động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó để đợc sử dụng t bản. Ông đã nhìn
thấy xu hớng bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận và xu hớng tỉ suất lợi nhuận
giảm sút do khối lợng t bản đầu t tăng lên. Xuất phát từ sự phân tích giá trị
hàng hoá do ngời công nhân tạo ra AdamSmith thấy một thực tế là công nhân
chỉ nhận đợc một phần tiền lơng, phần còn lại địa tô và lợi nhuận của t bản.
Theo ông địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động. Về mặt l-
ơng, nó là dôi ra ngoài tiền lơng công nhân và lợi nhuận t bản. Về mặt chất,
nó phản ánh quan hệ bóc lột. Ông đã phân biệt địa tô và tiền tô. Theo ông địa
tô cộng với lợi tức t bản đầu tiên tự cải tạo đất bằng tiền tô. Điều này tiến bộ
hơn các học thuyết trớc đây. Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ nông nghiệp
có địa tô, vì lao động nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn công
nghiệp và ông phủ nhận địa tô tuyệt đối. Ông cho rằng nếu thừa nhận địa tô
tuyệt đối là vi phạm qui luật giá trị.
c. David Ricardo
Nếu nh AdamSmith sống trong thời kỳ công trờng thủ công phát triển
mạnh mẽ thì David Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Đó
là điều kiện khách quan để ông vợt đợc ngỡng giới hạn mà AdamSmith dừng
lại. Ông là ngời kế tục suất sắc của AdamSmith. Theo CMác, AdamSmith là
nhà kinh tế của thời kỳ công trờng thủ công còn David Ricardo là nhà t tởng
của thời đại cách mạng công nghiệp. Ông còn sử dụng phơng pháp khoa học
tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tợng hoá, đồng thời áp dụng các phơng pháp
khoa học chính xác, đặc biệt là phơng pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế
chính trị học.
Về lợi nhuận, David Ricardo cho rằng: Lợi nhuận là số còn lại ngoài
tiền lơng mà nhà t bản trả cho công nhân. ông đã thấy xu hớng giảm sút tỉ
xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận
động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: Địa chủ, công nhân và t bản. Ông
cho rằng do qui luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng
lên làm cho tiền lơng công nhân tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không
tăng. Nh vậy theo ông địa chủ là ngời có lợi, công nhân không có lợi cũng
không bị hại, còn phần nhà t bản thì có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống.
Nhng hạn chế của ông là không phân biệt đợc lợi nhuận và giá trị thặng d.
3. Quan điểm về lợi nhuận của Kene
5
Kene đợc CMác đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị cổ điển và ông
có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Khi phân tích phần thởng cho sự
gánh chị rủi ro nói chung. Chúng ta không tính tới các rủi ro do vỡ nợ hay
các rủi ro có bảo hiểm. Có một dạng rủi ro đặc biệt phải lu ý là rủi ro đầu t
không đợc bảo hiểm, nó phải đợc tính vào trong quá trình tính toán lợi nhuận.
Doanh thu của Công ty phụ thuộc rất lớn vào thăng trầm trong chu kỳ kinh
doanh. Do các nhà đầu t không thích các trờng hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải
có mức phí dự phòng rủi ro cho những đầu t không chắc chắn nhằm bù đắp
cho những rủi ro của họ.
Lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí. Lợi nhuận kinh doanh đợc
báo cáo chủ yếu là thu nhập Công ty.
4. Học thuyết của Mac-Anghen về lợi nhuận.(HT giá trị thặng d )
Mác viết: Tôi là ngời đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao
động biểu hiện trong hàng hoá.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì
lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động
trừu tợng.
Lao động của ngời sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sức lực của
con ngời nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó nh thể nào gọi là lao
động trừu tợng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt
của con ngời. Nhng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó cha phải
là lao động trừu tợng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần
thiết khách quan phải qui các lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so
sánh đợc với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với nhau
đợc, tức là phải qui lao động cụ thể thành lao động trừu tợng. Vì vậy, lao
động trừu tợng là một phạm trù lịch sử. Lao động trừu tợng nó tạo ra giá trị
của hàng hoá.
Mác và Anghen cũng là ngời đầu tiên xây dựng lý luận về giá trị thặng
d một cách hoàn chỉnh vì vậy, lý luận giá trị thặng d đợc xem là hòn đá tảng
to lớn nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Qua thực tế xã hội t
bản lúc bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp t bản thì ngày càng giàu thêm còn
6
giai cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân
vì sao lại có hiện tợng này. Cuối cùng, ông đã phát hiện ra rằng nếu t bản là T
đa vào quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số
tiền ứng ra. Ta gọi là T
(T
> T ) hay:
T
= T + T
CMác gọi T là giá trị thặng d. Ông cũng thấy rằng mục đích của lu
thông tiền tệ với t cách là t bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị.
mục đích lu thông T - H - T
là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng d lên sự
vận động T - H - T
là không có giới hạn. Công thức này đợc Mác gọi là công
thức chung của t bản.
Vậy giá trị thặng d (m) là phần giá trị mối dôi ra ngoài ra trị sức lao
động do công nhân tạo ra bị nhà t bản chiếm đoạt. Qua đó chúng ta thấy t
bản là giá trị đem lại giá trị thặng d bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng d trong quá trình sản
xuất của t bản thì CMác đã chia t bản ralàm hai bộ phận t bản bất biến và t
bản khả biến.
Bộ phận t bản tồn tại dới hình thái t liệu sản xuất mà giá trị đợc bảo
tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lợng trong quá
trình sản xuất đợc CMác gọi là t bản bất biến ký hiệu là C.
Còn bộ phận t bản biểu hiện dới hình thức giá trị sức lao động trong
quá trình sản xuất đã tăng thêm về lợng gọi là t bản khả biến ký hiệu là V.
Nh vậy, ta thấy muốn cho t bản khả biến hoạt động đợc phải có một t
bản bất biến đã đợc ứng trớc với tỉ lệ tơng đơng. Và qua sự phân chia ta rút ra
t bản khả biến tạo ra giá trị thặng d vì nó dùng để mua sức lao động. Còn t
bản bất biến thì có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng d. Từ đây ta
có thể kết luận: Giá trị của một hàng hoá bằng giá trị t bản bất biến mà nó
chứa đựng, cộng với sự tăng thêm t bản bất biến đó (tức là giá trị thặng d đã
đợc sản xuất ra). Nó đợc biểu hiện bằng công thức:
Giá trị = C + V + m
Giá trị t liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm C.
7
Giá trị sức lao động của ngời công nhân (mà nhà t bản trả cho ngời
công nhân) :V
Giá trị mới do ngời công nhân sáng tạo ra: V + m
Nh thế t bản bỏ ra một lợng t bản để tạo ra giá trị là C + V. Nhng giá
trị mà t bản thu vào là C + V + m. Phần m dôi ra là phần mà nhà t bản bóc lột
của ngời công nhân.
ở trên chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng d. Nhng
muốn hiểu hơn về nó ta cần phải nghiên cứu bóc lột t bản về mặt lợng. Các
phạm trù tỷ suất giá trị thặng d và khối lợng giá trị thặng d mà ta nghiên cứu
sau đây sẽ biểu hiện về mặt lợng của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng d là tỷ số giữa giá trị thặng d và t bản khả biến.
Ký hiệu là m ta có:
8
m =
m.100%
V
Tỷ suất giá trị thặng d vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột
công nhân. Thực chất đây là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao
động cần thiết và thời gian lao động thặng d. Nhng nó không biểu hiện lợng
tuyệt đối của sự bóc lột tức là khối lợng giá trị thặng d. Khối lợng giá trị
thặng d là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng d với tổng t bản khả biến (V). Gọi
M là giá trị thặng d thì:
M = mV =
m.V
V
M nói lên quy mô bóc lột của t bản.
Nhà t bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng d nhiều nhất bằng nhiều
cách, bằng nhiều thủ đoạn. Trong đó Mác chỉ ra hai phơng pháp mà chủ
nghĩa t bản sử dụng đó là sản xuất giá trị thặng d tơng đối và sản xuất giá trị
thặng d tuyệt đối. Ngoài ra còn có phơng pháp sản xuất giá trị thặng d siêu
ngạch.
Mác đã chỉ ra trong những giai đoạn phát triển siêu ngạch chủ nghĩa t
bản, khi kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng d tuyệt
đối bằng cách kéo daì tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao
động cần thiết hay không thay đổi. Nhng phơng pháp này còn có hạn chế về
thời gian, về thể chất và tinh thần của ngời công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn
đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn. Mặt khác đến giai
đoạn phát triển sản xuất bằng cơ khí, khi mà kỹ thuật phát triển cao có thể
làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà t bản dựa vào
tăng năng suất lao động để tăng giá trị thặng d và nâng cao trình độ bóc
lột.
Nhà t bản sản xuất ngày càng tăng giá trị thặng d bằng cách rút ngắn
thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tơng ứng thời gian lao động thặng
d trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phơng pháp này gọi là ph-
ơng pháp sản xuất giá trị thặng d tơng đối, phơng pháp này không có giới
hạn.
9
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là sự hiểu hiện qua sảu phẩm
còn thực tế để thu đợc tiền thì sự chuyển hoá đó phải nh thế nào. Vì công
thức chung của chủ nghĩa t bản là T - H - T nên mục đích cuối cùng của nhà
t bản là thu đợc T còn giá trị thặng d chỉ là nền tảng để thu đợc T (T > T).
Mác đã giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lợng biểu hiện
giá trị thặng d đó là lợi nhuận (P).
Vậy:
Các giá trị thặng d khi đợc đem so sánh với tổng t bản ứng trớc thì
mang hình thức biến tớng thành lợi nhuận. Từ đó có thể thấy P chính là con
đẻ của tổng t bản ứng trớc: C+V
Để hiểu rõ hơn về lợi nhuận chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi
phí thực tế xã hội và chi phí sản xuất t bản chủ xuất phát từ giá trị hàng hoá:
C+V+m.
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí một lao động nhất định bao gồm
chi phí cho mua t liệu sản xuất C gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra
giá trị mới (V+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm của ngời lao
động thì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá (C+V+m). Nh-
ng đối với nhà t bản thì họ không hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá
nên là t bản chỉ xem hết bao nhiêu t bản chứ không tính xem chi phí hết bao
nhiêu lao động cần thiết. Thực tế họ chỉ ứng ra sờ t bản để mua t liệu sản xuất
(C) và mua sức lao động (V). Chi phí đó đợc Mác gọi là chi phí t bản chủ
nghĩa và ký hiệu là k(k= c + v). Nh vậy chi phí t bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn
chi phí thực tế. Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa có
sự chênh lệch nhau một lợng đúng bằng m. Do đó nhà t bản bán hàng hoá sẽ
thu về một phần lời đúng bằng giá trị thặng d m, số tiền này gọi là lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa cộng
với lợi nhuận.
Giá trị = k + P
Về mặt lợng P có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công
nhân làm thuê.
Tỷ suất lợi nhuận (P) là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d
và toàn bộ t bản ứng trớc.
10
P =
m.100%
C + V
Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà t bản mà nó
nói lên mức lãi của việc đầu t. Nó cho nhà t bản biết họ đầu t vào đâu thì có
lợi. Do đó việc thu lợi nhuận - P và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận - P là động
lực thúc đẩy nhà t bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà t bản.
Do mục tiêu đạt đợc lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà t bản luôn
luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của nhà t bản đ-
ợc Mác phân chia thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa
các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích
tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà t bản ở các
ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu t có lợi hơn. ở các ngành khác
nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ suất lợi
nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản xuất có lợi cho
mình nhất để thu đợc nhiều lợi nhuận, các nhà t bản thì tìm nơi để đầu t thu
đợc lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: Do ảnh hởng của cạnh tranh
những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất lợi nhuận
chung, đó là con số bình quân của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau.
Lợi nhuận của một t bản có một lợng nhất định thu đợc, theo tỷ suất lợi
nhuận chung đó, không kể cấu tạo hiện có nh thế nào gọi là lợi nhuận bình
quân.
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật
tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ
suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản biểu hiện bởi sự hoạt động của
quy luật giá trị thặng d trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa t bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã
che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản. Sự hình thành P và P
không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội t bản, trái lại cạnh
tranh vẫn tiếp diễn.
11
Sự chuyển hoá từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất là sự che dấu
quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa của phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ
phận hàng hoá đợc bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác lại bán
thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ nh thế. Chỉ có bán hàng hoá
theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng
nhất và ngang với nhau, dù cấu thành hữu cơ của các nhà t bản đều khác
nhau. Những giá cả có đợc bằng cách lấy chi phí sản xuất của hàng hoá
cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất.
Vậy: Giá cả sản xuất = k +
P
Trớc đây khi cha xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay
quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản
xuất. Về mặt lợng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính
trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả
sản xuất, giá cả thị trờng.
Nh vậy lợi nhuận đợc tạo ra từ sản xuất , giờ ta sẽ xét đến các hình
thức chuyển hoá của lợi nhuận.
II - Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
Lợi nhuận đợc chuyển hoá thành: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận th-
ơng nghiệp,lợi tức và tỷ suất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng địa tô, lợi nhuận
độc quyền.
1. Lợi nhuận công nghiệp
trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trờng các nhà
sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh, họ muốn
chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để khi trừ đi
các chi phí còn số d dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tài sản xuất
mở rộng không ngừng tích luỹ phát triển, sản xuất, củng cố và tăng cờng vị
trí của mình trên thị trờng. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh lệch giữa
tổng doanh thu và tổng chi phí. Cần tối đa hoá lợi nhuận hoặc cực tiểu hoá
chi phí sản xuất là hành vi làm tăng lợi nhuận hoặc giảm chi phí sản xuất, tức
là phải làm gì để đạt đợc lợi nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh
thu của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp kiềm chế đợc nhờ bán hàng
12
hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Trong tổng doanh thu đó có một
phần lợi nhuận kiếm đợc. Và quá trình bán này cũng đợc t bản công nghiệp
chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi nhuận thơng nghiệp.
2. Lợi nhuận thơng nghiệp
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thơng ở đó họ
cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá. Họ coi trọng
thơng nghiệp là sự lừa gạt không một ngời nào thu đợc lợi mà không làm
thiệt kẻ khác. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và nguyên nhân của sự sai
lầm này là do họ tách rời quá trình lu thông và quá trình sản xuất ra khỏi
nhau.
Khác với t bản thơng nghiệp trớc, chủ nghĩa t bản thơng nghiệp hiện
đại thì t bản thơng nghiệp là một bộ phận của t bản công nghiệp tách rời ra
phục vụ quá trình lu thông hàng hoá của t bản công nghiệp. T bản thơng
nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trị và
giá trị thặng d. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá thặng d. Nhìn bề
ngoài lợi nhuận thơng nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lu thông tạo ra. Nhng
thực chất lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng
nghiệp. Nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng nghiệp một phần
bởi vì t bản thơng nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lu thông đó là một
khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất - tức là một khâu trong quá trình
chu chuyển của t bản, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không
thể tiếp tục đợc. Và dĩ nhiên nhà t bản thơng nghiệp cũng không phải là hoạt
động không công đợc mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận. Điều này bắt
buộc nhà t bản công nghiệp phải nhờng một phần lợi nhuận của mình cho t
bản thơng nghiệp. Vậy: lợi nhuận thơng nghiệp là số chênh lệch giữa giá
bán và giá mua hàng hoá.
Nhng điều đó không có nghĩa là nhà t bản thơng nghiệp bán hàng hoá
cao hơn giá trị của nó, mà là nhà t bản thơng nghiệp mua hàng hoá thấp hơn
giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Và vì nhà t bản thơng
nghiệp tham gia vào việc phân chia giá trị thặng d (m) cho nên đời sống của
xã hội t bản hai loại giá sản xuất: Giá cả sản xuất công nghiệp và giá cả sản
xuất thực tế. Sự hình thành lợi nhuận thơng nghiệp đã che dấu thêm một bớc
13
quan hệ bóc lột t bản chủ nghĩa. Do việc phân phối lợi nhuận giữa t banr
công nghiệp và t bản thơng nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận
bình quân thông qua cạnh tranh.
3. Lợi tức và tỉ suất lợi tức
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của t bản công nghiệp luôn
có số t bản tiền tệ ứng trớc tạm thời nhàn rỗi ví dụ nh tiền lơng quỹ khấu hao
của t bản cố định, tiền dùng để mua nguyên vật liệu nhng cha đến kỳ mua và
Bộ phận giá trị thặng d tích lũy (dơí dạng tiền T) để mở rộng sản xuất nhng
cha sử dụng đến,
Số tiền nhàn rỗi nh thế không đem lại một thu nhập nào cho nhà t bản.
Nhng đối với nhà t bản thì tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy nhà t bản cho ngời
khác vay để lấy lãi. Tổng số giá trị mà anh ta cho ngời khác vay là t bản cho
nên nó sẽ quay trở về tay anh ta. Nhng nếu chỉ có việc tổng số giá trị ấy quay
trở về tay anh ta thôi, thì đó không phải là sự quay trở về của một giá trị đã
đem cho vay với t cách là t bản, mà chỉ là việc hoàn lại một giá trị đã cho
vay. Muốn quay trở về với t cách là t bản, thì tổng số giá trị ứng ra không
những phải vẫn giữ đợc nguyên vẹn, mà còn phải sinh sôi nảy nở và tăng
thêm lên trong quá trình vận động. Tức là nó phải quay về kèm theo một giá
trị thặng d : T + T, và ở đây, T này là lợi tức hay là cái phần lợi nhuận
trung bình không nằm lại ở trong tay nhà t bản hoạt động, mà rơi vào tay nhà
t bản tiền tệ. Việc nhà t bản tiền tệ cho các nhà t bản vay tiền còn đợc gọi là
T bản cho vay - Và nguồn gốc của lợi tức chính là một phần giá trị thặng d
do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. Nhng việc nhà t bản cho
vay thu đợc lợi tức che dấu mất thực chất bóc lột t bản chủ nghĩa. Dựa vào
công thức vận động t bản cho vay ở trên chúng ta hoàn toàn vạch trần đợc
điều đó.
Lợi tức vận động theo quy luật tỉ xuất lợi tức.
Tỷ suất lợi tức là tỉ lệ tính theo % giữa tổng số lợi tức và số t bản tiền
tệ cho vay. Tỷ suất lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình
quân, tỷ lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và thu nhập của xí nghiệp mà
nhà t bản hoạt động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của t bản cho vay.
4. Lợi nhuận ngân hàng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét