rối loạn nội tiết. Nếu con người bị nhiễm độc thủy ngân có thể mắc một số chứng bệnh như đau
bụng, nôn mửa, thiếu máu. Khi nhiễm độc a-sen liều cao có thể dẫn đến tử vong, nhiễm liều thấp
nhưng tích tụ lâu ngày có thể mắc các bệnh nan y như ung thư.
Các thành phần chính trong chất thải rắn ngành điện tử như các kim loại, các hợp kim và hợp chất
khi để ở trạng thái bị cô lập chúng rất bền vững, nhưng khi tiếp xúc trực tiếp với không khí, độ ẩm,
ánh sáng sẽ xảy ra các phản ứng hóa học làm cho chúng có thể dễ dàng hòa tan trong nước và
không khí. Ngoài một số các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, tạo mùi, giúp chúng ta có thể dễ dàng
phát hiện bằng cảm quan để phòng tránh, còn lại đa số các độc tố trong chất thải rắn ngành điện tử
là không mùi, không vị khiến cho việc phát hiện, đề phòng càng trở nên khó kiểm soát.
Viện trưởng Viện Môi trường đô thị và Công nghiệp Việt Nam PGS, TS Nguyễn Ðức Khiển cho
biết: Hiện nay các công nghệ để xử lý triệt để các chất thải này cũng yêu cầu kỹ thuật rất cao. Do
đó, việc quan trọng chúng ta cần làm là phải có biện pháp quản lý, thu gom, xử lý cẩn thận và chặt
chẽ ngay từ đầu. Nếu không hậu quả sau này sẽ vô cùng nghiêm trọng. Ðặc biệt, trong những năm
gần đây, các sản phẩm điện tử trôi nổi ngoài thị trường cũng được sử dụng và buôn bán với số
lượng lớn và ngày càng tăng.
Cũng theo PGS, TS Nguyễn Ðức Khiển, mặc dù chất thải rắn ngành điện tử có chứa nhiều chất độc
hại song trong đó cũng có nhiều kim loại quý hiếm được sử dụng. Do đó, việc cần làm là phải có
biện pháp xử lý hợp lý để vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường lại vừa tận dụng được các kim loại
này. Muốn làm được như vậy, trước hết chúng ta cần phải xây dựng các công cụ pháp lý quản lý
chất thải điện tử. Xây dựng các tiêu chuẩn áp dụng cho việc phân loại, lưu chứa, thu gom, vận
chuyển các chất thải rắn. Các tiêu chuẩn này cũng quy định về việc giảm thiểu và tái chế chất thải.
Nhằm xử lý triệt để ngay từ đầu, chúng ta cũng cần có các cơ sở tái chế, xử lý rác thải điện tử tập
trung. Ðơn vị tái chế phải có đủ năng lực về công nghệ chuyên môn, máy móc thiết bị Bên cạnh
đó, phải chú ý cả khâu tái thu hồi kim loại và xử lý chất thải phát sinh trong quá trình tái chế. Khi
có được một hệ thống thu gom và xử lý hợp lý mới có thể hạn chế được những nguy cơ từ chất thải
rắn ngành điện tử ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường sống nói chung.
Ô nhiễm do chất thải rắn
Cập nhật lúc 09:39, Thứ Tư, 30/11/2005 (GMT+7)
,
(VietNamNet) – Việt Nam đang đối mặt nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm,
gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm cả đất, nước và không khí…
Thông điệp trên đưa ra tại “Diễn đàn Quốc gia về sức khỏe môi trường” do Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) và Bộ Y tế tổ
chức tại Hà Nội vào ngày 29/11.
Nhiều tham luận đề ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa và kiểm sóat tác động của ô
nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng.
Cục Y tế dự phòng Việt Nam đưa ra khuyến cáo, ô nhiễm môi trường tại nước ta đã
gia tăng mứa độ ảnh hưởng tới sức khỏe. Ngày càng có nhiều vấn đề về sức khỏe liên
quan đến yếu tố môi trường bị ô nhiễm.
Chất thải đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng động, đặc biệt nghiêm trọng ở những bãi chôn lấp rác, Ảnh: Lê Anh Dũng
Theo đánh giá của chuyên gia, trong các loại chất thải nguy hại (chất thải công nghiệp
nguy hại và chất thải y tế) là mối hiểm họa đặc biệt. Chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn
đến sức khỏe cộng động; nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, gần
khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến
mức báo động.
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả,
thương hàn,… do loại chất thải rắn gây ra.
Thống kê cho thấy, nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở đô thị lớn như Hà
Nội, TP.HCM. Tại các đô thị này, tuy chỉ chiếm tỉ lệ 24% dân số cả nước, nhưng lại phát
sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, chiếm gần 50% tổng lượng chất thải sinh họat
cả nước.
Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, đất, ngày càng kéo tỷ lệ bệnh nhân
có liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường ngày càng cao.
Ngoài ra, một trong những tác động lên môi trường và sức khỏe cộng động là việc lạm
dụng các sản phẩm hóa học…
Bộ TN&MT đề nghị cần sớm xây dựng và phát triển hệ thống giám sát, đánh giá và
thống kê ảnh hưởng xấu của các yếu tố môi trường lên sức khỏe người dân. Đặc biệt,
ưu tiên xử lý các loại hóa chất độc hại, bảo vệ nguồn nước ngầm và nước uống, tổ
chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân dân sống tại vùng chịu ảnh hưởng của ô
nhiễm, suy thóai môi trường.
Chất thải rắn (CTR) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và
động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa.
Thuật ngữ chất thải rắn được sử dụng trong tài liệu này là bao hàm tất cả các chất rắn hỗn hợp thải
ra từ cộng đồng dân cư đô thị cũng như các chất thải rắn đặc thù từ các ngành sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, khai khoáng Tài liệu này đặc biệt quan tâm đến chất thải rắn đô thị, bởi vì
ở đó sự tích luỹ và lưu toàn chất thải rắn có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của
con người.
Chất thải rắn có từ khi con người có mặt trên trái đất. Con người và động vật đã khai thác và sử
dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ cho đời sống của mình và thải ra các chất thải
rắn.Khi ấy, sự thải bỏ các chất thải từ hoạt động của con người không gây ra vấn đề ô nhiễm môi
trường trầm trọng bởi vì mật độ dân cư còn thấp. Bên cạnh đó diện tích đất còn rộng nên khả năng
đồng hoá các chất thải rắn rất lớn, do đó đã không làm tổn hại đến môi trường. Khi xã hội phát
triển, con người sống tập hợp thành các nhóm, bộ lạc, làng, cụm dân cư thì sự tích lũy các chất thải
rắn trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với cuộc sống của nhân loại. Thực phẩm
thừa và các loại chất thải khác bị thải bỏ bừa bãi khắp nơi trong các thị trấn, trên các đường phố,
trục lộ giao thông, các khu đất trống đã tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của
các loài gậm nhấm như chuột Các loài gậm nhấm là điểm tựa cho các sinh vật ký sinh như là bọ
chét sinh sống và phát triển.Chúng là nguyên nhân gây nên bệnh dịch hạch.Do không có kế hoạch
quản lý chất thải rắn nên các mầm bệnh do nó gây ra đã lan truyền trầm trọng ở Châu Âu vào giữa
thế kỷ 14.
Mãi đến thế kỷ 19, việc kiểm soát dịch bệnh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng mới được quan
tâm.Người ta nhận thấy rằng các chất thải rắn như thực phẩm dư thừa phải được thu gom và tiêu
huỷ hợp vệ sinh thì mới có thể kiểm soát các loài gặm nhấm, ruồi, muỗi cũng như các vectơ truyền
bệnh. Mối quan hệ giữa sức khoẻ cộng đồng với việc lưu trữ, thu gom và vận chuyển các chất thải
không hợp lý đã thể hiện rõ ràng. Có nhiều bằng chứng cho thấy các bãi rác không hợp vệ sinh,
các căn nhà ổ chuột, các nơi chứa thực phẩm thừa… là môi trường thuận lợi cho chuột, ruồi, muỗi
và các vectors truyền bệnh sinh sản, phát triển. Việc quản lý chất thải rắn không hợp lý là một
trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí).Ví dụ các bãi rác
không hợp vệ sinh đã làm nhiễm bẩn các nguồn: nước mặt, nước ngầm bởi nước rỉ rác, gây ô
nhiễm không khí bởi mùi hôi. Kết quả nghiên cứu khoa học đã cho thấy gần 22 căn bệnh của con
người liên quan đến việc quản lý chất thải rắn không hợp lý.
Xã hội hóa thu gom, vận chuyển và xử lý rác
[25/04/2010, 19:15 (GMT+7) | 0 ý kiến]
H
UBND TP Cần Thơ đã giao cho Sở Xây dựng TP Cần Thơ xây dựng Đề án “Khuyến khích xã hội
hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn TP Cần Thơ đến năm 2020”.
Đề án này đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các sở, ngành và các địa phương
*THU GOM RÁC THẢI CHƯA TRIỆT ĐỂ
Theo đánh giá của Sở Xây dựng TP Cần Thơ, cùng với sự phát triển của thành phố, chất thải rắn
đang gia tăng nhanh chóng. Ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải rắn sinh hoạt
mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom đạt thấp (khoảng 63% vào năm 2008, đến năm 2009 tỷ lệ này nâng
lên không đáng kể), lượng rác còn lại được người dân thải vào các ao, sông, rạch Năng lực quản
lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt; nhưng đối với các
quận, huyện ngoại thành (Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh ) việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt
hiệu quả chưa cao.
Hiện nay, các quận trung tâm thành phố như: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng và Ô Môn đang hợp
đồng với Công ty Công trình đô thị TP Cần Thơ thu gom rác. Tổng lượng rác công ty này thu gom
cao nhất là 450 tấn/ngày. Rác thải do Công ty Công trình đô thị thu gom ở 3 quận (Ninh Kiều, Cái
Răng và Bình Thủy) được đem đổ tập trung tại Bãi rác Tân Long (ở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu
Giang). Riêng rác thu gom ở quận Ô Môn được đổ tại bãi rác tạm trên địa bàn quận. Ở huyện
Phong Điền, hiện lượng rác thu gom hàng ngày chỉ khoảng 0,95 tấn, còn lại 51,55 tấn rác/ngày
chưa được thu gom và xử lý. Quận Thốt Nốt có lượng rác phát sinh hàng ngày là 41,5 tấn và tỷ lệ
thu gom cũng chỉ khoảng 60%. Huyện Vĩnh Thạnh lượng rác phát sinh hàng ngày khoảng 5 tấn và
tỷ lệ thu gom hiện nay là khoảng 40%.
Đối với chất thải rắn ở khu công nghiệp, Ban Quản lý Các khu chế xuất và công nghiệp TP Cần
Thơ phối hợp với Công ty Công trình đô thị TP Cần Thơ bố trí trạm lưu trữ, vận hành thử nghiệm
thiết bị đốt rác nguy hại tại Khu công nghiệp Trà Nóc 1 và 2 để xử lý rác thải. Đối với chất thải rắn
y tế, thành phố có 11 bệnh viện đa khoa, 8 bệnh viện chuyên khoa, 2 trường đào tạo nghiệp vụ y
tế với lượng rác phát sinh hàng ngày khoảng 2,42 tấn. Khối lượng chất thải rắn y tế tại các bệnh
viện công lập và 2 bệnh viện tư nhân được thu gom và xử lý theo quy định; một số bệnh viện trang
bị lò xử lý rác, phần lớn các bệnh viện xử lý rác tại lò đốt rác của Bệnh viện Đa khoa Trung ương
Cần Thơ. Tuy nhiên, do chưa quản lý chặt chẽ rác thải y tế của các cơ sở y tế tư nhân nhỏ lẻ như:
nhà thuốc, phòng mạch tư nên rác thải y tế vẫn trộn lẫn với rác sinh hoạt
*CẦN NHANH CHÓNG XÃ HỘI HÓA
Theo Sở Xây dựng TP Cần Thơ, xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn để
phấn đấu đạt tới mục tiêu 100% rác sinh hoạt được thu gom và xử lý hợp vệ sinh, 100% chất thải
công nghiệp và rác thải nguy hại được thu gom và xử lý, đến năm 2015 thực hiện hoàn chỉnh hệ
thống xử lý chất thải y tế trên địa bàn thành phố và 100% chất thải y tế được xử lý đúng qui định
Dự thảo Đề án “Khuyến khích xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên
địa bàn TP Cần Thơ đến năm 2020” được chia ra làm 2 giai đoạn thực hiện. Trong đó, giai đoạn từ
năm 2010 đến năm 2015 sẽ tăng cường công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn
công nghiệp-độc hại; xây dựng và đưa vào vận hành các trạm trung chuyển rác tại các quận,
huyện; quy hoạch quản lý chất thải rắn. Đồng thời, triển khai xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn
sinh hoạt tại phường Phước Thới (quận Ô Môn) với qui mô 47 ha, công suất 700-1.000 tấn/ngày;
xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh tạm thời qui mô 20 ha (trong thời gian nhà máy xử lý chất
thải rắn xây dựng và sau khi bãi rác Tân Long lấp đầy, đóng cửa); xây dựng khu xử lý rác thải y tế
tập trung Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, phân loại rác thải tại nguồn; xã hội hóa công tác
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Dự thảo đề án cũng dự báo khối lượng chất thải rắn
phát sinh đến năm 2015 khoảng 754 tấn/ngày, đến năm 2020 khoảng 870 tấn/ngày. Kinh phí dự
kiến thực hiện đề án là hơn 1.150 tỉ đồng, trong đó ngân sách thành phố hơn 100 tỉ đồng, vốn vay
ODA 150 tỉ đồng và còn lại 900 tỉ từ các doanh nghiệp đầu tư
Tại cuộc họp góp ý Đề án “Khuyến khích xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn trên địa bàn TP Cần Thơ đến năm 2020” mới đây, các sở, ngành và các quận, huyện đã có
nhiều đóng góp thiết thực để Sở Xây dựng hoàn thiện đề án. Ông Đỗ Ngọc Bắc, Phó Giám đốc
Công ty Công trình đô thị TP Cần Thơ, nói: “Công ty rất ủng hộ đề án này, bởi vì hiện nay Công ty
Công trình đô thị không thể đảm đương thu gom, vận chuyển, xử lý hết lượng rác thải của thành
phố. Tuy nhiên, để thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động này, đề án phải có
giải pháp tài chính sao cho các đơn vị tham gia phải từ hòa vốn đến có lời, để các doanh nghiệp có
điều kiện tái đầu tư, vì phương tiện thu gom và vận chuyển rác phải đầu tư lớn nhưng thời gian sử
dụng mau hư hỏng. Đồng thời, Nhà nước nên đầu tư xây dựng các trạm trung chuyển rác và thu
phí các đơn vị sử dụng các trạm này (kinh phí xây dựng các trạm trung chuyển rất lớn). Mục tiêu
của đề án phải làm giảm chi phí cho Nhà nước, nhưng đồng phải cũng phải tăng cường chất lượng
phục vụ vệ sinh môi trường ”.
Nhiều ý kiến khác của các đại biểu cho rằng, việc phân kỳ đề án với giai đoạn từ năm 2010 đến
năm 2015 chỉ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 mới tập
trung xã hội hóa là chưa phù hợp. Cần phải sớm triển khai xã hội hóa công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn TP Cần Thơ để đáp ứng nhu cầu phát triển của thành
phố hiện nay, hướng tới thu gom và xử lý triệt để rác thải trên địa bàn thành phố, đảm bảo vệ sinh
môi trường lâu dài, bền vững. Ngoài ra, đề án phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia;
thành phố cũng nên có cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực này. Có như vậy mới có
nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải rắn trên địa bàn thành phố trong thời gian tới
Những ý kiến đóng góp sẽ được Sở Xây dựng tiếp tục chỉnh sửa và hoàn thiện đề án. Hy vọng
rằng Đề án “Khuyến khích xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa
bàn TP Cần Thơ đến năm 2020” sớm được UBND thành phố phê quyệt, để công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác trên địa bàn thành phố hoàn thiện hơn trong những năm tới
Kế hoạch quản lý chất thải rắn ở TPHCM năm 2004-2005
Nhằm nâng cao năng lực và từng bước hoàn thiện hệ thống Quản lý chất thải rắn tại TPHCM,
nâng cao chất lượng vệ sinh đô thị trên toàn địa bàn thành phố, đặc biệt vào năm cao điểm 2004
(được chọn là năm Môi trường và Cải cách hành chính), từ đầu tháng 10 – 2003, Phòng Quản lý
Chất thải rắn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu và soạn thảo bản kế hoạch (lộ
trình) quản lý chất thải rắn ở TPHCM giai đoạn 2004-2005 và định hướng đến năm 2010. Sở Tài
nguyên và Môi trường cũng đã trình bày bản kế hoạch này trước thường trực UBND TPHCM vào
tháng 12-2003.
Dưới đây là nội dung tóm tắt và các mục tiêu cụ thể của kế hoạch quản lý chất thải rắn TPHCM
năm 2004-2005 (giai đoạn trước mắt).
Nội dung của bản kế hoạch bao gồm các chương trình và các mục tiêu cụ thể cần đạt được khi
triển khai thực hiện. Các nội dung chính bao gồm:
Quy hoạch tổng thể hệ thống quản lý chất thải rắn (sinh hoạt, công nghiệp và y tế)
- Xác định chính xác khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt thải ra hàng ngày tại tất
cả các quận huyện. Để thực hiện tốt công tác này, ngoài cơ quan thực hiện chính là Sở Tài nguyên
và Môi trường (Phòng Quản lý chất thải rắn) còn đòi hỏi sự tham gia của một số lượng lớn nhân
sự tại các trường đại học, các viện và trung tâm nghiên cứu cũng như sự hợp tác tích cực của Công
ty Môi trường đô thị và tất cả các công ty dịch vụ công ích quận huyện. Hiện tại, Phòng Quản lý
chất thải rắn đã lên kế hoạch triển khai điều tra khảo sát để thu thập số liệu về chất thải rắn tại 24
quận huyện với sự phối hợp của các trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Nông lâm…
Các số liệu thu thập được sẽ là cơ sở để dự báo khối lượng và thành phần chất thải rắn phát sinh
trong tương lai.
- Quy hoạch các bô, trạm trung chuyển rác (kết hợp với dự án do ADB tài trợ). Đây là công việc
hết sức quan trọng, giúp cho thành phố lựa chọn và xây dựng các bô, trạm trung chuyển rác với địa
điểm, quy mô và số lượng hợp lý hơn so với hiện tại.
- Quy hoạch khu liên hợp tái sinh, tái chế và xử lý chất thải rắn đô thị với mục tiêu đến năm
2015 thì tỷ lệ chế biến compost là 50%, tái chế 20%, đốt rác thành điện 10% và chôn lấp 10%.
- Xác định chính xác khối lượng và thành phần chất thải rắn (công nghiệp và y tế) thải ra của
23.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, 800 nhà máy và 12 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất, 1 khu
công nghệ cao, 59 bệnh viện, 400 trung tâm y tế, 5.140 phòng khám tư nhân và khoảng 6.970 nhà
thuốc. Công tác này cũng đòi hỏi sự tham gia và phối hợp của nhiều đơn vị liên quan và bước triển
khai cũng tương tự như đối với chất thải rắn sinh hoạt.
- Quy hoạch vị trí các bãi chôn lấp (khu liên hợp xử lý chất thải rắn).Xây dựng hệ thống quản lý
(nhân sự, chính sách, quy định …) và hệ thống giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong lĩnh vực
quản lý chất thải rắn.
Mục tiêu cần đạt được: quy hoạch tổng thể hệ thống quản lý chất thải rắn (sinh hoạt, công
nghiệp và y tế) phải hoàn thành báo cáo và trình UBND thành phố phê duyệt vào cuối tháng 9-
2004.
Chương trình xã hội hóa hệ thống quản lý chất thải rắn
- Xây dựng hệ thống phí và thu phí quản lý chất thải rắn (bao gồm phí thu gom, tồn trữ, trung
chuyển, vận chuyển, xử lý và chôn lấp chất thải rắn) trên cơ sở khoa học và mang tính xã hội cao.
- Xây dựng hồ sơ đấu thầu cho các quận huyện và các thành phần tư nhân tham gia thực hiện tất
cả các quy trình trong hệ thống quản lý.
- Xây dựng hệ thống quản lý hành chính đồng bộ.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách nhằm khuyến khích mọi thành phần kinh
tế tham gia vào hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và mọi tổ chức đoàn thể xã
hội tham gia vào giám sát hệ thống quản lý chất thải rắn.
Mục tiêu cần đạt được: chương trình xã hội hóa hệ thống quản lý chất thải rắn phải hoàn
thành báo cáo và trình UBND thành phố phê duyệt vào cuối tháng 9 – 2004.
Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn
- Thực hiện triển khai thí điểm tại bốn quận 1,4,5,10. Trong đó, quận 5 đã thực hiện tại phường
12 và trường phổ thông trung học Hùng Vương (1998-1999)
- Phân loại chất thải rắn thành hai thành phần (hữu cơ và vô cơ).
- Xây dựng trạm phân loại tập trung tại Gò Cát hoặc Đa Phước phục vụ cho bốn quận thí điểm.
- Xây dựng nhà máy chế biến compost.
- Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến phù hợp cho tái sinh tái chế.
Mục tiêu cần đạt được: chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn phải hoàn thành việc
phân loại cơ bản chất thải rắn thành hai thành phần (hữu cơ và vô cơ) trong thời gian từ tháng 1-
2004 đến tháng 12-2005 tại bốn quận thí điểm, song song hoàn chỉnh hệ thống thu gom, vận
chuyển và xử lý theo công nghệ phân loại chất thải rắn tại nguồn.
Bên cạnh các chương trình lớn cần thực hiện trên, kế hoạch quản lý chất thải rắn thành phố
năm 2004-2005 còn nêu ra các nội dung và mục tiêu đối với việc hoàn thiện hệ thống quản lý và
hệ thống công nghệ công trình, cụ thể như sau:
Đối với hệ thống quản lý
- Bổ sung và hoàn thiện chính sách, quy chế, quy định và các quy trình quản lý. Thời gian thực
hiện từ tháng 1-2004 đến tháng 6-2004 và hoàn thiện hàng năm.
- Nâng cao ý thức cộng đồng bằng cách thực hiện các chương trình tuyên truyền, cổ động dưới
mọi hình thức như phát hành tờ bướm, băng rôn, biểu ngữ… với nội dung nhằm nâng cao ý thức
của người dân thành phố trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường đô thị, toàn dân tham gia công tác
quản lý chất thải rắn, xây dựng thành phố xanh, sạch, đẹp. Thời gian tổ chức các đợt tuyên truyền
vào các ngày lễ lớn trong năm như 30-4, 1-5, 5-6, 2-9… Công việc này đòi hỏi sự kết hợp của các
sở ban ngành và nhất là sự tham gia và ủng hộ của các tổ chức xã hội trên địa bàn thành phố.
- Tổ chức các khóa đào tạo và tập huấn về nghiệp vụ quản lý chất thải rắn cho các cơ quan và
đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường, Công ty Môi trường đô thị, các công ty dịch vụ công ích,
các tổ tài nguyên môi trường tại quận huyện và một số đối tượng khác. Hàng năm tổ chức từ 6-12
lớp đào tạo và tập huấn (30người/lớp/1-2 tuần).
Đối với hệ thống công nghệ công trình
- Xây dựng trạm xử lý nước rò rỉ công suất 1.000m3/ngđ với công nghệ hóa học kết hợp hệ
thống hồ sinh học tại bãi chôn lấp Phước Hiệp, Củ Chi (tạm thời) (Dự án 1) trong năm 2004.
- Xây dựng trạm xử lý nước rò rỉ công suất 800m3/ngđ với công nghệ sinh học kết hợp công
nghệ lọc màng hoặc hệ thống hồ sinh học tại bãi chôn lấp Phước Hiệp, Củ Chi (lâu dài) (Dự án 2)
trong năm 2004.
- Đổi mới công nghệ và trang thiết bị phục vụ công tác quản lý chất thải rắn đô thị và công
nghiệp trong năm 2004.
- Duyệt và xây dựng hai bãi chôn lấp Đa Phước và Phước Hiệp (giai đoạn 2) trong năm 2004.
- Hoàn thành và xét duyệt dự án khả thi Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tân Thành (Thủ Thừa
– Long An) trong năm 2004.
- Nghiên cứu dự án xây dựng hai nhà máy chế biến compost và sản xuất phân hữu cơ có công
suất 1.000tấn/ngày tại Phước Hiệp (Củ Chi), Đa Phước và chương trình nghiên cứu ứng dụng đầu
ra phân compost cho nông nghiệp.
- Hoàn thành thủ tục và xây dựng Trạm đốt rác y tế công suất 500kg/ngđ tại xã Linh Xuân trong
năm 2004.
- Hoàn thành thủ tục và xây dựng Trạm xử lý chất thải nguy hại và chất thải công nghiệp tại
Linh Xuân trong năm 2005.
- Lập dự án khả thi xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải công nghiệp (kể cả chất thải nguy hại)
trong năm 2005.
- Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng các bãi chôn lấp (nước, không khí, sụt lún…) phục vụ
công tác quản lý và đào tạo trong năm 2004.
Với khối lượng công việc to lớn được nêu ra trong bản kế hoạch Quản lý chất thải rắn TPHCM
năm 2004-2005, nhất thiết phải có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa Sở Tài nguyên và Môi
trường và các sở ban ngành thành phố, các đơn vị và tổ chức liên quan cũng như được sự chỉ đạo
xuyên suốt của UBND thành phố và đặc biệt là sự đồng tình ủng hộ của toàn thể người dân sinh
sống tại TPHCM. Có như vậy, bản kế hoạch mới có thể thực hiện thành công và thực sự đem lại
hiệu quả rõ rệt.
Chúng ta hãy tin tưởng rằng với nội dung “Kế hoạch Quản lý chất thải rắn TPHCM năm 2004-
2005” hệ thống quản lý chất thải rắn hiện tại sẽ từng bước được hoàn thiện và sẽ phát huy ưu điểm
trong quá trình vận hành, đáp ứng được lòng mong mỏi của lãnh đạo và toàn thể nhân dân
TPHCM, để thành phố luôn xứng đáng với tầm vóc là một trung tâm thương mại, khoa học kỹ
thuật, dịch vụ và thực sự là một thành phố sạch, xanh, đẹp của cả nước.
CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC THẢI CHO CÁC KHU, CỤM TUYẾN DÂN CƯ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
KS. Nguyễn Dương Quỳnh - Phòng QLCN và ATBX
Sở Khoa học và Công nghệ An Giang
Nhu cầu xử lý rác thải
Rác thải sinh hoạt là vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị
hoá, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay. Ở các đô thị lớn của Việt
Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Xử lý rác luôn là vấn đề làm
đau đầu các nhà quản lý môi trường đô thị. Không riêng gì đối với các đô thị đông dân cư,
việc chọn công nghệ xử lý rác như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên những hậu
quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các
ngành chức năng. Đối với các khu, cụm tuyến dân cư như ở các xã trên địa bàn các huyện
của tỉnh An Giang, việc lựa chọn mô hình xử lý rác cho phù hợp và ít tốn kém lại càng khó
khăn hơn.
Để thực hiện tốt công tác quản lý, xử lý rác thải, Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Tài
nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân 9 huyện trong tỉnh triển khai mô hình
"Chuyển giao mô hình quản lý, xử lý chất thải rắn". Mô hình đã thực hiện ở các huyện
Tịnh Biên, Châu Thành, đang thực hiện ở các huyện Châu Phú, Thoại Sơn và sẽ triển khai
ở 5 huyện còn lại từ nay đến năm 2010. Kết quả thực hiện mô hình sẽ góp phần làm giảm
thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện mỹ quan và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng
đồng dân cư, đồng thời tạo điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý, thu gom xử lý
chất thải rắn. Tuy nhiên, hiện nay các mô hình này chỉ mới quản lý và xử lý rác thải ở mức
độ giới hạn, để giải quyết triệt để rác thải ở các khu, cụm tuyến dân cư trong thời gian tới,
cần áp dụng các giải pháp công nghệ xử lý chất thải triệt để và hoàn chỉnh hơn.
Một số công nghệ xử lý rác thải có thể ứng dụng cho An Giang
Để xử lý rác thải, phương pháp đơn giản nhất là chôn rác, thế nhưng, với lượng rác thải
ngày càng tăng, không dễ gì tìm được những khu đất đủ rộng để chôn rác. Hơn nữa, đem
rác đi chôn là một việc làm bất đắc dĩ vì những hậu quả lâu dài của nó khó mà lường hết
được như: ô nhiễm nguồn nước ngầm do nước rác rò rỉ thấm xuống, phát sinh các khí độc
hại, chi phí cao cho việc chống rò rỉ và xử lý khí thải… Một số nhà máy chế biến phân bón
từ rác thải đã hình thành nhưng xem ra những sản phẩm phân bón vi sinh còn khó tiêu thụ
vì nông dân chưa quen sử dụng các loại phân bón này…
Gần đây, với sự tập trung đầu tư nghiên cứu, một số công nghệ mới xử lý rác thải đạt hiệu
quả cao đã ra đời:
* Công nghệ xử lý nhiệt phân rác đô thị (công nghệ Entropic) của công ty Entropic
Energy:
So với phương pháp chôn lấp và phương pháp đốt, phương pháp nhiệt phân với nhiệt độ
thấp tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn như: cho ra sản phẩm chính là than tổng hợp có hàm lượng
lưu huỳnh thấp có thể dùng làm nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện, quy trình xử lý đơn
giản, vì xử lý trong nhiệt độ thấp (khoảng 50
oC
) nên tránh được các nguy cơ phản ứng sản
sinh ra chất độc hại và hiệu quả xử lý rất cao. Công ty Entropic Energy cũng đề xuất một
mô hình nhà máy xử lý rác phù hợp với thành phố Hồ Chí Minh với công suất xử lý: 6.400
tấn rác/ngày, sản phẩm chính thu được là 1.500 tấn than tổng hợp, nếu xây dựng luôn một
nhà máy phát điện kèm theo sử dụng hết chỗ than này thì sẽ cho ra một lượng điện năng là
150 MW/ngày. Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm phụ khác như nhiên liệu tái sinh, nước,
khí hydro, dầu nặng, nhẹ… Đây là một trong những công nghệ tiên tiến của thế giới trong
việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, nhưng còn ở quy mô lớn và là một trong những
mục tiêu áp dụng phát triển bền vững cho các đô thị đông dân cư, chưa áp dụng được ở các
khu, cụm tuyến dân cư quy mô vừa và nhỏ.
* Xử lý rác thải theo phương pháp 3R (viết tắt từ tiếng Anh, 3R là Reduce/Giảm thiểu -
Reuse/Tái sử dụng - Recycle/Tái chế): Hà Nội đang thực hiện và chính thức trở thành một
trong 4 thành phố ở châu Á triển khai. Trong vòng 3 năm (từ 2007 đến 2009), cơ quan phát
triển Nhật Bản (JICA) sẽ tài trợ 3 triệu USD cho Hà Nội để thực hiện dự án tại 4 quận nội
thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa; sau đó sẽ nhân rộng ra toàn thành
phố. Theo tính toán của JICA, nếu thực hiện tốt mô hình 3R, mỗi tháng thành phố Hà Nội
sẽ tiết kiệm được gần 4 tỷ đồng chi phí xử lý rác. Phương pháp thực hiện là rác sẽ được
phân loại tại nguồn, rác vô cơ và rác hữu cơ được tách riêng và phấn đấu đến năm 2010 sẽ
tận dụng được 30% rác. Những loại rác hữu cơ đã và đang được sử dụng làm phân bón.
Các loại rác như ni-lông, bìa giấy loại, nhựa sẽ được tái chế để dùng làm nguyên liệu.
Còn các loại rác vô cơ khác được tái chế thành vật liệu xây dựng nhẹ cấp thấp được dùng
cho các công trình cảnh quan đô thị. Như vậy, phần rác cần chôn lấp sẽ giảm đi…”
Trên thế giới, việc tái chế và tận dụng nhiều loại nguyên vật liệu từ rác đã được làm từ lâu,
mang lại hiệu quả cả về môi trường lẫn kinh tế. Tại các nước phát triển, mỗi gia đình đều
tự giác phân loại rác thải thành hữu cơ, vô cơ và rác tái chế… theo quy định nhằm thuận
lợi cho việc tái chế và xử lý. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề tưởng chừng đơn giản này hầu
như chưa được thực hiện.
* CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN BẰNG PHƯƠNG PHÁP YẾM KHÍ
TUỲ NGHI A.B.T (ANOXY BIO TECHNOLOGY):
Sơ đồ công nghệ :
- Nguyên lý hoạt động:
Rác tại các điểm tập kết trong thành phố được xử lý mùi hôi bằng chế phẩm sinh học, sau
đó đưa vào hầm ủ, trước khi đưa rác vào, hầm ủ có phun chế phẩm sinh học và chất phụ
gia sinh học. Rác tại các điểm tập kết đưa về sân xử lý không cần phân loại cho vào hầm ủ,
quá trình thực hiện có phun và trộn chế phẩm sinh học, dùng bạt phủ kín hầm và ủ trong
thời gian 28 ngày; trong thời gian ủ cứ 3 ngày mở bạt kiểm tra, phun bổ sung chế phẩm
sinh học lên bề mặt. Sau 28 ngày tiến hành đưa rác lên phân loại rác, các thành phần phi
hữu cơ xử lý riêng, mùn hữu cơ được chế biến thành phân hữu cơ sinh học.
- Đặc điểm công nghệ:
Ưu điểm:
+ Tái chế các chất không phân hủy thành những vật liệu có thể tái sử dụng được.
+ Không tốn đất chôn lấp chất thải rắn.
+ Không có nước rỉ rác và các khí độc hại, khí dễ gây cháy nổ sinh ra trong quá trình phân
hủy hữu cơ do đó không gây ô nhiễm môi trường.
+ Không phân loại ban đầu, do đó không làm ảnh hưởng đến công nhân lao động trực tiếp.
+ Thiết bị đơn giản, chi phí đầu tư thấp.
+ Vận hành đơn giản, chi phí vận hành thường xuyên không cao.
- Phạm vi áp dụng:
Có thể áp dụng cho nhiều quy mô công suất khác nhau, có thể áp dụng ở các khu vực nông
thôn, thành thị. Khu xử lý có thể xây dựng không quá xa đô thị do không có nước rỉ rác và
các khí độc hại thải ra.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét