việc quản lý chất thải bệnh viện cần phải đặt lên hàng đầu tại mỗi cơ sở đặc biệt
là tại các bệnh viện cấp huyện bởi những bệnh viện này thường không hoặc ít
quan tâm đến việc quản lý chất thải do cơ sở mình thải ra mặc dù khối lượng
chất thải tạo ra cũng không phải ít. Xuất phát từ thực tế đó tôi đã chọn “Thực
trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy
mô cấp huyện tại Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu trong chuyên đề lần này
của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
- Phân tích thực trạng quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp
huyện tại Quảng Ninh
- Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại Quảng Ninh
- Kiến nghị
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp phân tích dựa trên những thông tin sẵn có hoặc đã có
nghiên cứu trước đó.
- Phương pháp đánh giá tổng hợp.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các vấn đề chất thải bệnh viện quy mô
tuyến huyện tại Quảng Ninh.
- Về thời gian. Đề tài sử dụng các hệ thống số liệu thu thập trong những
năm gần đây.
5. Kết cấu của chuyên đề
Chương I: Tổng quan về chất thải y tế và quản lý chất thải y tế
Chương II: Thực trạng quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại
Quảng Ninh.
Chương III: Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện
quy mô tuyến huyện tại Quảng Ninh
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ
I. Chất thải và quản lý chất thải
1. Chất thải
1.1 Khái niệm về chât thải
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất thải. Chất thải là mọi thứ mà
con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra
môi trường. Thiên nhiên, cỏ cây, các loài động vật thải ra môi trường từ các loại
lá rụng đến xác chết của động vật. Con người cùng với hoạt động sản xuất của
mình đã thải ra môi trường vô số các cặn bã và các loại chất thải khác nhau. Sự
phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại cùng với quá trình đô thị hoá
trên phạm vi rộng khiến cho việc khai thác và sử dụng tài nguyên của con người
cũng cũng ngày một lớn hơn do vậy làm tăng lượng chất thải thải ra môi trường.
Bên cạnh đó sự tiến bộ về khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều vật liệu mới như
đồ nhựa, các loại vật liệu dẻo… kéo theo hàng loạt chất thải mới khó phân huỷ.
1. 2 Nguồn gốc phát sinh và thành phần của chất thải
Tùy theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta có thể chia
chất thải ra thành nhiều loại. Theo nguồn gốc phát sinh chất thải có thể phân ra:
chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải, chất thải có nguồn gốc
khác trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp và dịch vụ. Theo tính chất và mức độ
nguy hại có thể phân thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. Theo
tính chất vật lý của chất thải có thể phân thành: chất thải rắn (CTR), chất thải
lỏng (nước), chất thải khí.
1.2.1 Chất thải rắn
Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) định nghiã chất thải rắn
(CTR) bao gồm bất kì dạng vật chất nào bị loại bỏ, những vật chất có chủ định
tái sử dụng, tái sinh, tái chế, cặn bùn và các chất thải nguy hại nhưng không tính
đến chất thải phóng xạ và các chất thải phát sinh trong việc khai thác quặng mỏ.
chất được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau có thể từ hoạt động sinh hoạt,
thương mại, dịch vụ, xây dựng, vận tải hàng ngày, khai thác tài nguyên thiên
nhiên… với những thành phần đa dạng khác nhau trong đó có những thành phần
đặc trưng là vô cơ, hữu cơ, dễ chấy, khó cháy, dễ phân huỷ sinh học, khó phân
huỷ sinh học… Tốc độ phát sinh chất thải rắn phụ thuộc vào từng nguồn phát
sinh, sự chênh lệch theo điều kiện cụ thể của từng vùng, địa phươg, khu vực
(như phong tục tập quán, điều kiện khí hậu, mức sống, cách sống…), sự tiến bộ
của khoa học công nghệ. Điều này có thể thấy được qua báo cáo diễn biến môi
trường Việt Nam năm 2004 lượng CTR bình quân ở các đô thị là 0.7
kg/người/ngày và ở vùng nông thôn là 0.3 kg/người/ngày. CTR bao gồm chất
thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải nông nghiệp trong đó chất thải
công nghiệp chiếm khối lượng lớn nhất đặc biệt là tại các khu công nghiệp. Theo
số liệu khảo sát năm 2003 thì 50% chất thải công nghiệp được sinh ra ở vùng
Đông Nam Bộ trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 31% tổng lượng của cả
nước, tiếp đó là vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ 30%. Trong thành phần
CTR có một phần CTR nguy hại mặc dù tỷ trọng không lớn nhưng tính nguy hại
đối sức khore người dân và môi trường là không nhỏ. Qúa trình công nghiệp
hoá-hiện đại hoá (CNH-HĐH) và đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh lên lượng
CTR sinh ra ngày càng nhiều.
1.2.2 Chất thải lỏng
Chất thải lỏng là chất thải ở dạng lỏng được sinh ra từ các hoạt động sản
xuất, dịch vụ, sinh hoạt…Có thể chia nước thải ra thành hai loại nước thải sinh
hoạt và nước thải công nghiệp. Nước thải sinh hoạt chủ yếu chứa các chất hữu
cơ mà có thể bị phân huỷ bới các vi sinh vật bên cạnh đó cũng chứa một lượng
nhỏ chất vô cơ hoà tan. Nuớc thải công ghiệp chủ yếu chứa các chất vô cơ khó
phân huỷ bở các vi sinh vật. Nguồn nước thải đang bị ô nhiễm nặng nề nhất là ở
vùng hạ lưu do chất thải từ các khu đô thị, các cơ sở sản xuất công nghiệp Hiện
tại nước thải sinh hoạt của nhiều đô thị và vùng nông thôn không được xử lý mà
đổ thẳng ra các sông, rạch. Với 76 khu công nghiệp hiện có và hơn 1000 bệnh
viện trong cả nước với hàng triệu m
3
khối nước mỗi ngày gần như chưa được xử
lý trước khi thải vào môi trường đang là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn
nước nghiêm trọng. Ỏ các lưu vực sông Đồng Nai- Sài Gòn, sông Cầu, sông
Nhuệ- Sông Đáy, nơi có mật độ công nghiệp lớn đạng bị ô nhiễm lớn . Vùng hạ
lưu sông Đông Nai, ô nhiễm vi sinh và dầu mỡ đang tăng cùng ô nhiễm kim loại
nặng, phenol. Sông Sài Gòn mức độ ô nhiễm nghiêm trọng hơn, ô nhiễm các
chất hưu cơ, dầu mỡ, vi sinh và axit hoá do nước phèn.
1.2.3 Chất thải khí
Chất thải khí là chất thải ở dạng khí được thải ra từ các hoạt động sản
xuất, dịch vụ, sinh hoạt. Mức độ tiêu thụ năng lượng cao, sự phát triển của các
ngành công nghiệp khai thác, hoá chất, luyện kim, sự phát triển của giao thông
đường bộ và đường hàng không, sự thiêu đốt chất thải sinh hoạt, sự tích luỹ chất
thải công nghiệp… đang gây ra hàng loạt vấn đề liên quan đến không khí. Sự ô
nhiễm không khí (ÔNKK) chủ yếu ở đô thị do sự tập trung các ngành công
nghiệp, mật độ dân số cao và sự phát triển của giao thông vận tải. Sự gia tăng
của các phương tiện giao thông vận trên đường phố hang năm khoảng 15-18%
đã gây ra ô nhiễm chì (Pb), ô nhiễm khí thải CO, NO
2
, SO
2
. Để giảm ô nhiễm
chì trong không khí do chất thải ô tô, xe máy từ ngày 1 tháng 7 năm 2001 nước
ta đã chuyển sang sử dụng xăng không pha chì nhưng do lượng xe tăng lên môi
trường không khí bị ô nhiễm là điều khó tránh khỏi. Ngoài ra còn phải kể đến sự
ÔNKK tại các khu, cụm công nghiệp cũ, máy móc lạc hậu như khu công nghiệp
Thượng Đình, Minh Khai, Mai Động (Hà Nội), Biên Hoà (Đông Nai), khu công
nghiệp gang thép (Thái Nguyên), khu công nghiệp Việt Trì . Nhiều đô thị, khu
dân cư nằm sát trục đường giao thông, khu công nghiệp, làng nghề, nồng độ ô
nhiễm bụi, ô nhiễm tiếng ồn đã vựt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1.5 đến 3 lần có
nơi từ 5 đến 10 lần.
2. Quản lý chất thải
2.1 Quản lý chất thải rắn
2.1.1 Thu gom
Thu gom CTR bao gồm việc vận chuyển CTR từ chỗ lưu trữ tới chỗ chôn
lấp. Hiện nay có 4 hệ thống thu gom chất thải chính: thu gom công cộng, thu
gom theo khối, thu gom bên lề đường, thu gom theo từng hộ gia đình. Ở nước ta
thu gom bên lề đường và thu gom đến từng hộ gia đình được phát triển. Tuỳ theo
điều kiện cụ thể của từng khu vực mà phương tiện, tần suất thu gom CTR có sự
khác nhau. Tại các khu đô thị chất thải được thu gom hàng ngày và chở đến các
bãi rác chôn lấp chung còn tại các vùng nông thôn nơi có hệ thống thu gom thì
chất thải sẽ được thu từ 1-2 lần/tuần. Tại các thành phố lớn tỷ lệ CTR được thu
gom là 40-67% tại các đô thị nhỏ tỷ lệ chỉ là 20-40% như vậy tỷ lệ chung của
toàn quốc là 53.4%
2.1.2 Vận chuyển chất thải rắn
Công nghệ vận chuyển CTR ở nước ta vẫn còn ở trình độ thấp chủ yếu
thực hiện bằng thủ công và các phương tiện chuyên dụng thô sơ
- Rác đường, rác rừ các công trình công cộng được thu gom theo phương
thức thủ công, công nhân dung chổi quét sau đó xúc lên các xe đẩy tay để đưa
rác ra các điểm cẩu.
- Rác từ các hộ gia đình được thu gom bằng các xe đẩy tay và cũng được
tập trung về các điểm trung chuyển.
- CTR từ các bệnh viện, trung tâm buôn bán và khu công nghiệp được thu
gom và vận chuyển theo phương thức ký hợp đồng với từng đơn vị.
2.1.3 Xử lý CTR
Hầu hết CTR được chôn lấp tại các bãi chôn lấp tự nhiên, tỷ lệ thu hồi các
chất có khả năng tái chế và tái sử dụng bởi những người bới rác thựuc hiện
khoảng 13-20%. Chỉ có 1.5-5% chất thải sinh hoạt được thu hồi chuyển hoá
thành phân vi sinh và chất mùn. Các bãi chôn lấp CTR nhìn chung là không hợp
vệ sinh, lộ thiên là chính, không được kiểm soát, nặng mùi hôi thối, nước từ các
bãi rác làm ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất tại khu vực xung quanh.
2. 2 Quản lý chất thải lỏng
Để xử lý nước thải sinh hoạt cần phải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 xử
lý sơ bộ ở giai đoạn này sẽ loại bỏ được các tạp chất rắn có kích thước tương đối
lơn; giai đoạn 2 loại bỏ các tạp chất hữu cơ có mặt trong nước ở hàm lượng lớn
bằng cách dùng quá trình oxy hóa sinh hóa sau giai đoạn này nước thải sinh hoạt
có thể thải vào môi trường; giai đoạn 3 xử lý để nước đạt tiêu chuẩn của nước
uống. Xử lý nước thải công nghiệp khó hơn nhiều so với việc xử lý nước thải
sinh hoạt bởi trong thành phần của nước có chứa nhiều chất ô nhiễm khác nhau
và nó có nhiều chất độc hại có thể làm giảm quá trình phân hủy sinh học trong
các nguồn nước tự nhiên. Nhìn chung việc xử lý nước thải công nghiệp cũng
thực hiện gần giống như nứoc thải thông thường nhưng có điều là chúng cần
phải làm sạch trong từng nhà máy trước khi thải ra môi trường xung quanh bởi
mỗi nhà máy khác nhau thì sự ô nhiễm nước thải cũng khác nhau.
2.3 Quản lý khí thải khí
Để có thể quản lý được chất thải khện pháp tôt nhất là lên tiến hành kiểm
soát ngay tại nguồn thải bởi lúc này các chất ô nhiễm chưa bị phát tán rộng ra
môi trường bên ngoài.
* Pha loãng tức là làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm bằng cách sử dụng
các ống thải cao bởi trên thực tế môi trường không khí có khả năng pha loãng,
phân tán và tiêu huỷ một lượng nhất định các chất ÔNKK. Đây là cách dễ thực
hiện lại không tốn nhiều chi phí đầu tư.
* Kiểm soát ô nhiễm ngay tại nguồn
- Bố trí hợp lý tức là trong quy hoạch ban đầu phải xây dựng các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao ở xa
khu vực dân cư sinh sống, phải nằm ở cuối hướng gió chủ đạo trong năm…
- Cách ly nguồn (tạm ngừng hoạt động) khi nồng độ các chất ÔNKK do
nguồn gây ra trở lên nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng.
- Xử dụng các nguyên, nhiên vật liệu ít gây ô nhiễm môi trường và ít có
tính độc hại hơn.
- Thay đổi công nghệ đang sử dụng, phải thường xuyên bảo dưỡng các
loại thiết bị, máy móc.
- Vận hành theo đúng quy trình kỹ thuật và sử dụng các thíêt bị kiểm soát,
xử lý ÔNKK.
II. Chất thải y tế
1. Tổng quan về chất thải y tế
1.1 Khái niệm
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các
hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào
tạo. Chất thải bệnh viện có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí. Theo quy chế quản
lý CTYT ban hành năm 2007 có thể hiểu một cách tổng quát chất thải y tế là vật
chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế
nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ,
dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không
được tiêu hủy hoàn toàn.
Chất thải y tế nằm trong danh mục A của danh mục các chất thải nguy hại
và có mã số A4020- Y1. Trong toàn bộ lượng CTYT phát sinh ra từ hệ thống các
bệnh viện thì khoảng 75-90% là CTYT thông thường còn từ 10-25% là
CTYTNH. Về lý thuyết chất thải sinh hoạt của bệnh viện là không nguy hại
nhưng trên thực tế chất thải sinh hoạt của bệnh viện có thể có các chất bài tiết
như phân, chất nôn của bệnh nhân có chứa tác nhân gây bệnh thì khi đó chất thải
sinh hoạt này sẽ là nguy hại và chúng cần được xử lý giống như các loại
CTYTNH khác tức là sẽ làm tăng chi phí xử lý chất thải. Do vậy việc quản lý
CTYT là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng đối với tất cả các cấp, các
ngành và toàn xã hội.
1.2 Phân loại
Hàng ngày trong hoạt động chữa trị cho bệnh nhân các bệnh viện, cơ sở y
tế thải ra một lượng khá lớn chất thải. Tùy theo quan điểm khác nhau mà người
ta có thể chia CTYT ra thành những loại khác nhau. Theo nguồn gốc phát sinh
CTYT được chia thành 3 loại: chất thải sinh ra từ các hoạt động chuyên môn của
bệnh viện, chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân và chất thải sinh hoạt chung. Căn cứ
vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại chất thải trong
các cơ sở y tế (CSYT) được phân hành 5 nhóm:
1.2.1 Chất thải lây nhiễm. Trong chất thải lâm sàng chia thành 4 loại:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sặc nhịn của dây
truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ,cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật
sắc nhọn khác sử dụng trong hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như:
+ Formaldehyde
+ Các chất quang hóa học như:
Hydroquinone
Kali hydroxide
Bạc glutaraldehyde
+ Các dung môi
Các hợp chất halogen: methylene chloride, chorofom, freons, trichloro
ethylene và 1,1,1-trichloromethane
Các thuốc mê bốc hơi: halothane (Fluothane), enflurane (Ethrane),
isoflurane (Forane)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét