DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu hoạt động của ACB từ 2001-2005 13
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu hoạt động năm 2006 của ACB 13
Bảng 2.3: Ma trận hình ảnh các đối thủ cạnh tranh của ACB 19
Bảng 2.4: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài 23
Bảng 2.5: So sánh qui mô vốn, khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam, ACB với
một số NH trên thế giới và trong khu vực 27
Bảng 2.6: Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ của ACB 34
Bảng 2.7 Ma trận SWOT 35
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu hoạt động của ACB từ 2004- 2010 42
Bảng 3.2: Cơ cấu tăng vốn điều lệ 43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại, và diễn ra mạnh mẽ trên
nhiều lĩnh vực, biểu hiện xu hướng tất yếu khách quan của nền kinh tế. Để bắt nhịp với
xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế:gia nhập
khối ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ký kết hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và đang trong tiến trình đàm phán để gia nhập vào Tổ
chức thương mại thế giới (WTO), và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng
như các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác. Trong bối cảnh
chung đó của cả nền kinh tế, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam sẽ phải đối
mặt với những thch thức như thế nào, tận dụng cơ hội ra sao và biến thách thức thành
cơ hội để không phải thua thiệt trên “sân nhà”. Điều này đòi hỏi hệ thống NHTM phải
chủ động nhận thức và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập và cạnh tranh này.
Có thể nói, Ngân hàng là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phải
mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam được xếp vào diện các ngành chủ chốt, cần được
tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Để giành thế chủ động trong tiến trình
hội nhập, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, đủ năng cạnh
tranh, hoạt động có hiệu quả cao, an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn
trong xã hội và mở rộng đầu tư. Việc này đòi hỏi sự nổ lực nhiều mặt từ phía Chính
phủ, Ngân hàng Nhà nước, và chính nội tại các ngân hàng thương mại.
Là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam,
ngân hàng Á Châu cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh như thế nào để phát triển
bền vững trong xu thế hội nhập.
Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng Á Châu trong xu thế hội nhập” được tôi chọn làm luận văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh, tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và hội nhập
ngân hàng nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động, năng lực cạnh tranh, điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội, thách thức của ACB.
- Hình thành giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ACB trong xu
thế hội nhập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề về lý luận của cạnh tranh trong hội nhập kinh tế
của hệ thống ngân hàng Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của ACB. Trên cơ sở đó hình thành giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong xu thế hội nhập.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Chủ yếu dựa vào kiến thức của các môn học như: quản trị kinh doanh quốc
tế, lý thuyết tài chính tiền tệ, quản trị nhân sự, quản trị tài chính, và vận
dụng những hiểu biết thực tế.
- Việc phân tích các số liệu theo phương pháp duy vật lịch sử và thống kê mô
tả dựa vào các số liệu thống kế, các số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà
nước và của các Ngân hàng thương mại.
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
59 trang bao gồm các chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về cạnh tranh
Chương 2: Phân tích thực trạng Ngân hàng Á Châu
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng Á Châu
trong xu thế hội nhập.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CẠNH TRANH
1.1 Lý luận chung về cạnh tranh
1.1.1 Năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm không mới song nội hàm của nó được xác
định rất phong phú và gắn liền với những phạm vi và hoạt động cụ thể. Trên thực tế có
nhiều cách tiếp cận như sau:
- Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng cạnh tranh của quốc gia, ngành,
và doanh nghiệp.
- Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF 1997 nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một
quốc gia là khả năng đạt, duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể
chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.
- Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCED) với cách tiếp cận về khả năng tạo ra
việc làm, thu nhập, diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp nêu ra rằng: “Năng
lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong
việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
- Tại báo cáo về sức cạnh tranh quốc tế của Hoa Kỳ: “Năng lực cạnh tranh là năng lực
cạnh tranh của một công ty, một nước trong việc sản xuất ra của cải trên thị trường
thế giới nhiều hơn đối thủ cạnh tranh của nó.”
- Theo quan điểm của Michael Porter, năng lực cạnh tranh của công ty phụ thuộc vào
khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá trị thấp và
có sự dị biệt của sản phẩm, tức bao gồm các yếu tố vô hình.
- Trong khi đó, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong cuốn “Thị trường, chiến lược,
cơ cấu” lại cho rằng, nếu như doanh nghiệp chỉ chú trọng đến giá trị gia tăng nội
sinh, tức giá trị gia tăng được tạo ra từ sự chênh lệch giữa giá bán và giá thành hàng
hóa, dịch vụ thì đến một lúc nào đó những nỗ lực của doanh nghiệp sẽ trở nên vô
nghĩa do các doanh nghiệp hầu như được tiếp cận các nguồn yếu tố đầu vào gần như
tương đương nhau trong quá trình toàn cầu hóa hoặc là do những yếu tố đến từ
khách hàng. Khi đó, năng lực cạnh tranh của công ty phụ thuộc nhiều vào giá trị gia
tăng ngoại sinh trên cơ sở mở rộng tầm nhìn hướng về thị trường và khách hàng.
Như vậy, theo thời gian, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng, tựu trung lại, năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp thông qua khả năng tạo lập, duy trì lợi nhuận và thị phần trên thị trường, khả
năng vượt trội trong bản thân nội tại doanh nghiệp đó so với các doanh nghiệp đối thủ.
Ở đó, sự vượt trội trong bản thân nội tại doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể
huy động được tối đa nguồn lực bên trong và khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi
từ môi trường bên ngoài để vươn đến một vị thế nhất định trên thị trường.
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh:
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, trước hết cần phải xác
định những lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho
doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế
mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh.
Theo giáo sư Michael Porter, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện ở
hai khía cạnh sau:
- Chi phí: tức là theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được.
Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong
quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp
tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực
lượng cạnh tranh mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa: tức là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường. Những khác biệt
này có thể thể hiện dưới nhiều hình thức, như: sự điển hình về thiết kế hay danh
tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng
lưới bán hàng.
1.1.3 Sự khác nhau giữa cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng với cạnh tranh
trong lĩnh vực khác:
Do đối tượng kinh doanh chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan đến tiền và
hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống, hơn nữa các hoạt động ngân hàng có tính liên
kết chặt chẽ dẫn đến cạnh tranh trong hoạt động NH có một số điểm khác biệt so với
cạnh tranh trong các lĩnh vực khác. Đó là:
- Cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính,
tiền tệ của Nhà nước, chịu sự tác động không chỉ của các biến động kinh tế vĩ mô
như lạm phát, lãi suất, tăng trưởng kinh tế.
- Sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động NH không đồng nghĩa với
nhất thiết triệt hạ đối thủ mà thậm chí sự lớn mạnh của đối thủ lại là điều kiện để
cho hệ thống NH phát triển. Ví dụ: sự phát triển của các tổ chức bảo hiểm sẽ tạo ra
nguồn tiền gửi quan trọng cho các NH.
- Sự phá sản của một NH dẫn đến hiệu ứng lan truyền và tai họa cho nền kinh tế,
thậm chí cho cả một khu vực ( khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Nam Á năm
1997 và Mehico, Brazin đã cho thấy điều đó). Do vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng không phải là cuộc chiến một mất một còn giữa các ngân hàng.
- Đặc điểm của sản phẩm NH, mà biểu hiện rõ nhất trong thanh toán chẳng hạn, quá
trình cung cấp sản phẩm không chỉ cho một ngân hàng thực hiện mà phải thông
qua NH khác, do vậy mặc dù cạnh tranh nhưng các NH vẫn phải có sự hợp tác với
nhau để hoạt động trong quá trình cung ứng sản phẩm.
1.2 Những cơ hội và thách thức của ngân hàng TM Việt Nam trong xu thế hội
nhập.
1.2.1 Thực trạng kinh tế Việt Nam và tính cấp thiết của hội nhập ngân hàng.
Trên thực tế, kinh tế Việt Nam đã từng bước hội nhập kinh tế thế giới, nhưng
vẫn ở trình độ thấp, sơ khai. Hiện nay, tuy kinh tế Việt Nam đã tham gia vào AFTA,
ASEAN, nhưng sự tham gia đó vẫn dừng ở phạm vi hẹp, nhỏ cả về lĩnh vực lẫn quy
mô, khối lượng Trước yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và yêu
cầu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta không thể
không đẩy nhanh tốc độ, quy mô hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VIII và IX và X đều khẳng định phải “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới”, với quy mô rộng hơn và trình độ cao hơn.
“Bức tranh toàn cảnh về sở hữu ngân hàng sẽ có những thay đổi căn bản khi Việt Nam
gia nhập WTO bởi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các
ngân hàng Việt Nam. Những ngân hàng yếu kém, quy mô nhỏ sẽ phải sáp nhập. Đặc
biệt, việc xuất hiện các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ làm thay đổi mạnh cơ cấu
thị phần tiền tệ” (Phó Thống Đốc NHNN VN-Ông Phùng Khắc Kế).
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), ngân hàng là lĩnh vực chậm cải cách nhất trong nền
kinh tế năng động của Việt Nam. Chưa hẳn đồng tình với quan điểm này của WB,
nhưng Ngân hàng Nhà nước cũng thừa nhận, thách thức lớn nhất đối với quá trình hội
nhập quốc tế trong dịch vụ ngân hàng của Việt Nam là xuất phát điểm còn thấp về trình
độ phát triển thị trường, tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngân hàng lạc hậu
và trình độ quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Thực tế mặc dù đã được Nhà nước "bơm" vốn tới 4 lần, nhưng tổng vốn điều lệ
của các ngân hàng thương mại nhà nước tính đến đầu năm 2005 mới đạt khoảng 21.000
tỷ đồng, làm hạn chế khả năng huy động và cung ứng tín dụng cho toàn nền kinh tế.
Dư nợ tín dụng mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp xa so với mức trên 80% của các nước
trong khu vực. Bình quân, mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại Nhà nước
khoảng từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu
vực; còn lại hầu hết các ngân hàng cổ phần có mức vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng
từ 200 đến 300 tỷ đồng.
Một điểm yếu khác của hệ thống ngân hàng Việt Nam là chất lượng hoạt động.
Hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức dư nợ không sinh lời lớn hơn giới hạn
cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần; khả năng thanh toán bình quân của các tổ chức tín dụng
mới đạt xấp xỉ 60%. Tỷ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có của các tổ chứuc tín dụng
hiện chỉ là 6% so với mức 13 - 15% của các ngân hàng thương mại ở các nước trong
khu vực. Đặc biệt, tỷ trọng đầu tư tín dụng của khu vực các định chế tài chính phi ngân
hàng (Kho bạc, các Quĩ hỗ trợ) mặc dù chiếm tới trên 34% tổng đầu tư toàn xã hội,
nhưng hầu như nằm ngoài vòng kiểm soát của Ngân hàng Trung ương.
Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ (chiếm tới trên
40% tổng thu nhập) thì tình trạng "độc canh” tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các
ngân hàng Việt Nam. Sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, thiếu các định chế quản lý theo
tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng,
loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.
Dự kiến, đến giai đoạn 2010-2020, hệ thống ngân hàng Nhà nước phải đóng một
vai trò nhất định trong khu vực và trên thị trường tài chính quốc tế. Một số Tập đoàn
ngân hàng Việt Nam đã phải ở trình độ khá lớn mạnh và có ảnh hưởng trực tiếp đến
nhịp điệu tài chính khu vực. Các cổ phiếu hoặc trái phiếu phát ra từ Ngân hàng Việt
Nam sẽ có mặt ở nhiều ngân hàng nước ngoài. Đồng tiền Việt Nam cần được cải cách
mệnh giá và mở rộng được biên giới tự do chuyển đổi trong khu vực…
Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu nội sinh của bản thân nền kinh tế
nước ta, chứ không phải bị o ép, bị bắt buộc. Thời cơ đang đến, yêu cầu của chính bản
thân đòi hỏi, không còn sự lựa chọn ưu việt nào hơn. Vấn đề đặt ra là Việt Nam chúng
ta lựa chọn như thế nào để vẫn hội nhập phát triển mà vẫn bảo toàn trọn vẹn độc lập tự
chủ, vẫn hội nhập mà không đánh mất truyền thống, hội nhập mà an ninh trật tự xã hội
được bảo đảm, hội nhập mà xã hội lành mạnh và phát triển, hoà nhập mà không hòa
tan.
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi nội sinh, bức thiết của đất nước
ta. Đây là một công việc hết sức mới mẻ, khó khăn và không ít thách thức. Xây dựng
một chiến lược hội nhập với những kế hoạch cụ thể với một hệ thống tổ chức chặt chẽ
và hệ thống chính sách thông thoáng cởi mở, một đội ngũ cán bộ giỏi, thạo việc là
những điều kiện cần phải có để chúng ta đủ sức hội nhập. Ngân hàng là lĩnh vực hoàn
toàn mở trong cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam
với lộ trình 7 năm. Chính vì vậy, khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, hơn bất cứ
ngành nào, lĩnh vực ngân hàng cần phải tăng tốc nâng cao năng lực cạnh tranh để
không bị thua thiệt ngay trên chính "sân nhà".
1.2.2 Những cơ hội của hoạt động ngân hàng thương mại trong tiến trình hội
nhập.
Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính trong nước, khuôn khổ
pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sự hình thành môi
trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phần giữa các nhóm ngân
hàng theo hướng cân bằng hơn. Thị phần của NHTMNN có thể giảm và nhường chỗ
cho các nhóm ngân hàng khác, nhất là tại các thành phố và khu đô thị lớn bởi áp lực
cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng nước ngoài đang ngày một
lớn. Cụ thể, thị phần của hệ thống Ngân hàng Công Thương đã giảm 1,26%, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển đã giảm 1,22%; theo ông Xavier Bareé, chuyên gia dự án hỗ
trợ thương mại đa biên Mutrap II cho biết: 45% số khách hàng được điều tra, kể cả
khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, trả lời sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước
ngoài chú không vay vốn của Ngân hàng Việt Nam; 50% lựa chọn ngân hàng gửi tiền
có
định gửi tiền vào ngân hàng nước ngoài…). Tùy theo thế mạnh của mỗi ngân
hàng, sẽ xuất hiện những ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn hóa như ngân
hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, đồng thời hình thành một số ngân
hàng qui mô lớn, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hiệu quả. Kinh doanh theo
nguyên tắc thị trường cũng buộc các tổ chức tài chính phải có cơ chế quản lý và sử
dụng lao động thích hợp, đặc biệt là chính sách đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực
nhằm thu hút lao động có trình độ.
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và nới lỏng hạn chế đối với các tổ chức tài
chính nước ngoài là điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân
hàng, các NHTM trong nước có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo
thông qua các hình thức liên doanh, liên kết với các ngân hàng và tổ chức tài chính
quốc tế. Trong quá trình hội nhập, việc mở rộng quan hệ đại lý quốc tế của các ngân
hàng trong nước sẽ tạo điều kiện phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ
thương mại, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ.
Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài chính
quốc tế một cách dễ dàng hơn, hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn sẽ tăng lên, góp
phần nâng cao chất lượng và loại hình hoạt động. Các ngân hàng trong nước sẽ phản
ứng, điều chỉnh và hoạt động một cách linh hoạt hơn theo tín hiệu thị trường trong
nước và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội để trao đổi hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng.
Ngành NH Việt Nam có điều kiện tranh thủ khai thác các ngân hàng nước ngoài về
vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí, đào tại và đào tạo lại đội ngũ cán bộ… Đồng
thời, tiến trình hội nhập cũng tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và nâng cao
tính minh bạch của hệ thống NHTM, đáp ứng các cam kết với các định chế và tổ chức
thương mại quốc tế. Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân
hàng Việt Nam, nhất là trên thị trường tài chính khu vực.
Như vậy, hội nhập quốc tế tạo ra nhiều thuận lợi và cơ hội cho các ngân hàng
Việt Nam phát triển thành một hệ thống ngân hàng hoạt động năng động, an toàn, hiệu
quả và phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
1.2.3 Những thách thức của hoạt động ngân hàng thương mại trong tiến trình
hội nhập.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét