Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Khác với TSCĐ, TSLĐ luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản
phẩm. Đặc điểm của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh là luân chuyển toàn
bộ giá trị ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất, nó
đợc coi là điều kiện vật chất không thể thiếu đợc của quá trình sản xuất. Đặc điểm
này đã quyết định sự vận động của VLĐ - hình thái giá trị của TSLĐ.
Khởi đầu của vòng tuần hoàn, doanh nghiệp dùng tiền để mua hàng hoá,
nguyên vật liệu nhằm dự trữ sản xuất kinh doanh. Lúc này VLĐ chuyển từ hình
thái tiền tệ sang hình thái vật t hàng hoá (T - H).
Giai đoạn II: Là giai đoạn sản xuất: Hàng hoá, nguyên vật liệu trải qua quá
trình bảo quản sơ chế đợc đa vào dây chuyền công nghệ. Trong qúa trình này, vốn
chuyển từ hình thái hàng hoá, vật t dự trữ sang hình thái sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm (H - SX - H').
Giai đoạn III: Doanh nghiệp bán hàng thu đợc tiền. Vốn đợc chuyển từ
hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ tức là trở về hình thái ban đầu (H' -
T').
Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thờng xuyên liên tục nên
cùng một thời điểm VLĐ thờng tồn tại dới nhiều hình thái khác nhau trong lĩnh
vực sản xuất và lu thông, các giai đoạn vận động của vốn đợc đan xen vào nhau và
các chu kỳ sản xuất đợc lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ sản xuất VLĐ hoàn thành 1
vòng tuần hoàn.
Từ đặc điểm về phơng thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLĐ đã
xem xét ở trên, đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và sử dụng VLĐ cần giải quyết
một số vấn đề sau:
Phải xác định đợc số VLĐ thờng xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý
vốn bởi vì việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết tối thiểu cho SXKD sẽ bảo đảm đủ
VLĐ cho quá trình này đợc liên tục, tránh hiện tợng ứ đọng vốn.
Cần tổ chức khai thác các nguồn tài trợ lu động, đảm bảo đầy đủ kịp thời
cho SXKD. Đồng thời phải có các giải pháp thích ứng nhằm quản lý và sử dụng
VLĐ một cách hiệu quả, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
3. Nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng muốn tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Để quản lí, sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
có hiệu quả, các doang nghiệp cần phải phân loại nguồn vốn sản xuất kinh doanh,
tuỳ theo từng tiêu thức nhất định mà nguồn vốn sản xuất kinh doanh đợc chia
thành các loại khác nhau, cụ thể:
3.1. Căn cứ vào quyền sở hữu vốn sản xuất kinh doanh: VKD đợc chia
làm 2 loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu của
doanh nghiệp bao gồm vốn đIều lệ do chủ sở hữu đầu t, vốn tự bổ sung từ lợi
nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nớc tài trợ (nếu có).
Nợ phải trả: Là số vốn doanh nghiệp đợc sử dụng tạm thời trong một thời
gian nhất định bao gồm những khoản vốn phát sinh một cách tự động và các
khoản nợ phát sinh trong qúa trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm
phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế nh: Nợ tiền vay ngân hàng và các tổ chức
kinh tế khác, nợ phải trả cho ngời bán, phải trả công nhân viên, phải nộp cho nhà
nớc
- Khoản phải trả nhà cung cấp, phải trả công nhân viên,số nộp ngân sách là
số vốn mà doang nghiệp chiếm dụng đợc, đặc điểm của loại vốn này là chi phí sử
dụng bằng không nên đòn bẩy tài chính luôn ở trạng thái dơng, doanh nghiệp cần
huy động cao độ trong thời gian đợc phép vào đáp ứng nhu cầu vốn lu động trên
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn.
- Khoản vay ngân hàng: đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ sung số
vốn không ngừng tăng lên của doang nghiệp, tuy nhiên sử dụng loại này cần phải
xét đến tính hợp lý của hệ số nợ trong doanh nghiệp.
Sự kết hợp giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả tạo nên kết cấu chính
của doanh nghiệp, doanh nghiệp thành công hay thất bại còn phụ thuộc vào ngành
mà doanh nghiệp đang hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
3.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
Có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành 2 loại: Nguồn vốn thờng
xuyên và nguồn vốn tạm thời.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Nguồn vốn thờng xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà
doanh nghiệp có thể sử dụng bao gồm vốn chủ sở hữu và các tài khoản vay dài
hạn. Nguồn vốn này đợc dành cho việc đầu t mua sắm TSCĐ mới và một phần
TSLĐ thờng xuyên tối thiểu cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dới 1 năm) mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thờng
phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này
bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ
ngắn hạn khác
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho ngời quản lý xem xét huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp
thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài
chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tơng lai trên cơ
sở xác định quy mô về số lợng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích
hợp cho từng nguồn vốn đó,tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.
3.3. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn:
Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại: Nguồn vốn bên trong
và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đợc từ
kết quả hoạt động của doanh nghiệp của doanh nghiệp bao gồm: Tiền khấu hao
TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng dự trữ, các khoản thu từ nhợng bán,
thanh lý TSCĐ.
+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có
thể huy động đợc từ bên ngoài để đáp ứng đợc nhu cầu về tiền vốn cho SXKD của
mình. Nguồn vốn này bao gồm: Vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế tín
dụng khác, phát hành trái phiếu, nợ ngời cung cấp và các khoản nợ khác
Cách phân loại này chủ yếu giúp cho ngời quản lý xem xét nguồn vốn huy
động cho doanh nghiệp. Cần thấy rằng nguồn vốn bên trong có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cần huy động triệt để, một mặt
nó giúp cho doanh nghiệp phát huy đợc tính chủ động trong việc sử dụng vốn. Mặt
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
khác, Việc doanh nghiệp huy động và sử dụng nguồn vốn bên trong thì doanh
nghiệp không phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn, làm gia tăng mức độ độc lập
về mặt tài chính của doanh nghiệp.
Còn nếu nguồn vốn bên trong đã sử dụng hết nhng vẫn cha đáp ứng đủ nhu
cầu vốn sản xuất, khi ấy doanh nghiệp cần tìm đến nguồn tài trợ từ bên ngoài.
Nguồn vốn vay cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì doanh nghiệp chỉ cần góp
một lợng vốn nhất định nhng lại đợc sử dụng một lợng tài sản lớn. Đặc biệt, trong
điều kiện kinh doanh có lãi cao hơn lãi vay nó sẽ làm tăng nhanh doanh lợi vốn
chủ sở hữu. Tuy nhiên, với cách huy động nguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp
sẽ trả lợi tức tiền vay và phải hoàn trả tiền vay đúng thời hạn. Nếu doanh nghiệp
sử dụng vốn vay kém hiệu quả và bối cảnh của nền kinh tế thay đổi bất lợi cho
doanh nghiệp thì nợ vay phải trả thành một gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu
rủi ro lớn.
Qua việc nghiên các nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh cho thấy
vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là: Một mặt phải tăng cờng quản khai
thác các nguồn vốn một cách hợp lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh đạt hiệu
quả, mặt khác phải chủ động khai thác các nguồn vốn một cách hợp lý đảm bảo
nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh đầy đủ với chi phí thấp nhất.
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng.
1. Hiệu quả sử dụng VKD và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
1.1. Hiệu quả sử dung VKD.
Mục đích duy nhất của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng là sản
xuất kinh doanh đem lại hiệu quả cao nhất, lấy hiệu quả kinh doanh làm thớc đo
cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả là lợi ích kinh tế đạt đợc sau khi
đã bù đắp hết các khoản chi phí bỏ ra cho hoạt động kinh doanh. Nh vậy hiệu quả
là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu đợc từ hoạt
động kinh doanh với chi phí bỏ ra để thu đợc kết quả đó. Cũng giống nh các chỉ
tiêu khác, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Đứng từ góc độ kinh tế thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là mục
tiêu lợi nhuận tối đa. Điều kiện doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh
tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trờng là phải sử dụng VKD sao cho đạt đợc
hiệu qủa cao nhất.
Theo cách hiểu đơn giản thì sử dụng VKD có hiệu quả có nghĩa là với một
lợng vốn nhất định bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ mang lại lợi nhuận
cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng sinh sôi nảy nở hay nói cách khác
nâng cao hiệu quả sử dụng VKD là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, nó đợc hiểu trên 2 khía cạnh.
Một là với số vốn hiện có, có thể sản xuất ra số lợng sản phẩm lớn hơn với
chất lợng tốt hơn, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hai là, đầu t thêm vốn một cách thích hợp nhằm mở rộng quy mô sản xuất
để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn
tốc độ tăng của vốn.
Trên thực tế các chỉ tiêu: lợi nhuận, doanh thu và chi phí có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Với mức doanh thu nhất định, chi phí càng nhỏ lợi nhuận càng cao. Nh vậy,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là đi tìm biện pháp làm sao để chi phí về vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh ít nhất nhng hiệu quả lợi nhuận, doanh thu,
giá trị sản lợng ở mức cao nhất. Thực chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng đợc xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt đợc (lợi nhuận) với các chi
phí bỏ ra, trong các chi phí đó thì chi phí về vốn là chủ yếu. Hiệu quả sử dụng vốn
là chỉ tiêu biểu hiện một mặt của hiệu quả kinh doanh.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VKD vận động liên tục và có những
đặc điểm rất khác nhau. Việc đồng vốn đợc bảo toàn và phát triển hay không là
vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, tổ chức sử dụng vốn có hiệu
quả hiện nay đang là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết. Nói cách khác, việc
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
tăng cờng công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trong các doanh
nghiệp xuất phát từ một số lý do sau:
Thứ nhất: Xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Bất kỳ 1 doanh
nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hớng tới mục tiêu này. Lợi
nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
để đạt đợc thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi
nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp liên quan đến tất cả các mặt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở
rộng. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay doanh nghiệp có tồn
tại và phát triển đợc hay không thì điều kiện quyết định là doanh nghiệp có tạo ra
đợc lợi nhuận hay không?
Để đạt đợc mục tiêu đó doanh nghiệp phải tự trang trải mọi khoản chi phí
và sản xuất nh thế nào để đảm bảo kinh doanh có lãi, điều này đòi hỏi doanh
nghiệp phải tổ chức sử dụng vốn một cách có hiệu quả, phải quản lý đồng vốn một
cách chặt chẽ nhng vẫn đảm bảo đầu t phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh.
Nếu sử dụng đồng vốn không có hiệu quả, không bảo toàn đợc vốn, không làm
cho nó sinh lời thì doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và dẫn đến nguy cơ phá sản.
Vì thế, lợi nhuận đợc coi là mục tiêu kinh tế quan trọng của mọi hoạt động kinh tế
của doanh nghiệp. Việc thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng
đảm bảo cho tình hình tổ chức của doanh nghiệp đợc vững chắc.
Thứ hai: Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của vốn đối với quá trình sản
xuất kinh doanh: trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp luôn cần thêm
một lợng vốn tiền tệ để tăng thêm TSCĐ và TSLĐ ứng với sự tăng trởng của quy
mô sản xuất kinh doanh. Sự tíên bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ đã cho ra đời
ngày càng nhiều máy móc thiết bị hiện đại, cho năng suất cao hơn, ít tiêu hao
nguyên vật liệu hơn, sản phẩm sản xuất cạnh tranh cao hơn, đòi hỏi doanh nghiệp
phải có lợng vốn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này. Bởi nó không chỉ có ý
giúp doanh nghiệp chủ động hơn cho sản xuất kinh doanh. Muốn đạt đợc điều này
thì các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Thứ ba: Xuất phát từ cơ chế quản lý của Nhà nớc.
Trớc đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, các doanh nghiệp
quốc doanh đều đợc ngân sách tài trợ vốn, nếu thiếu vốn sẽ đợc ngân hàng cho vay
với lãi suất u đãi. Vì thế mà việc thu hút vốn cung cấp cho quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở nên thụ động. Hơn nữa trong quá trình sử
dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp Nhà nớc rất ít hay
thậm chí không quan tâm đến hiệu quả của đồng vốn đa vào hoạt động. Sử dụng
tốt hay không tốt đã có Nhà nớc bao tiêu, kinh doanh thua lỗ đã có Nhà nớc bù
đắp trang trải khoản vốn thiếu hụt. Do đó nhận thức về vai trò của VKD có phần bị
xem nhẹ, hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nớc rất thấp.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, với nhiều thành phần kinh tế cùng
huy động, các doanh nghiệp nhà nớc chỉ là một bộ phận song song tồn tại với các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Để tồn tại và phát triển đợc trong
cơ chế mới tất yếu đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nớc phải năng động nắm bắt nhu
cầu thị trờng. Trong điều kiện đó, việc đầu t phát triển những ngành nghề mới
nhằm thu lợi nhuận cao đã trở thành động lực và là một đòi hỏi với tất cả các
doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Thứ t : Từ thực tế các doanh nghiệp hiện nay:
Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng đã không sử
dụng có hiệu quả đồng vốn của mình, trong đó có các doanh nghiệp nhà nớc. Điều
này có nhiều nguyên nhân: Từ cơ chế quản lý của nhà nớc cha tạo điều kiện và
môi trờng hoạt động thuận lợi cho các doanh nghiệp này từ khâu cấp phát vốn, phê
duyệt, thanh tra, kiểm tra vốn Điều đó tạo không ít khó khăn cho doanh nghiệp,
nhất là doanh nghiệp hiện nay đang trong tình trạng thiếu vốn nên việc sử dụng
vốn phải hợp lý, tiết kiệm, tăng cờng công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp mình.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu trong điều kiện nền
kinh tế thị trờng đầy cạnh tranh khốc liệt, nó có một ý nghĩa hết sức quan trọng
trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự sống còn
và tơng lai phát triển của mỗi doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
2. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của doanh
nghiệp:
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải tính
toán phân tích các chỉ tiêu tài chính. Việc phân tích đánh giá các chỉ tiêu tài chính
giúp các nhà doanh nghiệp thấy đợc tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình từ đó biết đợc những thành tựu đạt đợc và những vấn đề còn tồn
tại, giúp cho nhà quản lý có quyết định đúng đắn trong tơng lai.
Để đánh giá hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngời ta có
thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
2.1. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để đánh giá tính hiệu quả và sử dụng VCĐ của doanh nghiệp ngời ta thờng
sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích.
* Các chỉ tiêu tổng hợp:
kỳtrong nâqu nhìb VCĐ
thuần thu Doanh
= VCĐ dụng sửsuất Hiệu
Trong đó:
- Doanh thu thuần = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm các khoản giảm trừ
doanh thu.
- VCĐ bình quân trong kỳ là số bình quân giữa VCĐ đầu kỳ và cuối kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ bình quân trong kỳ tham gia sản
xuất thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ.
thuần thu Doanh
kỳtrong nâqu nhìb VCĐ
= VCĐ lượng Hàm
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao
nhiêu đồng VCĐ.
kỳtrong nâqu nhìb VKD
thuế) thuế(sau trước nhuận Lợi
= VCĐ dụng sửquả Hiệu
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ bình quân trong kỳ tham gia sản xuất
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trớc thuế ( sau thuế).
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
* Các chỉ tiêu phân tích phản ánh từng mặt của việc sử dụng VCĐ trong kỳ.
TSCĐ giá nNguyê
giá ánhđ iểmđ thời ếnđ kếluỹ hao khấutiền Số
= TSCĐ mòn hao số Hệ
Chỉ tiêu này phản ánh một mặt số VCĐ đã đợc thu hồi, một mặt phản ánh
hiện trạng năng lực vốn và năng lực sản xuất của đơn vị tại thời điểm kiểm tra.
kỳtrong nâqu nhìb TSCĐ giá nNguyê
thuần thu Doanh
= TSCĐ dụng sửsuất Hiệu
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ tham gia sản xuất trong kỳ tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
xuất nsả tiếp trực nânh công lượng Số
kỳtrong nâqu nhìb TSCĐ giá nNguyê
= TSCĐ bị trang số Hệ
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân
trực tiếp sản xuất.
TDHĐ & TSCĐ
VCSH
= TSCĐ trợ tàisuất Tỷ
Chỉ tiêu này cho biêt số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dùng để trang bị
TSCĐ là bao nhiêu. Tỷ suất này lớn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng tài
chính vững vàng và lành mạnh. Khi tỷ suất nhỏ hơn 1 thì một bộ phận của TSCĐ
đợc tài trợ bằng vốn vay và đặc biệt mạo hiểm khi vốn vay đó là ngắn hạn.
- Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa nguyên
giá từng loại TSCĐ trong tổng nguyên giá TSCĐ của doanh nghiệp tại thời điểm
đánh giá. Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá đợc mức độ hợp lý trong cơ cấu
TSCĐ đợc trang bị tại doanh nghiệp.
2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.
* Tốc độ luân chuyển VLĐ: đợc thể hiện qua hai chỉ tiêu sau:
+ Vòng quay VLĐ:
kỳtrong nâqu nhìb VLĐ
kỳtrong VLĐ chuyển nâlu mức Tổng
= VLĐ quay Vòng
Trong đó:
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ = doanh thu thuần trong kỳ các
khoản giảm trừ doanh thu.
VLĐ bình quân trong kỳ đợc tính theo phơng pháp bình quân số VLĐ trong
tng quý hoặc tháng. Công thức tính nh sau:
4
++ +
=
q4q3q2q1
LĐ
VVVV
V
Hay:
4
+++ +
=
đ
2
V
VVV
V
V
cq4
cq3cq2cq1
q1
LĐ
2
Trong đó:
+ V
LĐ
: Vốn lu động bình quân trong năm
+
q1
V
q2
V
q3
V
q4
V
: Vốn lu động bình quân các quý 1,2,3,4
+ V
đq1
: Vốn lu động đầu quý 1
+ V
cq1
, V
cq2,
V
cq3
, V
cq4
: Vốn lu động cuối quý 1,2,3,4
Chỉ tiêu vòng quay VLĐ phản ánh trong kỳ VLĐ quay đợc bao nhiêu vòng.
Tăng vòng quay VLĐ có ý nghĩa rất lớn, nó giúp doanh nghiệp giảm bớt lợng
VLĐ cần thiết trong sản xuất kinh doanh từ đó giảm đợc vốn vay hoặc mở rộng
quy mô kinh doanh trên cơ sở vốn hiện có làm cho hiệu quả sử dụng VLĐ đợc
nâng cao.
+ Kỳ luân chuyển VLĐ:
VLĐ quay vòng Số
ngày) 360là (thường kỳtrong ngày Số
= VLĐ chuyển nâlu Kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh sô ngày cần thiết để VLĐ quay đợc một vòng.
* Hàm lợng VLĐ:
thuần thu Doanh
kỳtrong nâqu nhìb VLĐ
= VLĐ lượng Hàm
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu
đồng VLĐ bình quân.
SV: Nguyễn Bá Sang Lớp K39 - 11.01
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét