GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Trong cuốn nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox cho rằng “ hầu hết các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở
điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng” Ông cũng giải thích: “ mọi
ngân hàng hoạt động với 3 chức năng cơ bản là nhận và giữ các khoản tiền gửi, cho
phép rút tiền và vận hành hệ thống chuyển tiền, cho vay các khoản tiền gửi tới khách
hàng có nhu cầu vay vốn. Đây là chức năng cơ bản nhất, nhưng bước sang đầu những
năm 90 hệ thống ngân hàng hiện đại còn có các dịch vụ khác rộng rãi hơn, tinh vi hơn
nhiều. Trên thực tế, một ngân hàng lớn thường có khoảng 300 dịch vụ khác nhau cho
khách hàng là các cá nhân hay doanh nghiệp”
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh sau:
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng.
Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù
hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như nhiều nước phát triển.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức
năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho vay). Quan
niệm này được dùng khi xem xét hoạt động của một ngân hàng cụ thể để đưa ra
những nhận định về các dịch vụ mới phát triển như thế nào và cơ cấu của nó trong
toàn bộ hoạt động của ngân hàng.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, không bao
hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn và cho
vay. Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liền với việc thu
phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thông qua việc phục vụ
các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn thu cho ngân hàng.
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
5
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Dịch vụ ngân hàng trước hết là một ngành dịch vụ, mang những đặc điểm
chung của hoạt động dịch vụ, đó là tính vô hình (phi vật chất). Dịch vụ ngân hàng là
những sản phẩm vô hình, việc sản xuất và cung ứng nó diễn ra đồng thời nhưng
không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêu dùng.
Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm sau:
Một là, hoạt động dịch vụ không đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải sử
dụng nguồn vốn của mình do ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính, là cầu
nối giữa người cho vay và người đi vay. Đối với các ngân hàng thương mại có quy
mô vốn tự có hạn hẹp như các ngân hàng thương mại Việt Nam đây là một thuận lợi
lớn để có thể mở rộng cung ứng dịch vụ ngân hàng.
Hai là, hoạt động dịch vụ được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối
an toàn, có rủi ro thấp vì giảm thiểu được những rủi ro như rủi ro về lãi suất, đặc biệt
là những rủi ro tín dụng do tính chất thông tin bất cân xứng của thị trường tài chính
đem lại.
Ba là, hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp
làm tăng thu nhập của ngân hàng thông qua việc thu phí, chênh lệch giá, hoa hồng…
Nếu hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập từ chênh lệch lãi suất cho vay
và lãi suất đầu vào thì các hoạt động dịch vụ thu nhập được hình thành từ phí dịch vụ,
chênh lệch giá, hoa hồng… (gọi chung là phí dịch vụ).
Một số dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưng lại
nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng sức cạnh tranh của ngân hàng
nhằm lôi kéo khách hàng, như vậy những dịch vụ này đã gián tiếp làm tăng thu nhập
cho ngân hàng.
Hoạt động dịch vụ thường đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng cả về mặt vật
chất và uy tín nên đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả thu hút các ngân
hàng thương mại hiện đại trên thế giới.
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
6
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Bốn là, hoạt động dịch vụ ngân hàng đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải tương xứng.
Các ngân hàng thương mại không thể triển khai hoạt động dịch vụ phục vụ khách
hàng nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Hoạt động này gắn liền với sự phát triển
của công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng
động, nhiệt tình và thành thạo trong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt
động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt chẽ
với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của
dịch vụ khác. Ví dụ: Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã đẩy mạnh sự phát triển
của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…Điều này đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các
dịch vụ trong sự phát triển dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch
vụ trọn gói cho khách hàng.
1.1.3 Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài
chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả. Một số
dịch vụ ngân hàng cơ bản như sau:
1.1.3.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng thương mại. Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngân hàng có
được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặc biệt là nghiệp
vụ cho vay.
Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của
khách hàng. Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử
dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thời gian ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự
kiến sử dụng trong tương lai và họ nhận được lãi suất từ khoản tiền gửi đó như là
phần thưởng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân
hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Vì đây là một nguồn vốn quan trọng nên cuộc
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
7
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
cạnh tranh để tìm kiếm và giành được các khoản tiền gửi trở nên ngày càng gay gắt
hơn. Các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động nguồn vốn này bằng nhiều phương
thức khác nhau đồng thời cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người gửi tiền.
Một nguồn vốn khác là lượng tiền trên các tài khoản tiền gửi giao dịch, đây là
loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng
hoá, dịch vụ và các nhu cầu cá nhân khác. Ngoài ra ngân hàng còn có thể huy động
vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khoán nợ trên thị trường tài chính
như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu. Để thu hút được nguồn vốn này, ngân hàng
thường phát hành các loại chứng khoán với nhiều loại kỳ hạn, mức lãi suất khác
nhau, có thể ghi danh hoặc không ghi danh.
1.1.3.2 Cho vay
Chiết khấu
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là
cho vay đối với các doanh nhân thông qua việc mua bán các khoản nợ của khách
hàng, tức là người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước.
Ngày nay các ngân hàng thương mại không chỉ dừng lại ở chiết khấu thương phiếu
mà còn chiết khấu các chứng khoán đang còn thời hạn thanh toán. Qua nghiệp vụ này
các ngân hàng thu được lãi suất chiết khấu, còn khách hàng được đáp ứng nhu cầu về
vốn.
Cho vay thương mại
Thay vì tài trợ gián tiếp dưới hình thức chiết khấu, các ngân hàng cho vay trực
tiếp đối với các khách hàng (là người mua) nhằm giúp họ có vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh. Hình thức cho vay thương mại có thể là cho vay ngắn hạn dự trữ hàng
tồn kho, hoặc cho vay trung, dài hạn để đầu tư cho việc mua máy móc, thiết bị, nhà
xưởng…
Cho vay tiêu dùng
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
8
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Trong giai đoạn đầu các ngân hàng không nhiệt tình cho vay đối với các cá
nhân và hộ gia đình do họ nghĩ rằng các khoản cho vay tiêu dùng thường có mức sinh
lời không cao và nhiều rủi ro. Song sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự
cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là những
khách hàng tiềm năng. Và từ sau chiến tranh thế giới thứ II, tín dụng tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất.
Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây
dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình
này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư cùng
với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẽ rủi ro.
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing)
Hiện nay, rất nhiều ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
mua các thiết bị, máy móc thông qua hợp đồng thuê mua, theo đó ngân hàng mua
thiết bị và cho khách hàng thuê. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này để phục vụ
cho những khách hàng không đủ điều kiện vay như một biện pháp bảo đảm an toàn
vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng. Tuy nhiên hợp
đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị
của tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như
cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Trong những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huy động
vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm chú ý của
các Chính phủ. Do vậy, thông thường ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với
điều kiện là phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng
tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Đây chính là hình thức tài trợ cho khoản bội
chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới hay khủng hoảng kinh tế).
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
9
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
1.1.3.3 Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho cho các khách hàng thực hiện các khoản thanh
toán mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt và chính dịch vụ này đã
mở đầu cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền
mặt là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được
thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của
người khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt.
Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
Séc
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho
ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc hoặc theo
lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt
hay bằng chuyển khoản.
Séc bao gồm nhiều loại: Séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, séc chuyển
khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc du lịch…
Thanh toán chuyển tiền
Thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán cho phép một người dù có
hay không có tài khoản tại ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản của người khác.
Phương tiện này đặc biệt có ích trong việc thanh toán các hoá đơn tiền điện, cước
điện thoại…
Uỷ nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu là nghiệp vụ thu tiền mà trong đó người bán uỷ thác cho ngân
hàng thu một khoản tiền của người mua theo hợp đồng mua bán mà người mua và
người bán ký. Uỷ nhiệm thu là một văn thư do khách hàng lập để yêu cầu ngân hàng
thu một khoản tiền ở người mua trong trường hợp bên mua và bên bán có tài khoản ở
hai ngân hàng khác nhau.
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
10
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Đây là thể thức thanh toán phức tạp, chậm, rườm rà và không phù hợp với
hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chỉ phù hợp với kho bạc Nhà
nước hoặc là thủ tục áp dụng trong việc mua bán với nước ngoài.
Uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của
ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để trả cho
người thụ hưởng.
Thanh toán bằng thẻ
Theo cách thức này chủ thẻ có thể thanh toán tiền mua hàng hoá, chi trả tiền
dịch vụ qua máy đọc thẻ POS hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM.
Công nghệ thanh toán thẻ với nhiều ưu việt nổi trội của nó so với thanh toán bằng
tiền mặt như không lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện cho
khách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh toán đã nhanh
chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở sở công
nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế việc thanh
toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao dịch ngày càng
lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm nguồn thu nhập và khả
năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loại như thẻ
từ, thẻ chíp, thẻ thông minh…Ngoài ra, còn có những tổ chức thẻ Quốc tế như Visa,
Amex, Master…với các sản phẩm thẻ như Visa, Amex, Mastercard …Dịch vụ thẻ đã
được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Số lượng thẻ đã phát hành
và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ, với trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán
thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tự động ATM trên thế giới.
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
11
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầu những
năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Song cho đến nay đã
có trên 20 ngân hàng trong nước đã và đang triển khai dịch vụ này.
Thư tín dụng
Phương thức thanh toán này là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng
nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam
kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của
thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng nếu bên bán thực hiện
đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng.
Hình thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó nó được dùng
phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
Hối phiếu
Hối phiếu ngân hàng là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người
ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến một ngày cụ
thể nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác
hoặc trả cho người cầm phiếu.
1.1.3.4 Dịch vụ uỷ thác
Dịch vụ uỷ thác là dịch vụ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho
cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ này ngày càng phát triển khi thị trường tài chính
phát triển và đời sống ở mức cao, bao gồm:
Uỷ thác vay hộ và cho vay hộ
Uỷ thác phát hành
Uỷ thác đầu tư
Uỷ thác trong quản lý tài sản và thực hiện di chúc
Uỷ thác trong việc trả lương
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
12
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Uỷ thác phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức và thanh
toán vốn khi chứng khoán đến hạn
Uỷ thác khác…
1.1.3.5 Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên
có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo
lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng gồm các loại cơ bản sau:
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh bảo hành
Bảo lãnh hoàn trả tạm ứng
Bảo lãnh vay vốn
Các loại bảo lãnh khác…
1.1.3.6 Dịch vụ tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia có kinh nghiệm về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên
nhu cầu của khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể
tư vấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp
nhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, về thị trường cho các doanh nghiệp trên cơ
sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
1.1.3.7 Dịch vụ bảo hiểm
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
13
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trong
trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh
toán. Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn các ngân hàng
thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc ngân hàng hoặc
chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ sở hữu ngân hàng.
1.1.3.8 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Các ngân hàng có khuynh hướng đa năng trong việc cung cấp các dịch vụ tài
chính trọn gói nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu cho khách hàng, trong đó có dịch vụ môi
giới. Dịch vụ môi giới được phát sinh nhờ các ngân hàng thương mại có lợi thế thông
tin tài chính, do vậy cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các
chứng khoán khác.
1.1.3.9 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở nhiều nơi. Do vậy, các ngân hàng (thường là những ngân hàng thương
mại lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán
hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, ngân hàng còn có các dịch vụ khác như cung
cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, cung cấp các
dịch vụ của ngân hàng quốc tế…
1.1.3.10Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản
khác cho khách hàng trong két, vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két. Các giấy
chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng có thể được lưu hành như tiền – đó
là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Dịch vụ này phát triển cùng nhiều dịch
vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức.
1.1.3.11Quản lý ngân quỹ
Phạm Thị Thúy Hà Kinh tế quốc tế 47
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét