
7
công ty bị phá sản), còn nếu gửi vào ngân hàng thì chỉ phải chịu ảnh hởng của yếu tố
lạm phát, nhng ổn định và an toàn cả vốn lẫn lãi.
Phải có sự nhất trí thành lập công ty:
Những ngời có vốn muốn tham gia kinh doanh phải thoả thuận đợc với nhau để
cùng góp vốn và đứng ra thành lập công ty cổ phần trên cơ sở những quy định của pháp
luật. Trong trờng hợp những ngời có vốn muốn tham gia đầu t để kinh doanh thu lợi
nhuận, song họ không thống nhất đợc với nhau về phơng thức góp vốn, phơng thức kinh
doanh của công ty, phơng hớng chiến lợc phát triển công ty, quyền đại diện trong bộ
máy quản lý, điều hành công ty, phơng thức phân phối lợi nhuận v.v thì công ty không
thành lập đợc.
Vai trò của công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh
tế thị trờng, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ
chế thị trờng. Kiểu tích tụ theo kiểu công ty cổ phần bằng cách thu hút đợc các nguồn
vốn của đông đảo các nhà đầu t và tiết kiệm của quảng đại quần chúng, lại cho phép
tăng quy mô rất nhanh. Mác đánh giá vai trò này của công ty cổ phần: Nếu nh cứ phải
chờ cho đến khi tích luỹ làm cho một nhà t bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đ-
ơng việc xây dựng đờng sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn cha có đờng sắt. Ngợc
lại, qua công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện việc đó trong nháy mắt.
Công ty cổ phần có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không có quy định thời gian
hoạt động và loại trừ trờng hợp bị phá sản) vì vốn góp cổ phần có sự độc lập nhất định
đối với các cổ đông. Ngời bỏ tiền ra mua cổ phiếu của công ty cổ phần không có quyền
rút vốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu. Các cổ phiếu có thể tự do mua bán trên thị tr-
ờng và đợc thừa kế. Vì vậy, khác với loại công ty khác, vốn cổ phiếu đã đợc góp tồn tại
với quá trình sống của công ty, còn chủ sở hữu có thể thay đổi. Sự tồn tại của công ty
cổ phần không bị ảnh hởng bởi các cổ đông chết hay tù tội.
Công ty cổ phần tạo điều kiện tập hợp đợc nhiều lực lợng khác nhau vào hoạt
động chung nhng vẫn tôn trọng sở hữu riêng về quyền, trách nhiệm và lợi ích của các cổ
đông theo mức góp vốn. Mở rộng sự tham gia của các cổ đông vào công ty cổ phần, đặc
biệt là ngời lao động là cách để họ tham gia vào hoạt động của công ty với t cách là ngời
8
chủ sở hữu đích thực chứ không phải với t cách là ngời làm thuê. Đây là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng trong công tác quản lý.
1.1.4. Lịch sử và con đờng hình thành công ty cổ phần
Lịch sử hình thành công ty cổ phần:
Công ty cổ phần ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá đặc biệt là xã hội hoá
về vốn, quan hệ tín dụng phát triển, quan hệ thị trờng hình thành đầy đủ. Trải qua vài
trăm năm, công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nớc t bản theo xu hớng từ giản
đơn đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực, từ
một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến các công ty xuyên quốc gia.
G i a i đ o ạ n m ầ m m ố n g
- G ó p v ố n t h e o n h ó m b ạ n
- H o ạ t đ ộ n g l i ê n k ế t l ỏ n g l ẻ o
G i a i đ o ạ n h ì n h t h à n h
- B ắ t đ ầ u p h á t h à n h c ổ p h i ế u
- B ư ớ c đ ầ u x u ấ t h i ệ n s ự g i a o d ị c h
- H o ạ t đ ộ n g c ó t ổ c h ứ c h ơ n
G i a i đ o ạ n p h á t t r i ể n
- C T C P p h ổ b i ế n T B C N
- C á c t ổ c h ứ c đ ộ c q u y ề n
- H ì n h t h à n h T T T C Q T g i a o d ị c h C K
G i a i đ o ạ n t r ư ở n g t h à n h
- H ì n h t h ứ c c ô n g t y x u y ê n q u ố c g i a
- T h u h ú t c ô n g n h â n m u a c ổ p h i ế u
- C ơ c ấ u C T C P h o à n t h i ệ n
C á c g i a i đ o ạ n h ì n h t h à n h c ô n g t y c ổ p h ầ n t r ê n t h ế g i ớ i
Con đờng hình thành công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân do nhiều ngời cùng
thoả thuận lập nên, trên cơ sở tự nguyện góp tài sản hoặc khả năng của mình để tiến
hành các hoạt động chung nhằm thu lợi nhuận. Có hai hớng để thành lập công ty cổ
phần:
- Thành lập công ty cổ phần mới
- Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc để hình thành công ty cổ phần.
I.1.5. Tính tất yếu của việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
Việc đề ra những mục tiêu nhằm đa đến thực hiện đa dạng hoá sở hữu về t liệu
sản xuất gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất, của phân công lao động trong
xã hội là điều tất yếu, là quá trình lịch sử - tự nhiên và là một quy luật phát triển của
xã hội. Đó cũng là quá trình xã hội hoá sản xuất cả về mặt lực lợng sản xuất lẫn quan hệ
sản xuất. Quá trình xã hội hoá về mặt lực lợng sản xuất, chính là quá trình phân công
lao động xã hội ngày càng sâu sắc trong mỗi nớc cũng nh trên phạm vi quốc tế và khu
9
vực. Còn xã hội hoá về quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu) là quá trình ngày càng đa
dạng hoá các hình thức sở hữu. Tiến hành cổ phần hoá về thực chất là quá trình chuyển
đổi sở hữu để thực sự đa các doanh nghiệp Nhà nớc có chỗ đứng vững và tồn tại trong
cơ chế thị trờng. Đa dạng hoá sở hữu tạo động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu t, tạo điều
kiện thuận lợi để cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện quyền làm chủ thật sự của ngời lao
động trong xí nghiệp, khuyến khích cạnh tranh đặc biệt là nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh tế và phát triển kinh tế thị trờng.
Chính vì vậy, Nghị định số 44 - 1998/NĐ - CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ
nêu rõ: Chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu sau:
Huy động vốn của toàn bộ xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế tổ chức
xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển
doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nớc.
Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những ngời đã
góp vốn đợc làm chủ thực sự; thay đổi phơng thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao
động, góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
2. Cổ phần hoá và thị trờng chứng khoán
2.1. Thị trờng tài chính
2.1.1. Khái niệm, cấu trúc của thị trờng tài chính:
Khái niệm thị trờng tài chính:
Thị trờng tài chính là thị trờng trong đó nguồn tài chính đợc chuyển từ ngời có
vốn d thừa sang ngời thiếu vốn. Thị trờng tài chính là tổng hoà các quan hệ cung cầu về
vốn.
Chức năng cơ bản nhất của thị trờng tài chính là dẫn vốn từ ngời d thừa vốn tới
ngời cần vốn, ngoài ra nó còn thể hiện chức năng giám sát thông qua sự vận động của
các nguồn tài chính.
Phân loại thị trờng tài chính:
Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loại thị trờng tài chính nh sau:
10
Dựa vào việc mua bán chứng khoán lần đầu (chứng khoán mới) và mua bán
chứng khoán sau khi phát hành lần đầu ngời ta chia làm thị trờng cấp 1 và thị trờng cấp
2.
Thị trờng cấp 1 (thị trờng sơ cấp): là thị trờng tài chính trong đó những phát hành
mới của chứng khoán đợc tổ chức phát hành bán cho ngời mua đầu tiên.
Thị trờng cấp 2 (thị trờng thứ cấp): là thị trờng tài chính nơi diễn ra các hoạt động
mua bán lại các chứng khoán đã đợc phát hành trên thị trờng cấp 1.
Dựa vào phơng thức giao dịch trên thị trờng tài chính, thị trờng cấp 2 đợc chia
làm hai loại: Sở giao dịch và thị trờng phi tập trung.
Căn cứ vào bản chất, chức năng và phơng thức hoạt động của các chủ thể tài
chính và các công cụ tài chính giao dịch trên đó, hệ thống tài chính đợc phân làm 3 thị
trờng cơ bản: Thị trờng tiền tệ, thị trờng hối đoái và thị trờng vốn.
Thị trờng tiền tệ: Là thị trờng phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính
ngắn hạn, thông thờng dới 1 năm nh tín phiếu kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa các
ngân hàng, thoả thuận mua bán lại, chứng chỉ tiền gửi, thơng phiếu v.v
Thị trờng hối đoái: Là nơi giao dịch các công cụ tài chính tơng đối ngắn hạn, nh-
ng chúng đợc định giá bằng các loại đồng tiền khác nhau, và ở thị trờng hối đoái cũng
chỉ có các giao dịch giữa các đồng tiền khác nhau mới đợc thực hiện.
Thị trờng vốn (thị trờng chứng khoán): Là thị trờng phát hành và mua bán lại các
công cụ tài chính có kỳ hạn trên 1 năm hay chính là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về
vốn dài hạn.
2.1.2. Tiết kiệm, đầu t và lu chuyển vốn trên thị trờng tài chính
Đầu t là việc sử dụng một khoản tiền nhất định vào một việc nhất định nhằm mục
đích thu lại một khoản tiền lớn hơn.
Tiết kiệm là một phần thu nhập quốc dân cha cần sử dụng cho nhu cầu hiện tại.
Thị trờng tài chính có ý nghĩa quan trọng trong việc phân phối các nguồn tài
chính. Thông qua hoạt động của các chủ thể trên thị trờng tài chính, các nguồn tài chính
đợc luân chuyển để cung và cầu về vốn gặp nhau. Quá trình luân chuyển vốn trên thị tr-
ờng tài chính làm tăng quá trình chuyển tiết kiệm thành đầu t. Quá trình luân chuyển
vốn trên thị trờng tài chính thể hiện ở Sơ đồ 1:
11
tài chính gián tiếp
tài chính trực tiếp
Sơ đồ 1: Những dòng vốn đi qua hệ thống tài chính
2.2. Thị trờng chứng khoán
2.2.1. Khái niệm
Thị trờng chứng khoán là một bộ phận của thị trờng tài chính mà tại đó diễn ra
việc mua bán các công cụ tài chính dài hạn.
2.2.2. Vai trò của thị trờng chứng khoán trong nền kinh tế thị trờng
Huy động vốn cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu t mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ đợc đa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất
xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu t của công ty, thị trờng chứng khoán đã có
những tác động hỗ trợ quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông
qua thị trờng chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa phơng cũng huy động đ-
ợc các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu t phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các
nhu cầu chung của toàn xã hội.
Cung cấp môi trờng đầu t cho công chúng:
Thị trờng chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu t lành mạnh
và các cơ hội lựa chọn phong phú. Có nhiều loại chứng khoán trên thị trờng với các mức
độ rủi ro hết sức khác nhau để các nhà đầu t có thể lựa chọn cho phù hợp với khả năng
Những
trung gian
tài chính
Vốn
Vốn
Những
trung gian
tài chính
Những người cho vay
(Người tiết kiệm)
1. Các gia đình
2. Các hãng kinh doanh
3. Chính phủ
4. Người nước ngoài
Những người đi vay (ngư
ời chi tiêu)
1. Các hãng kinh doanh
2. Chính phủ
3. Các gia đình
4. Người nước ngoài
Các
thị trư
ờng tài
Vốn
Vốn
Vốn
Vốn
Vố
n
12
và sở thích của mình. Chính vì vậy, thị trờng chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng
mức tiết kiệm quốc gia.
Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có thị trờng chứng khoán các nhà đầu t có thể chuyển đổi các chứng khoán
họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh
khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những yếu tố cho thấy tính
linh hoạt, an toàn của vốn đầu t. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các
chứng khoán là chức năng quan trọng đảm bảo cho thị trờng chứng khoán hoạt động
một cách năng động và có hiệu quả.
Đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
Thị trờng chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền
kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ
số giá chứng khoán trên thị trờng. Từ đó tạo ra một môi trờng cạnh tranh lành mạnh
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản
phẩm.
Tạo môi trờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Thị trờng chứng khoán là thị trờng nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau. Trên
thị trờng chứng khoán giá cả các chứng khoán phản ánh sự phát triển của các doanh
nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế nói chung, giá cả chứng khoán tăng lên cho thấy
đầu t đang mở rộng, nền kinh tế tăng trởng; và ngợc lại giá chứng khoán giảm sẽ cho
thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Chính vì vậy, thị trờng chứng khoán đợc gọi
là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện
các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trờng chứng khoán, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý
lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác
động vào thị trờng chứng khoán nhằm định hớng đầu t đảm bảo cho sự phát triển cân
đối nền kinh tế.
2.3. Quan hệ tác động qua lại giữa tiến trình cổ phần hoá với sự phát triển thị trờng
chứng khoán
13
2.3.1. Việc ra đời các công ty cổ phần với việc phát hành các loại chứng khoán và
cùng với việc chuyển nhợng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định
sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán ra đời là nơi để cho các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm đ-
ợc các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu t sản xuất kinh doanh; là nơi khai thông nguồn
tiết kiệm của những ngời tích luỹ đến các nhà đầu t; là cơ chế phân bổ các nguồn đầu t
theo yêu cầu của nền kinh tế thị trờng; và là cơ sở quan trọng để Nhà nớc thông qua đó
để sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt đợc
những mục tiêu lựa chọn. Thiếu thị trờng chứng khoán không có nền kinh tế thị trờng
phát triển. Song sự ra đời của thị trờng chứng khoán không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con ngời, mà kết quả của sự phát triển chung về kinh tế xã hội, trong đó sự ra
đời và phát triển, hoạt động hoàn hảo của các công ty cổ phần giữ vai trò quyết định.
2.3.2. Chơng trình cổ phần hoá tạo ra hàng hoá đáp ứng đợc các yêu cầu về số lợng
và chất lợng để giao dịch trên thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán tạo ra môi trờng không thể thiếu cho chơng trình cổ phần
hoá thành công vững chắc đồng thời việc cổ phần hoá cũng tạo động lực phát triển thị
trờng chứng khoán. Sự hình thành thị trờng chứng khoán và chơng trình cổ phần hoá có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Một mặt cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá các DNNN
thuộc diện cổ phần hoá, mặt khác cần lựa chọn một số doanh nghiệp có quy mô vốn lớn,
kinh doanh có lãi, có định hớng phát triển trong tơng lai để phát hành cổ phiếu hoặc trái
phiếu dài hạn nhằm huy động vốn.
II. Vai trò cổ phần hoá đối với sự phát triển của Việt Nam
và Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
1. Vai trò cổ phần hoá đối với sự phát triển của Việt Nam
1.1. Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam
1.1.1.Tình hình kinh tế - xã hội qua 10 năm 1991 - 2000:
Nền kinh tế có bớc phát triển mới về lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội
nhập kinh tế, tăng đợc thế và lực hơn hẳn 10 năm trớc, khắc phục đợc một tình trạng nớc
nghèo và kém phát triển, nâng cao khả năng độc lập tự chủ, tạo thêm điều kiện đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét