+ Các biện pháp khuyến khích u đãi các doanh nghiệp quy mô vừa và
nhỏ
+ Chính sách phát triển vùng
+ Các biện pháp bảo hộ mậu dịch
1.2. Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp
Trên phơng diện lý thuyết, chính sách công nghiệp đợc xem xét dới
nhiều góc độ khác nhau. Một chính sách công nghiệp có thể có phạm vi tổng
quát hay mục tiêu cụ thể, nhấn mạnh vào sử dụng các công cụ theo chiều dọc
hay chiều ngang, và có thể có tác dụng tiêu cực hoặc tích cực đối với tăng trởng
kinh tế .
Một chính sách công nghiệp có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích tất
cả các ngành công nghiệp , trong khi đó một chính sách công nghiệp có phạm
vi hẹp thì chỉ tập trung vào một hay một số khu vực công nghiệp đợc lựa chọn
theo những tiêu thức nhất định .
Nh vậy, chính sách phát triển công nghiệp đợc hiểu là sự can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hớng vào những ngành nhất định để đạt đ-
ợc những ngành nhất định để đạt đợc mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này có thể là
tăng trởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm). Chính sách
công nghiệp thờng đợc thể hiện dới dạng tổ chức ngành, chọn ngành u tiên,
chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu t trực tiếp của Nhà nớc, tín
dụng u đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn nhân lc của ngành,
chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của ngành, chính sách đầu t n-
ớc ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối với các ngành , chính sách đối
với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp tập trung.
2. Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp .
2.1 Nội dung
Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt
động hoạch định của một nớc ngằm phát triển công nghiệp, liên quan tới những
hoạt động hoạch dịnh này là những vấn đề điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu t ,
hiện đại hoá và cải tổ cơ cấu công nghiệp, chính sách thị trờng và xuất nhập
khẩu , chính sách khuyến khích R & D , chính sách đối với sản xuất quy mô
nhỏ và các chính sách có liên quan đến phát triển nguồn lực và năng lợng.
Hai là, trong chính sách công nghiệp cần định rõ các ngành công nghiệp
cụ thể sẽ đợc khuyến khích và dành cho nhừng lĩnh vực này những u tiên khác
nhau trong một thời gian nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
của đất nớc vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trởng kinh tế .
Ba là, xây dựng đồng bộ hệ thống các phơng tiện khuyến khích phát triển
các ngành công nghiệp đã dợc lựa chọn . Liên quan đến các phơng tiện này là
khuyến khích về tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát thích hợp hỗ trợ hoạt
động R & D, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu và kế hoạch dài hạn ,
2.2. Mục tiêu.
Vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu của chính sách phát
triển công nghiệp. Phần lớn ở các nớc khi xây dựng chính sách phát triển công
nghiệp thờng đa ra nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, có thể nêu lên 2 mục tiêu chính
là : phát triển công nghiệp cân đối và công bằng.
- Phát triển công nghiệp cân đối đòi hỏi phải đảm bảo đợc sự cân đối giữa
ngành công nghiệp, giữa các địa phơng và vùng lãnh thổ. Hầu hết các nớc trong
quá trình phát triển công nghiệp đều không tập trung đầu t quá mức vào một
ngành công nghiệp nào và tìm cách để duy trì đợc các thị trờng có khả năng
cạnh tranh lớn.
Ngoài ra, mục tiêu phát triển cân đối còn đợc thể hiện ở chỗ : Bên cạnh
các trung tâm công nghiệp của các thành phố lớn, nhiều nớc ddax khuyến khích
phát triển các vùng nông thôn và coi việc định vị lại công nghiệp nh là phơng
tiện quan trọng cho mục tiêu này.
Để thiết lầp đợc một cơ cấu công nghiệp cân đối, các cớc chú ý vào hai
vấn đề là thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp quy mô nhỏ và lựa chọn, phát
triển một số ngành công nghiệp mũi mhọn.
- Mục tiêu công bằng là một trong hai mục tiêu chính của chính sách
công nghiệp. Nó bao gồm các mặt nh công bằng xã hội và công bằng giữa các
nhà đầu t trong và ngoài nớc. Việc thực hiện mục tiêu này có ý ngiã đảm bảo
cho sự phát triển bền vững của công nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung.
Ngoài hai mục tiêu trên còn có những mục tiêu khác nh: đảm bảo chất l-
ợng cuộc sống thông qua việc thiết lập các quy tắc xã hội để kiểm soát ô
nhiễm và chất thải, ban hạnh luật về lơng thực, thực phẩm, hoặc cũng có nớc đặt
mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp là nhằm tăng thu nhập về ngoại
hối nhằm cải thiện cán cân thanh toán. Trong những năm gần đây, gới xu thế
gia tăng về hội mhaapj kinh tế, các nớc còn coi mục tiêu tăng cờng hợp tác kinh
tế với thế giới và khu vực là mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp
3. Trọng tâm của chính sách phát triển công nghiệp.
Chính sách công nghiệp đặt trọng tâm vào phát triển khu vực chế tạo của
nền kinh tế. Những ngời ủng hộ chính sách công nghiệp cho rằng hiện tợng phi
công nghiệp hoá ở Anh và Mỹ trong khoảng 3 thập kỷ qua xuất phát từ việc coi
nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu vực này vào GDP
và tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế tạo
thì đây là một sự sai lầm về định hớng chính sách. Thêm vào đó, các biện pháp
điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ cha đủ để có thể thúc đẩy sự phát triển của
khu vực chế tạo vì đối với tăng trởng năng suất của khu vực này, sự phân bổ vốn
còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu t. Chính vì vậy, Chính
phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi. Những ngời phản
đối quan điển chính sách công nghiệp cho rằng tăng trởng kinh tế trong thời kỳ
hậu công nghiệp ở các nớc t bản phát triển đặt trọng tâm vào khu vực dịch vụ,
dịch vụ trở thành trung tâm của các hoạt động kinh tế. Vì vậy, các biện pháp
can thiệp của Chính phủ theo hớng u tiên khu vực công nghiệp mà không tập
trung cho phát triển khu vực dịch vụ không nhngx là không cần thiết mà còn có
ảnh hởng tiêu cực đối với nền kinh tế. Chính sách công nghiệp sẽ cản trở cơ chế
chọn lọc tự nhiên của thị trờng và ngăn cản việc tái phân bổ các nguồn lực khan
hiếm của nền kinh tế cho khu vực dịch vụ, vì vậy ảnh hởng tiêu cực đến triển
vọng tăng trởng lâu dài của nên kinh tế (quan điểm của Burtơn-1983).
Song sự thay đổi về cơ cấu theo hớng phát triển dịch vụ không phải chỉ
đơn thuần là vì con ngời mong muốn tiêu dùng nhiều dịch vụ khi đới sống đợc
cải thiện. Lý do chủ yếu nhất của sự dịch chuyển về cơ cấu này là do chi phí
lạm phát tơng đối của khu vực dịch vụ tăng trởng chậm trong năng suất của khu
vực này, chứ không phải là do sự dịch chuyển thật sự của nhu cẩu thị trờng về
phía khu vực dịch vụ khi thu nhập gia tăng.
Bên cạnh đó, xu hớng phi công nghiệp hoá quan sát đợc ở một số nớc
công nghiệp phát triển là một kết quả tất yếu trong dài hạn của sự chênh lệch
năng suất lao động giữa hai khu vực này chứ không nhất thiết là do khu vực
công nghiệp suy giảm sức cạnh tranh. Ngay cả các nền kinh tế hớng mạnh vào
xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nh Nhật Bản, Đức cũng chịu những ảnh h-
ởng nhất định của phi công nghiệp hoá. Nói cách khác, phi công nghiệp hoá và
sự suy giảm của khu vực công nghiệp là hai khái niệm khác nhau, mặc dù sự
giảm sút của khu vực công nghiệp có thể ảnh hởng đến mức độ phi công nghiệp
hoá. Vì vậy, không thể kết luận rằng khu vực công nghiệp của một nền kinh tế
nào đó đang xuống dốc nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện của phi công nghiệp
hoá mà nó đang phải trải qua theo định nghĩa ở trên.
4. Tính tất yếu của chính sách công nghiệp.
Chính sách bao hàm ý nghĩa có sự can thiệp của Chính phủ dới bất cứ
hình thức nào. Cần phải có chính sách là vì thị trờng có những khiếm khuyết
nhất định:
4.1.Do những thất bại của thị trờng và vai trò can thiệp của Chính phủ .
Lý thuyết phổ biến nhất lý giải cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền
kinh tế là lý thuyết về sự thất bại của thị trờng. T tởng trong tâm của trờng phái
này tập trung vào thất bại của cơ chế thị trờng trong việc cân bằng giữa chi phí
và lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đồng thời cho rằng Chính phủ có thể can thiệp
để khắc phục khuyết tật của thị trờng.
Hàng hoá công cộng là một thất bại hay đợc nhắc đến nhất của cơ chế thị
trờng. Vì tính không ngoại trừ của hàng hoá công cộng, các cá nhân luôn có
đông lực thực hiện hành vi của những ngời ăn theo, ảnh hởng của vấn đề những
ngời ăn theo là các hàng hoá công cộng sẽ đợc cung cấp ít hơn mức xã hội
mong muốn. Vì vậy Chính phủ cần can thiệp thông qua trực tiếp cung cấp hàng
hoá công cộng.
Tiếp nữa, sự tồn tại của tính kinh tế nhờ quy mô có thể là một yếu tố dẫn
đến những cơ cấu thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo. Trong một cơ cấu thị tr-
ờng nh vậy, mức giá cung cấp sẽ cao hơn mức giá cạnh tranh hoàn hảo dẫn đến
tổn thất thặng d tiêu dùng. Phần tổn thất này đợc chuyển một phần vào thặng d
sản xuất dới dạng lợi nhuận độc quyền, phần còn lại là lợi ích mất không của xã
hội. Mặc dù lý thuyết Điều tốt thứ nhìvà quan điểm cho rằng can thiệp của
Chính phủ có thể là nguyên nhân của thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, sự
tồn tại của cơ cấu thị trờng này vẫn là một lý do quan trọng biện minh cho vai
trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị
trờng.
4.2. Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ.
Trong thực tế, cũng nh khả năng thị trờng tự do có những khuyết tật, sự
can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì bản
thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó.
Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt đợc mục tiêu can thiệp
vào nền kinh tế.
Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt các
thông tin về thất bại thị trờng trong nhiều trờng hợp có thể còn lớn hơn cả lợi
ích mà các biện pháp khắc phục khuyết tật thị trờng mang lại.
Thứ hai, vì có sự xuất hiện của việc thu thập , xử lý thông tin, sự can thiệp của
Chính phủ có thể lại dẫn đến những chi phí nhất định đối với xã hội, và chi phí
này cũng có thể lớn hơn lợi ích mà nó mang lại.
4.3. Lý thuyết thể chế mới về sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế.
Nh đã phân tích trong phần trên, can thiệp của Chính phủ để khắc phục
những khuyết tật củâ thị trờng sẽ dẫn đến những chi phí nhất định mà những chi
phí này có thể lớn hơn cả lợi ích thu đợc từ sự can thiệp của Chính phủ. Tuy
nhiên, điều đó không đủ để có thể kết luận rằng Chính phủ không thể can thiệp
có hiệu quả vào nền kinh tế.
Lý thuyết thể chế mới cho rằng chi phí về thông tin có thể giảm thong
qua những thay đổi thichs hợp trong hệ thống tổ chức của bộ náy hành chính và
trong quan niệm về giá trị của các cá nhân là thành viên của bộ váy chính quyền
và xã hội. Những chi phí thu thập và xử lý thông tin sẽ có thể đợc loại bỏ thông
qua việc cho phép cạnh tranh giữa các Đảng phái và sử dụng các công cụ can
thiệp thích hợp.
Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng thị trờng không phải là một cơ chế
điều phối duy nhất đối với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Thị tr-
ờng,Chính phủ, các hãng, và các thể chế kinh tế khác đều có vai trò trong một
cơ chế phối hợp để da ra các quyết định chính sách. Những ngời ủng hộ quan
điểm này cho rằng Chính phủ có thể giải quyết vấn đề phối hợp giữa các tác
nhân ở trên với chi phí thấp hơn mức chi phí phối hợp của thị trờng, thông qua
việc xác lập một hệ thống quyền sở hữu phù hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ
mô, tái cấu trúc xã hội theo các nhóm, tầng lớp lớn, điều phối và định hớng đầu
t, xây dựng tự hào và bản sắc dân tộc.
4.4. Quan điểm kinh tế chính trị.
Lý thuyết thất bại thị trờng biện minh cho sự can thiệp của Chính phủ
dựa trên giả định cho rằng mục tiêu của Chính phủ là phải can thiệp vào thị tr-
ờng, phục vụ lợi ích của xã hội.
Quan điểm kinh tế chính trị, ở một thái cực là các nhà kinh tế Marxist, ở
thái cực khác là trờng phái Chicago xuất phát từ những quan điểm khác.
Chính phủ có thể có một mức độ độc lập nhất định đối với đai chúng,
nhất là khi không có giai cấp nào có đủ khả năng ảnh hởng mạnh đến các quyết
định chính sách. Trong tình huống này Chính phủ có thể hành động theo mục
tiêu tối đa hoá nguồn thu vào ngân sách.
Theo Findlay (1990), Chính phủ có thể đợc coi nh là một lực lợng độc lập
đa ra các quyết định không nhất thiết phải xuất phát từ lợi ích của xã hội.
Quan điểm về nhóm lợi ích coi Chính phủ nh là chiếc hộp đen mà các
nhóm lợi ích trong xã hội có thể đối kháng, hay liên minh với nhau để đa ra các
quyết định về chính sách. Khi một khu vực công nghiệp nào đó có tầm quan
trọng đối với nền kinh tế, sức ép của nhóm lợi ích này có thể dẫn đến các quyết
định về chính sách thuận lợi đối với nhóm lợi ích đó mà có thể gây phơng hại
đến những nhóm lợi ích khác trong xã hội.
Một số nhà kinh tế Marxist cho rằng sự tồn tại của một Nhà nớc phu
thuộc chặt chẽ vào phơng thức tái sản xuất của xã hội, và vì vậy, Chính phủ phải
hành động vì lợi ích của giai cấp đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong cấu trúc
xã hội.
Nói tóm lại, khác với lý thuyết về thất bại của thị trờng, quan điểm kinh tế
chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhng có thể đơc biện
minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc lậpcủa từng hệ
thống chính quyền.
Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công
nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách phát
triển công nghiệp.
5. Phân loại chính sách công nghiệp .
Bản thân nền công nghiệp, đối tợng của chính sách, là thực thể luôn luôn
động. Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ, từng phút
với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối tợng. Không có
lý luận chung cho chính sách công nghiệp. Do vậy, phải phân loại chính sách
công nghiệp theo mục đích, chủng loại, và tính chất.
5.1. Phân loại theo vai trò của Nhà nớc trong sự phân công giữa Nhà nớc và
các doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này, chức năng của chính sách công nghiệp hớng
vào 3 mục đích chính:
- Hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh
nghiệp t nhân (chỉ đạo hay quy chế cho pjhép công nghiệp hợp tác, bổ sung
hoặc hỗ trợ đối với doanh nghiệp t nhân). Các chính sách này khác nhau ở chỗ
là dựa vào pháp luật (quyề lực hay chỉ đạo hớng dẫn, ).
- Khống chế các giao dịch bất chính: Bao gồm chính sách có mục đích
duy trì trật tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán
quyết hình thức (đăng ký, thông báo, ).
- Dự thảo luật: gồm chính sách tạo lập môi trờng mới hay chính sách xuất
phát từ thái độ thụ động tạo ra trật tự để đối phó với môi trờng mới.
5.2. Phân loại theo đối tợng mục đích của chính sách.
- Các vấn đề cơ cấu công nghiệp : gồm chính sách có đối tợng là toàn bộ
cơ cấu công nghiệp với chính sách có đối tợng là từng ngành (hay từng doanh
nghiệp ).
Chính sách điều chỉnh ngợc với các ngành suy thoái hay chính sách chấn
hng cho các ngành mới (tỷ trọng công nghệ cao trong cơ cấu công nghiệp ).
- Vấn đề thị trờng .
+ Phân biệt chính sách bổ sung khắc phục các thất vại của thị trờng với
chính sách bổ ung hoàn thiện hạn chế của thị trờng.
+ Phân biệt chính sách điều chỉnh trật tự thị trờng bị lệch lạc (tổ chức
ngành sản xuất ) với chính sách điều chỉnh yếu tố bên ngoài bị lệch lạc(môi tr-
ờng tự nhiên, quyền lợi ngời tiêu dùng).
+ Phân biệt chính sách ngay trong bản thân trật tự sẵn có với chính sách
để tiến hành trật tự mới.
- Vấn đề phát triển công nghiệp có tính chiến lợc .
Cần phân biệt rõ chính sách phát triển ngành có tính chiến lợc (ngành
xuất khẩu, điện tử ) với chính sách phát triển các ngành sản xuất cơ sở hạ
tầng (sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu, linh kiện, phụ kiện, ).
5.3. Phân biệt theo thủ pháp chính sách ( theo cách thức để thực hiện mục
tiêu )
- Vấn đề hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
+ Phân biệt chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần cứng và chính sách
hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần mềm (môi trowngf công nghiệp ).
+ Phân biệt chính sách phát triển cơ sở hạ tầng (nh tài chính, tiền tệ,
thuế ) với chính sách phát triển kỹ thuật cho phần cơ sở hạ tầng (nh nghiên
cứu , quy cách hoá, chế độ quyền sở hữu công nghiệp ) và cả chính sách cơ cấu
công nghiệp cơ sở hạ tầng ( nh cơ cấu sản xuất phụ tùng của các doanh nghiệp
trong ngành cơ khí).
- Về kế hoạch triển vọng.
+ Phân biệt kế hoạch mang tính chất giáo dục, nhận thức, hay mục tiêu
chính sách, hay kế hoạch điều chỉnh định hớng.
+ Phân biệt kế hoạch đợc xây dựng bằng ý trí của Chính phủ hoặc đợc
xây dựng trên cơ sở của sự thoả thuận với ngời có lieen quan.
- Về phơng pháp luận.
+ Phân biệt chính sách bất biến, chính sách tạm thời hay chính sách khẩn
cấp.
+ Phân biệt chính sách có tính uy quyền (chỉ huy, cơ chế, ) với các
chính sách hỗ trợ (tài trợ, cho vay vốn , chế độ thuế ) hoặc chính sách có tính
hoàn thiện môi trờng (nh cung cấp thông tin, đa ra quy cách, phát triển kỹ thuật,
) hay chính sách mang tính h ớng đạo.
Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp nh sau:
Chính sách nhằm ảnh hởng tới cơ cấu của một nớc. Tức là một chính
sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nớc ngoài nh : ngoại thơng, đầu t
trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính sách điều
tiết và sử dụng nguồn lực.
Các chính sách sửa chữa các thất bại của thị trờng do tính không hoàn
thiện của hoạt động kỹ thuật và thông tin. Tức là một chính sách khắc phục các
dạng thất bại của thị trờng bằng cách cung cấp thông tin chính xác, sử dụng các
công cụ chính qua trợ cấp, thuế và chỉ đạo việc phân phối nguồn lực theo hớng
mông muốn.
Chính sách can thiệp về mặt hành chính vào tổ chức sản xuất theo từng
ngành nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế. Cụ thẻ là chính sách nhằm trực tiếp can
thiệp vào cơ cấu cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong các nhành sản xuất
thông qua hình thức liên minh giảm giá, liên minh đầu t thiết bị,
Chính sách đợc hoạch định theo yêu cầu chính trị là củ yếu chứ không
phải mang tính kinh tế. Tức là chính sách bao gồm quy chế tự chủ xuất khẩu
hay hiệp định đa phơng nhằm xử lý mâu thuẫn ngoại thơng.
6. Khái quát về chính sách công nghiệp của Việt Nam.
Nh đã phân téch trong các phần ở trên, chính sách công nghiệp là một
khái niệm rộng, phức tạp và vòn tơng đối mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu
trên thế giới, nhất là trên phơng diện lý thuyết.
Trong bối cảnh nh vậy :
a. Có nên tồn tại hay không một chính sách công nghiệp của Việt Nam.
b. Nếu là có tồn tại thì chính sách công nghiệp Việt Nam có thể đợc mô tả nh
thế nào?
c. ảnh hởng của nó đến tăng trởng kinh tế Việt Nam (nhất là trong những năm
đổi mới) nh thế nào.
Trong phần này, em sẽ đi sâu tìm hiểu câu hỏi (b) trên phong diện lý
thuyết, các vấn đề còn lại là nội dung nghiên cứu của Chơng II và III- Phần thực
trạng và các giải pháp.
Thuật ngữ chính sách công nghiệp cho đến nay vẫn rất ít xuất hiện
trên các pgơng tiên thông tin đại chúng của Việt Nam, cũng nh trong các công
trình nghiên cứu của các tác giả nớc. Trong khi đó, một thuật ngữ khác hay đợc
sử dụng có liên quan đến nội dung chính sách công nghiệp là thuật ngữ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Xét về bản chất, thuật ngữ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
bao hàm hệ thống các mục tiêu, các định hớng và hệ thống các chính sách nhằm
chuyển Việt Nam từ một nớc nông nghiệp thành một nớc công nghiệp. Trong hệ
thống các mục tiêu và định hớng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
Nam, vấn đề phát triển các ngành, các khu vực, các loại hình quy mô và các
thành phần kinh tế chiếm vị trí quan trọng, ở đây, những vấn đề chung đợc đề
cập thờng là:
- Cơ cấu ngành kinh tế : công nghiệp nông nghiệp- dịch vụ , ở đây,
các cơ cấu đợc chú ý trong thiết kế chính sách là : cơ cấu công nghiệp khai
thác- công nghiệp chế biến- công nghiệp điện nớc; cơ cấu trồng trọt và chăn
nuôi, cơ cấu các loại hình dịch vụ .
- Cơ cấu gữa đo thị và nông thôn
- Cơ cấu giữa quy mô doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh
nghiệp nhỏ.
-Cơ cấu giữa doanh nghiệp Nhà nớc, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Trên cơ sở các mục tiêu và định hớng phát triển công nghiệp nh vậy, phải
thiết lập hệ thống các chính sách đợc sử dụng để hỗ trợ cho phát triển công
nghiệp, trong đó phải kể đến một số chính sách chính nh : chính sách vốn,
chính sách nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học và chính sách thuế
quan.
Nh vậy, chính sách công nghiệp của Việt Nam có thể đợc hiể là tập hợp
của các định hớng, chính sách, công cụ điều chỉnh đối với một số ngành công
nghiệp để đạt đợc mục tiêu đa Việt Nam từ một nớc nông nghiệp sang một nớc
công nghiệp vào năm 2020. Nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay
đổi qua mỗi thòi kỳ nhng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động
cuả các khu vực công nghiệp theo chiều hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế-
xã hội của đất nớc.
Nhiệm vụ này đợc thể hiện trên hai mặt sau :
Một là, tạo điều kiện thuân lợi cho các doanh nghiệp trong nớc mở rông thị tr-
ờng ra nớc ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu
dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nền kinh
tế trong nớc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét