Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty tnhh cơ kim khí sơn hà

Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất kinh doanh trong các Doanh nghiệp sản xuất gồm nhiều
loại để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, kế toán cho phù hợp với từng loại
chi phí cần thiết thì phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo
từng tiêu thức thích hợp.
Chi phí sản xuất được phân loại theo một số tiêu thức sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí:
- Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung tính chất kinh tế của các
chi phí ta có thể phân loại chi phí sản xuất sản xuất được chia thành các yếu tố
sau:
- Chi phí NVL (621) Bao gồm toàn bộ chi phí về NVL chính, NVL phụ,
nhiên liệu, phụ từng thay thế, VL thiết bị xây dựng cơ bản mà Doanh nghiệp đã
sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công (622). Bao gồm toàn bộ tiền công phải trả, tiền trích
BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn của công nhân viên hoạt động sản xuất kinh
doanh trong Doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao, sử
dụng cho sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền Doanh nghiệp đã
chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài, tiền điện, nước, điện thoại, phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
- Chi phí khác (bằng tiền): Bao gồm toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố đã nêu ở trên.
* Ý nghĩa của tiêu thức phân loại này:
- Cách phân loại này có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó
cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất, để đánh giá tình hình
thực hiện dự toán chi phí sản xuất.
- Là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết
minh báo cáo tài chính.
Lê Thị Hải
5
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
- Là căn cứ để cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất,
lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn lưu
động cho kỳ sau.
- Cung cấp tài liệu để tính toán thu nhập quốc dân.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí:
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công
dụng nhất định với hoạt động sản xuất.
Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau.
- Chi phí NVL trực tiếp: Bao gồm toàn bộ về chi phí nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm, không
tính vào khoản mục này. Những chi phí NVL sử dụng vào sản xuất chung và
những hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm những chi phí về tiền công tiền
trích quỹ BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản
xuất, không tính vào khoản mục này, số tiền công và trích BHXH, BHYT, kinh
phí công đoàn của nhân viên quản lý sản xuất, nhân viên quản lý Doanh nghiệp
và nhân viên bán hàng.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các phân xưởng, đội trạm sản xuất, ngoài hai khoản mục chi phí trực
tiếp đã nêu ở trên.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản mục như :
+ Chi phí nhân viên (phân xưởng đội trạm sản xuất) Phản ánh các chi phí
liên quan, phải trả cho nhân viên phân xưởng như tiền lương và các khoản phụ
cấp, trích bảo hiểm cho nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, thống kế thủ kho,
tiếp liệu, công nhân vận chuyển sủa chữa:….
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí dùng cho sủa chữa, bảo dưỡng TSCĐ
và các vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng, đội sản xuất.
+ Chi phí công cụ sản xuất: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ dùng
chung ở phân xưởng, đội sản xuất.
Lê Thị Hải
6
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ
hữu hình,TSCĐ vô hình,TSCĐ thuê tài chính, sử dụng ở các phân xưởng, tổ đội
sản xuất như khấu hao máy móc, thiết bị phương tiện vận tải.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí về điện, nước, điện
thoại, Fax…
+ Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh những chi phí bằng tiền ngoài những
chi phí nêu trên phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của các phân xưởng, đội
sản xuất…
* Ý nghĩa của tiêu thức phân loại:
Phục vụ cho nhu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số
liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, làm tài liệu tham khảo để lập định
mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau.
* Phân loại chi phí sản xuất:
Theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng
chịu chi phí.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc
sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định, những chi phí này kê
toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi chép trực tiếp cho từng
chụi đối tượng chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều
loại sản phẩm nhiều công việc, những chi phí này kế toán phải tiến hành phân
bổ cho từng đối tượng liên quan theo tiêu chuẩn thích hợp.
* Ý nghĩa của tiêu thức phân loại này:
Có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ
chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn và hợp lý.
* Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với khối lượng sản phẩm, công việc
lao vụ sản xuất trong quản lý.
- Chi phí khả biến ( biến phí) Là những chi phí có sự thay đổi tỷ lệ thuận
với khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ.
Lê Thị Hải
7
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
- Chi phí bất biến (Định phí) Là những chi phí không thay đổi về tổng số,
dù có sự thay đổi trong mức độ hoạt động sản xuất hoặc khối lượng công việc
lao vụ sản xuất trong kỳ.
- Chi phí hỗn hợp. Là những chi phí vừa mang những đặc tính của chi phí
biến đổi vừa mang những đặc tính của chi phí cố định ở một mức khối lượng
sản phẩm hoặc công việc nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc tính của chi phí
cố định, vượt qua mức đó nó mang đặc tính của chi phí biến đổi.
* Ý nghĩa của tiêu thức phân loại này.
- Có tác dụng lớn đối với quản trị kinh doanh, để phân tích điểm hoà vốn
và phục vụ cho việc ra các quyết định cần thiết để hạ giá thành tăng hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với lợi nhuận.
- Chi phí thời kỳ: Là các chi phí phát sinh làm giảm lợi nhuận kinh doanh
trong kỳ của Doanh nghiệp bao gồm như chi phí Bảo Hiểm, chi phí quản lý
Doanh nghiệp.
- Chi phí sản phẩm: Là chi phí khi phát sinh tạo thành giá trị của vât tư,
tài sản cố định được mua hoặc của thành phẩm được sản xuất ra chi phí này
không được coi là một khoản chi phí tổn trong kỳ, mà nó được coi là loại TSLĐ
của Doanh nghiệp và chỉ trở thành phí tổn khi hàng hoá sản phẩm được bán ra.
* Ý nghĩa tiêu thức phân loại này:
Có tác động kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành
giá thành sản phẩm nhằm phát huy mọi khả năng để hạ giá thành.
2. Giá thành sản phẩm
2.1. Khái niệm về giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp hết sức quan trọng
trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh
tế tài chính của Doanh nghiệp. Trong cùng một loại hình sản xuất kinh doanh
giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh tương đối đầy đủ và chính xác về trình
độ sử dụng NVL, nhân lực khả năng tận dụng công suất máy móc thiết bị …Vì
Lê Thị Hải
8
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
vậy, việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm trở thành mục tiêu kinh tế quan trọng
Doanh nghiệp. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì giá thành
và chất lượng sản phẩm là hai vấn đề quyết định của Doanh nghiệp, để có thể
tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh.
Giá thành là biểu bằng tiền của các chi phí sản xuất tính cho một khối
lượng sản phẩm đã hoàn thành.
Như vậy, giá thành là sự dịch chuyển giá trị của các yếu tố chi phí vào sản
xuất, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Do đó giá thành là thước đo, chi phí là
căn cứ cơ sở và là xuất phát điểm để xây dựng giá cả và bù đắp chi phí.
Để đi sâu nghiên cứu giá thành ta cần phải phân biệt được giá thành sản
phẩm và chi phí sản xuất.
Các chi phí sản xuất để chế tạo ra sản phẩm luôn biểu hiện ở mặt định
tính và mặt định lượng.
- Mặt định tính của chi phí là các yếu tố chi phí của hiện vật hay bằng tiền
tiêu hao trong quá trình chế tạo sản phẩm.
- Mặt định lượng của chi phí thể hiện ở mức độ tiêu hao cụ thể của từng
loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm thông qua thước đo giá
trị.
Tuy nhiên nội dụng cơ bản của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
đều là thể hiện bằng tiền của những chi phí mà Doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt
động sản xuất và giũa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, cơ sở để tính giá thành sản phẩm, công
việc, lao vụ, đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hoặc lãng phí của Doanh nghiệp về chi
phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm cao hay thấp. Quản
lý giá thành gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Nhìn chung kết cấu giá thành phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Đặc điểm tổ chức của từng loại sản phẩm.
- Đặc điểm sản xuất của từng ngành.
- Trình độ trang bị kỹ thuật và sử dụng kỹ thuật sản xuất.
Lê Thị Hải
9
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của các xí nghiệp
trong cùng một ngành.
- Do điều kiện tự nhiên (vị trí của từng xí nghiệp).
- Kết cấu giá thành gồm ba khoản.
- Chi phí NVL trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung, gồm:
+ Trả lương công nhân quản lý phân xưởng
+ Vật liệu xuất dùng cho quản lý phân xưởng.
+ Công cụ dụng cụ, xuất dùng cho quản lý phân xưởng.
+ Khấu hao TSCĐ phục vụ cho phân xưởng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
- Công tác tổ chức lao động và sử dụng con người. Nếu tổ chức nhịp
nhàng, hợp lý sẽ làm tăng năng suất lao động, khơi dậy tiềm năng của con
người, làm cho họ gắn bó và cống hiến hết sức mình cho Doanh nghiệp.
- Tổ chức quản lý sản xuất và quản lý tài chính. Nếu lựa chọn phương án
sản xuất tối ưu, bố trí các khâu hợp lý, tổ chức sử dụng vốn, đáp ứng đầy đủ, kịp
thời cho nhu cầu sản xuất sẽ luân chuyển vốn nhanh, hạ giá thành sản phẩm.
2.2. Phân loại giá thành
* Phân loại giá thành theo thời gian và cơ cấu số liệu tính giá thành sản phẩm:
- Gía thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ
phận kế hoạch của Doanh nghiệp thực hiện và trước tiến hành trước khi bắt đầu
quá trình quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Lê Thị Hải
10
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
- Giá thành kế hoạch của sản phẩm: Là mục tiêu phấn đấu của Doanh
nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành của Doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức hiện hành và chi phí cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định
mức cũng được thể hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá
thành định mức là công cụ quản lý định mức của Doanh nghiệp là thước đo
chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động trong sản xuất,
giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà Doanh
nghiệp đã thực hiện trong qúa trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp được trong kỳ và các sản lượng sản
phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ. Giá thành thực tế sản phẩm chỉ có thể tính
toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực
tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp
trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế – tổ chức – kỹ thuật để thực
hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả sản phẩm kinh
doanh của Doanh nghiệp.
* Phân loại giá theo phạm vi tính toán:
- Giá thành sản xuất (hay còn gọi là giá thành phân xưởng) Giá thành sản
xuất là các chi phí sản xuất như NVL, chi phí nhân công, và chi phí sản xuất
chung tính cho những sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành nhập kho hoặc
giao cho khách hàng, giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính
giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các Doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm: Bao gồm giá thành sản xuất của sản
phẩm cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý Doanh nghiệp tính cho sản
phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi
trước thuế của Doanh nghiệp.
Lê Thị Hải
11
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
3. Yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
3.1. Yêu cầu
Trong các công cụ quản lý chi phí khác nhau: Như thống kê, phân tích
hoạt động kinh tế…Thì kế toán được xem là một trong những công cụ quản lý
có hiệu quả nhất. Để đạt được kết quả đó yêu cầu đặt ra với kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm là:
- Phải cung cấp thông tin đảm bảo có ích cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của Doanh nghiệp. Đòi hỏi thông tin kế toán cung cấp phải đáp ứng đầy
đủ mọi nhu cầu có liên quan đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của
Doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin, trung thực khách quan, thông tin kế toán cung cấp
phải phản ánh đúng tình hình thực tế cả mặt mạnh và mặt yếu của Doanh
nghiệp.
- Phải cung cấp đầy đủ thông tin, kịp thời và phản ánh ngay khi nghiệp vụ
về chi phí sản xuất phát sinh.
- Phải cung cấp đầy đủ rõ ràng, dễ hiểu.
3.2. Nhiệm vụ
Trong công tác quản lý Doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm,
vì đây là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp. Thông qua đó các nhà quản lý nắm được chi phí sản xuất, giá
thành thực tế của từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như kết quả toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, từ đó phân tích đánh giá tình hình
thực hiện các định mức chi phí và giá thành để có thể có các quyết định thích
hợp.
Để tổ chức tốt các công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm, đáp ứng đầy đủ trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi phí sản xuất,
kế toán cần thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau:
Lê Thị Hải
12
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản
xuất sản phẩm của Doanh nghiệp, để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất và đối tượng giá thành sản phẩm.
Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã
chọn để cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục
chi phí và yếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi phí của sản phẩm dở
dang cuối kỳ.
Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành và
sản phẩm đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục quy
định và đúng kỳ tính giá thành đã xác định.
+ Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm cho lãnh đạo Doanh nghiệp và phân tích tình hình thực hiện các định mức
chi phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch
hạ giá thành sản phẩm để đề ra biện pháp thích hợp nhằm tiết kiệm chi phí và
hạ giá thành sản phẩm.
4. Vai trò của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Nền kinh tế nước ta hiện đang phát triển theo hướng nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Một doanh nghiệp muốn tạo được chỗ
đứng vững chắc trên thị trường phải có đủ hai điều kiện: Chất lượng cao và giá
cả hợp lý.
Vì vậy Doanh nghiệp cần phải chú trọng làm tốt công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm để tính toán chính xác giá thành sản
phẩm của Doanh nghiệp. Việc xác định đúng, chính xác được chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm sẽ xác định đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh để từ đó phân tích hoạt động sản xuất, để đề ra được những biện pháp, kế
hoạch cụ thể thiết thực cho kỳ sau. Đồng thời đó cũng là cơ sở để xác định
được sức cạnh tranh của Doanh nghiệp qua giá thành sản phẩm và giá bán.
Lê Thị Hải
13
Viện Đại Học Mở Hà Nội Báo cáo thực tâp tốt nghiệp
2006
Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất nhằm tổng hợp, phân
hệ thống hoá các chi phí phát sinh trong từng thời kỳ theo đúng đối tượng và
nội dung chi phí, theo từng khoản mục và từng yếu tố chi phí sản xuất.
Giá thành sản phẩm là công cụ quan trọng của Doanh nghiệp để kiểm soát
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả của các biện pháp tổ
chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp
có thể xem xét tình hình sản xuất và tình hình bỏ chi phí vào sản xuất, tác động
và ảnh hưởng, hiệu quả của các biện pháp tổ chức kỹ thuật đến sản xuất để phát
hiện và tìm ra nguyên nhân để có biện pháp loại trừ.
Vậy để góp phần hạ giá thành sản phẩm Doanh nghiệp phải tăng cường
công tác quản lý giá thành sản phẩm, coi công tác quản lý chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm là nhiệm vụ trung tâm của công tác phân tích kinh tế. Để
quản lý tốt được giá thành sản phẩm cần tổ chức công tác giá thành thực tế của
các loại sản phẩm một cách kịp thời, chính xác, đúng đối tượng chế độ quy định
và đúng phương pháp.
Làm tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp
doanh nghiệp nhận thức đúng đắn thực trạng quá trình sản xuất, quản lý, cung
cấp các thông tin cần thiết, kịp thời cho bộ máy lãnh đạo để có chiến lược, sách
lược, các biện pháp phù hợp nhằm tăng lợi nhuận của Doanh nghiệp đồng thời
giúp Doanh nghiệp có kế hoạch quản lý vốn sử dụng có hiệu quả, đảm bảo
được tính chủ động trong kinh doanh và trong công tác tài chính.
Làm tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giúp cho
nhà nước có cái nhìn tổng thể, toàn diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, từ
đó đưa ra đường lối, chính sách phù hợp để phát triển các Doanh nghiệp thực sự
làm ăn có lãi và hạn chế sự thua lỗ của các Doanh nghiệp làm ăn khó khăn, đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển không ngừng.
II. PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM
Lê Thị Hải
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét