Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Giầy Thượng Đình

Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng I
Lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp công nghiệp
I. Chi phí sản xuất
1. Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có đầy đủ các yếu tố:
lao động, đối tợng lao động và t liệu lao động. Sự tham gia của các yếu tố vào quá
trình sản xuất (các yếu tố đầu vào) hình thành các khoản chi phí tơng ứng.
Giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ gồm 3 bộ phận C, V, m.
C: là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, nh : khấu hao tài sản cố định, chi phí
nguyên vật liệu Bộ phận này gọi là lao động quá khứ (lao động vật hoá).
V: là chi phí về tiền lơng, tiền công phải trả cho ngời lao động tham gia vào
quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Bộ phận này gọi
là lao động sống.
m: là giá trị lao động sống tạo ra trong quá trình sản xuất các sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ.
ở góc độ doanh nghiệp, để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp phải bỏ
ra 2 bộ phận chi phí là C và V.
Nh vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ kinh doanh nhất định
(tháng, quý, năm ).
Về bản chất chi phí sản xuất dới từng góc độ nghiên cứu nh sau:
Đối với các nhà kinh tế học: Chi phí sản xuất là các phí tổn phải chịu khi sản
xuất sản phẩm trong kì.
Đối với các nhà quản lý tài chính, thuế, ngân hàng: Chi phí sản xuất là các
khoản chi liên quan tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Chi phí sản xuất là khoản phải bỏ ra để mua
các yếu tố cần thiết phục vụ quá trình sản xuất và mang lại lợi nhuận cao nhất
cho doanh nghiệp trong giới hạn đầu t không đổi.
Đối với các nhà kế toán: Chi phí sản xuất là khoản phải hy sinh hay trừ ra để
đạt đợc mục đích nhất định, nó đợc xem xét nh một lợng tiền phải trả cho các
hoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra sản phẩm.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo quan điểm của kế toán Pháp, chi phí sản xuất là tất cả tiền mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để mua các yếu tố của quá trình sản xuất trong một thời gian nhất
định, gồm: tiền mua vật t, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất, thù lao cho ngời lao
động và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình sản xuất.
Khái niệm chi phí sản xuất hẹp hơn khái niệm chi phí. Chi phí tính cho tất cả
các yếu tố đầu vào trong kỳ kinh doanh gồm cả chi phí sản xuất và chi phí ngoài
sản xuất.
Mặt khác, chi phí khác với chi tiêu: chỉ đợc tính là chi phí của kỳ hạch toán
những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lợng sản phẩm sản xuất
trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Ngợc lại, chi tiêu
là sự giảm đi đơn thuần các loại tài sản, vật t, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể
nó dùng vào mục đích gì. Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm
chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua vật t, hàng hoá ), chi tiêu cho quá
trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất sản phẩm, công tác quản lí ) và chi
tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo ).
Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tổng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí
hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này.
Chi phí và chi tiêu khác nhau cả về mặt lợng và thời gian:
Chi phí đợc cấu thành từ khoản chi tiêu trong kỳ (thờng phát huy tác dụng một
lần).
Chi phí đợc cấu thành từ các khoản chi tiêu của kỳ trớc phân bổ chi phí của kỳ
này.
Chi phí đợc cấu thành từ các khoản chi tiêu của kỳ sau nhng liên quan đến sản
xuất kinh doanh của kỳ này (chi phí phải trả).
Sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính
chất vận động và phơng thức dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình
sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán của chúng.
2.Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm theo những đặc điểm đặc trng nhất định. Ngời ta thờng sử dụng một số tiêu
thức sau:
2.1. Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí đợc chia thành các yếu tố khác nhau mà mỗi
yếu tố chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt
chi phí đó phát sinh ở đâu và mục đích, công dụng của chi phí đó nh thế nào.
Toàn bộ các chi phí đợc chia thành các yếu tố sau:
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí nguyên vật liệu gồm các chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, cộng cụ, dụng cụ mà doanh nghiệp đã sử dụng
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ (loại trừ giá trị dùng không hết
nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).
Chi phí nhân công bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích bảo hiểm
xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ) mà doanh
nghiệp phải chịu.
Chi phí về khấu hao tài sản cố định gồm toàn bộ số khấu hao tài sản cố định
phải trích của tất cả các tài sản sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả
cho các loại dịch vụ mua ngoài nh tiền điện, nớc, bu phí phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí khác bằng tiền là những khoản chi phí khác dùng vào sản xuất, ngoài
bốn yếu tố trên.
Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để phân
tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất. Ngoài ra, nó còn giúp
cho việc lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài
chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, kế hoạch cung
ứng vật t, kế hoạch quỹ lơng và tính toán nhu cầu vốn lu động cho kỳ sau đồng
thời cung cấp tài liệu để tính toán thu nhập quốc dân.
2.2. Căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này, ý nghĩa các bộ phận chi phí trong giá thành sản phẩm
khác nhau thì đợc xếp riêng theo ba khoản mục sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Phần này bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên
liệu tiêu hao trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp gồm chi phí về tiền công, phụ cấp và các khoản
trích theo lơng: BHXH, BHYT, KPCĐ.
Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là chi phí phát sinh ở các bộ phận sản xuất có chức
năng phục vụ chung cho quá trình sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại căn cứ vào mục đích và công dụng phục vụ tốt cho công tác
quản lý chi phí sản xuất: cung cấp số liệu cho kế toán tính giá thành sản phẩm,
phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập
định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau đồng
thời còn giúp cho việc xây dựng kế hoạch tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhợc điểm của phơng pháp này là mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những
chi phí có cùng mục đích, công dụng mà không phân biệt chi phí đó có nội dung
nh thế nào.
2.3 . Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lợng công việc, sản
phẩm hoàn thành
Theo cách này, chi phí sản xuất đợc phân thành các loại:
Chi phí khả biến (biến phí):
Biến phí là những chi phí mà tổng số hoặc tỷ lệ so với khối lợng công việc hoàn
thành thay đổi (khối lợng công việc, sản phẩm hoàn thành tăng thì tổng chi phí
tăng và ngợc lại) nhng nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì không đổi. Chẳng
hạn, nh: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp.
Chi phí bất biến (định phí):
Định phí là những chi phí không thay đổi về tổng số so với khối lợng, công việc
hoàn thành nhng nếu tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc hoàn thành thì lại
thay đổi. Chẳng hạn: chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng
Trong chi phí sản xuất chung phần lớn là định phí.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong quản trị doanh nghiệp, giúp cho
việc xem xét cách ứng xử từng loại chi phí, phân tích điểm hoà vốn, phục vụ việc
ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Mặt khác, giúp việc xác định kết quả trong các báo cáo bộ phận để ra các
quyết định quản lý.
2.4. Căn cứ vào phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối t-
ợng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đợc chia ra làm hai loại:
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp với việc sản
xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định. Những chi phí này kế toán
có thể căn cứ vào chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho đối tợng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến sản xuất nhiều
loại sản phẩm, nhiều công việc. Những chi phí này kế toán phải tiến hành phân
bổ cho các đối tợng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phơng pháp kế toán tập hợp
và phân bổ chi phí cho các đối tợng một cách đúng đắn, hợp lý.
Ngoài các cách phân loại trên, còn một số cách khác nh : phân loại theo cách
thức kết chuyển chi phí
ở Pháp coi chi phí là giá phí phải trả khi sử dụng đồ vật và dịch vụ nhằm mục
đích kiếm lời, chi phí là khoản chi làm giảm vốn của Công ty nhng vẫn phải thực
8
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện theo hy vọng số thu nhập mang lại sẽ làm tăng thêm vốn. Quan niệm này chia
chi phí theo các yếu tố:
Chi phí về nhân viên: gồm tiền lơng, phụ cấp, thởng.
Chi phí về thuế và các khoản khác nộp ngân sách.
Chi phí về dịch vụ mua ngoài.
Chi phí về quảng cáo, quà tặng, vận chuyển, bu điện, ngân hàng.
Chi phí quản lý thông thờng.
Chi phí về tài chính, vay phải trả, chiết khấu phải trả.
Chi phí đặc biệt.
Cũng theo khái niệm trên, nếu hiểu chi phí là số tiền bỏ ra để mua các yếu tố
cần thiết cho chế tạo sản phẩm thì chi phí gồm hai bộ phận:
Chi phí mua hàng, vật t, các loại dự trữ sản xuất.
Các phí tổn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.
ở Mỹ quan niệm: Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả
các chi phí và nguồn đợc sử dụng để mang lại doanh thu. Phân loại chi phí sản
xuất dựa vào hai căn cứ :
Căn cứ vào mối quan hệ với khối lợng sản phẩm sản xuất thì gồm có chi phí
bất biến và chi phí khả biến.
Chi phí bất biến là phần chi phí hầu nh giữ nguyên tổng số tiền với mọi khối
lợng sản phẩm đợc sản xuất ra.
Chi phí khả biến là phần chi phí có xu hớng gia tăng theo sự gia tăng của
khối lợng sản phẩm sản xuất và có xu hớng giảm so với sự giảm sút của số l-
ợng sản phẩm.
Căn cứ vào mối quan hệ với báo cáo kết quả kinh doanh, chi phí sản xuất đ-
ợc chia thành chi phí định mức và chi phí lịch sử.
Chi phí định mức là chi phí phải gánh chịu đợc xác định trớc .
Chi phí lịch sử là chi phí thực tế phải gánh chịu.
Qua cách phân loại của các nớc thì kế toán pháp khó xác định chính xác giá
thành sản phẩm, mà phải xác định giá thành toàn bộ. Kế toán Mỹ và Việt Nam
phân loại rõ ràng hơn, thuận lợi cho việc xác định giá thành sản phẩm chính xác.
II II. Giá thành sản phẩm
III 1. Khái niệm
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá
chất lợng kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phí sản xuất phải đợc xem xét
trong mối quan hệ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản của quá trình sản xuất kinh
9
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh đó là kết quả sản xuất thu đợc. Quan hệ so sánh đó hình thành nên khái
niệm giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ một
khối lợng sản phẩm, dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá. Những chi phí đa
vào giá thành sản phẩm phải phản ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất đã
tiêu dùng và các chi tiêu khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hao phí lao
động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị
trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng.
Nh vậy, đi chi tiết hơn ta thấy:
Về khách quan: Giá thành là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị t liệu sản xuất
và sức lao động kết tinh trong một đơn vị sản phẩm.
Về chủ quan: Trên cơ sở chi phí sản xuất tính ra giá thành sản phẩm trong
kỳ, nên giá thành sản phẩm phụ thuộc vào phơng pháp hạch toán và các biện
pháp đánh giá khác nhau về t liệu sản xuất và sức lao động.
Giá thành sản phẩm đợc xác định cho từng loại sản phẩm cụ thể và chỉ tính toán
với số lợng sản phẩm hoàn thành, kết thúc toàn bộ quá trình sản xuất (thành phẩm)
hay hoàn thành một, hoặc một số công đoạn sản xuất (bán thành phẩm) mà không
tính cho sản phẩm đang nằm trên dây chuyền sản xuất.
Liên hệ với kế toán quốc tế cho thấy:
a. Kế toán Pháp coi giá thành sản phẩm bao gồm:
Giá mua các vật liệu tiêu hao: các chi phí để mua các vật liệu chế tạo sản
phẩm.
Chi phí trực tiếp sản xuất: các chi phí chi ra để tham gia trực tiếp vào quá
trình sản xuất sản phẩm.
Chi phí gián tiếp: có thể phân bổ hợp lý vào đối tợng tính giá thành sản
phẩm.
Các chi phí không đợc tính vào giá thành sản phẩm:
Chi phí quản lý chung: chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí tài chính: chi phí chi ra trong các nghiệp vụ tài chính
Chi phí su tầm phát triển: chi phí doanh nghiệp đã đầu t vào lĩnh vực su
tầm, phát triển phục vụ lợi ích cho doanh nghiệp
b. Kế toán Mỹ: Chỉ cho phép tính vào giá thành các chi phí trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất, tức là các khoản chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp, tiền l-
10
Chuyên đề tốt nghiệp
ơng nhân công trực tiếp sản xuất, chi phí quản lý phân xởng mới đợc tính vào giá
thành. Các chi phí khác ngoài sản xuất, nh : chi phí về tài chính, chi phí quản lý
doanh nghiệp chỉ dùng để xác định hiệu quả, không tính vào giá thành.
2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Nh trên đã nói, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt trong cùng
một quá trình sản xuất. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh
kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, tiền vốn trong quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm cũng nh các giải pháp mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích chi
phí bỏ ra ít nhất nhng kết quả sản xuất thu đợc nhiều nhất. Giá thành sản phẩm
còn là cơ sở tính toán, xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí và giá thành sản phẩm giống nhau về chất vì đều là các chi phí nhng
khác nhau về mặt lợng và kỳ hạch toán, thể hiện:
Chi phí luôn gắn với một thời kỳ nhất định còn giá thành gắn với khối l-
ợng sản phẩm hoàn thành.
Chi phí liên quan tới tất cả các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp,
nhng giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm.
Chi phí trong kỳ bao gồm chi phí đã trả cho kỳ trớc nhng cha phân bổ cho
kỳ này và chi phí phải trả kỳ trớc nhng kỳ này mới thực tế phát sinh, nhng
không gồm phần chi phí phải trả kỳ trớc phân bổ cho kỳ này và những chi
phí phải trả kỳ này nhng cha thực tế phát sinh. Giá thành sản phẩm chỉ
liên quan đến chi phí phải trả kỳ này và chi phí phải trả trớc đợc phân bổ
trong kỳ.
Chi phí không chỉ liên quan đến sản phẩm hoàn thành mà còn liên quan
đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản
phẩm không liên quan đến 2 vấn đề đó nhng liên quan đến chi phí sản
xuất của sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện qua sơ đồ
sau:
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm, dịch vụ Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
3. Các loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng nh
yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, phạm
vi tính toán khác nhau.
3.1. Theo thời điểm và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách này, giá thành gồm các loại:
Giá thành kế hoạch
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất
kế hoạch và sản lợng kế hoạch.
Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện
và đợc tiến hành trớc khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là
căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế
hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức
Giá thành định mức là giá thành sản phẩm đợc tính toán trên cơ sở định mức chi
phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
Việc tính giá thành định mức thực hiện trớc khi chế tạo sản phẩm. Giá thành
định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thớc đo để xác định
chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật t, lao động trong sản xuất, giúp cho doanh
nghiệp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kĩ thuật đã thực hiện, nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giá thành thực tế
Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp đợc trong kì và sản lợng sản phẩm thực tế đã sản
xuất ra trong kì.
Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán đợc sau khi kết thúc quá trình sản xuất,
chế tạo sản phẩm.
Giá thành sản phẩm thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn
đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế-tổ chức-
kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2. Theo phạm vi phát sinh chi phí
Trên góc độ này, giá thành sản phẩm gồm hai loại: giá thành sản xuất và giá
thành toàn bộ.
Giá thành sản xuất
Giá thành sản xuất là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan
đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm gắn với qui trình công nghệ sản xuất sản
phẩm.
Giá thành sản
xuất
=
Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp
+
Chi phí nhân
công trực tiếp
+
Chi phí sản
xuất chung
Giá thành toàn bộ
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Giá thành toàn bộ là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên
quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Về mặt kế toán không bao giờ thể hiện
giá thành toàn bộ.
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí ngoài sản xuất
III. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Kế toán làm nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các cấp quản trị doanh nghiệp,
cho nhà nớc (cơ quan thuế), cho ngân hàng, chủ đầu t để đánh giá tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải
đáp ứng đợc yêu cầu tính đúng, đủ, hợp lí các khoản chi phí để phục vụ cho việc
tính giá thành đợc chính xác. Yêu cầu đó đợc cụ thể hoá thành các nhiệm vụ sau:
Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và phơng pháp tính giá thành
thích hợp.
Tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tợng chịu chi phí
sản xuất.
Xác định đúng đắn giá trị của sản phẩm dở dang cuối kì.
Cuối kì, phân tích tình hình thực hiện giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản
phẩm, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng để đề xuất biện pháp thích hợp
cho lãnh đạo doanh nghiệp.
IV. Hạch toán chi phí sản xuất - tính giá thành sản phẩm với
công tác quản trị doanh nghiệp
Chịu tác động của qui luật giá trị trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp coi
lợi nhuận là mục tiêu cơ bản nhất. Để lợi nhuận đạt tối đa thì hoặc phải tăng doanh
thu, hoặc giảm chi phí, hoặc cả hai. Trong tổng chi phí thì chi phí sản xuất là phần
cơ bản ở những doanh nghiệp công nghiệp.
Tiết kiệm chi phí để hạ giá thành sản phẩm, kết hợp với việc không ngừng nâng
cao chất lợng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, bao bì sẽ tạo vị thế tốt trong cạnh
tranh của doanh nghiệp. Để làm đợc nh vậy, doanh nghiệp phải sử dụng hàng loạt
các biện pháp: đổi mới qui trình công nghệ, tìm nguồn nguyên liệu tốt, rẻ, đào tạo
công nhân tay nghề cao
Các nhà quản trị cần theo dõi thờng xuyên, kịp thời mọi sự biến động của chi
phí sản xuất, giá thành sản phẩm; đề xuất các biện pháp để tiêu thụ sản phẩm
nhanh, làm tăng tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các báo
cáo sản xuất cần đợc lập đầy đủ, tuân theo các thủ tục đã qui định.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhà nớc trong tình trạng lãi giả, lỗ thật do không
hạch toán đúng, đủ chi phí sản xuất. Chẳng hạn, chi phí về quyền sử dụng đất hầu
13
Chuyên đề tốt nghiệp
nh không tính đủ ở tất cả các doanh nghiệp nhà nớc: không tính hoặc tính với mức
rất thấp.
V. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
1. Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên, quan trọng
của việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất. Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất
bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai
đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất và giai đoạn tính giá thành. Việc phân chia
này do sự khác nhau về đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành.
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là một giới hạn nhất định về địa điểm phát
sinh hoặc đối tợng gánh chịu chi phí mà các chi phí đợc tập hợp theo đó.
Chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể
phát sinh ở nhiều địa điểm (phân xởng, tổ, đội) khác nhau và có thể liên quan đến
nhiều loại sản phẩm hay thực hiện các loại dịch vụ khác nhau. Xác định đúng đối
tợng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tình hình hoạt động, đặc điểm qui trình
sản xuất sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lí chi phí của doanh nghiệp mới tạo
điều kiện để tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
1.1. Căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Đặc điểm qui trình công nghệ đợc xem xét ở hai mức độ: giản đơn hay phức
tạp.
Với công nghệ sản xuất giản đơn, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là
sản phẩm hoặc toàn bộ qui trình sản xuất sản phẩm.
Với công nghệ sản xuất phức tạp, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là
bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, qui trình công nghệ, đơn vị sản
xuất
1.2. Căn cứ vào loại hình sản xuất
Với loại hình sản xuất đơn chiếc, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất theo từng
bộ phận, từng sản phẩm.
Với loại hình sản xuất hàng loạt cỡ nhỏ, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là
các đơn đặt hàng riêng biệt.
Với loại hình sản xuất hàng loạt có khối lợng lớn, đối tợng hạch toán chi phí
sản xuất theo toàn bộ khối lợng sản phẩm.
1.3. Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét