Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở công ty cơ khí & xây lắp số 7


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở công ty cơ khí & xây lắp số 7": http://123doc.vn/document/1043489-mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-luong-san-pham-o-cong-ty-co-khi-xay-lap-so-7.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Thứ hai là kỹ thuật- công nghệ tiến bộ: Quá trình công nghệ là một quá
trình phức tạp, qua quá trình này ban đầu của nguyên vật liệu đ ợc thay đổi,
bổ sung hoặc cải thiện theo hớng phù hợp với công dụng của sản phẩm. Cho
nên công nghệ là yếu tố quyết định đến việc hình thành chất lợng sản phẩm.
Còn khoa học là yếu tố tạo ra lực đẩy, khả năng cải tiến và nâng cao chất l -
ợng. Điều này đợc thể hiện qua sự sáng tạo, sáng chế ra các sản phẩm mới,
sản phẩm thay thế có tính năng sử dụng cao hơn hoặc tạo ra các máy móc
thiết bị có khả năng sản xuất các sản phẩm tốt hơn, ở trình độ cao hơn. Mặc
dù kỹ thuật và công nghệ đợc đổi mới nhng thiết bị mà thì không thể nào
nâng cao đợc chất lợng sản phẩm. Hay nói cách khác nhóm yếu tố kỹ thuật-
công nghệ- thiết bị có mối quan hệ tơng hỗ khá chặt chẽ, không những chỉ
góp phần nâng cao chất lợng sản phẩm mà còn tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trờng, đa dạng hoá chủng loại nhằm đáp ứng sự đa
dạng của nhu cầu tiêu dùng; tạo ra sản phẩm có chất lợng cao mà giá thành
lại hạ.
* Thứ ba là yếu tố phơng pháp quan lý: Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật
tiên tiến, thiết bị công nghệ hiện đại, nhng không biết tổ chức lao động sản
xuất, tổ chức kiểm tra chất lợng sản phẩm, tổ chức tiêu thụ, vận chuyển, dự
trbảo quản hàng hoá, sửa chữa vận hành và nâng cấp máy móc thiết bị hay
nói cách khác không biết quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nào nâng
cao đợc chất lợng sản phẩm. Thật là sai lầm khi cho rằng chất lợng sản phẩm
tốt hay xấu là hoàn toàn phụ thuộc vào công nhân, vào các yếu tố của quá
trình sản xuất.
Sơ đồ:2
Nhng thực tế lỗi do trực tiếp sản xuất chỉ chiếm từ 15%-20%, trong khi đó
80%-85% là lỗi của hệ thống quản lý không hoàn hảo. Những vấn đề chất l -
ợng tốn kém nhất thờng là bắt nguồn từ đầu bút chì và từ đầu dây điện thoại
. Muốn giải quyết tốt vấn đề này thì cần phải có sự điều chỉnh có mục tiêu,
chứ không thể dùng các biện pháp chữa cháy, các biện pháp tình thế ngày
một ngày hai. Vấn đề chất lợng là trách nhiệm của mọi thành viên trong
doanh nghiệp, trong đó phơng pháp tổ chức quản lý giữ vai trò quyết định.
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
5
15%
85%
Lỗi do sản xuất Lỗi do quản lý
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Thứ t là nhân tố con ngời: Con ngời là nhân tố quan trọng nhất, quyết định
đến chất lợng sản phẩm. Vì thực ra con ngời chính là lực lợng lao động tác
động vào đối tợng lao động để tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu. Phải hiểu
rằng con ngời ở đây không chỉ riêng lao động trực tiếp sản xuất mà còn là
cán bộ lãnh đạo của đơn vị thậm chí còn xét đến cả bản thân ng ời tiêu dùng.
Sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lợng trong sản xuất kỹ thuật nhng không đợc
ngời tiêu dùng chấp nhận nằm ứ đọng trong kho thì cũng không đợc gọi là
sản phẩm đạt chất lợng đợc. Chất lợng phải tính toàn bộ từ khâu đầu vào cho
đến khâu cuối cùng chứ không chỉ riêng cho quá trình sản xuất cục bộ. Muốn
thực hiện chất lợng sản phẩm một cách toàn diện thì ít nhất đội ngũ cán bộ
lẫnh đạo cấp cao phải có nhận thức đúng đắn về việc nâng cao chất lợng sản
phẩm để có những chủ trơng, những chính sách đúng đắn về chất lợng sản
phẩm thể hiện trong mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Vấn đề con ng-
ời phải đợc đặt lên hàng đầu, con ngời cần phải đợc đào tạo mà trớc hết là
cán bộ quản lý rồi mới đến công nhân kỹ thuật. Mọi ngời phải có nhận thức
rằng nâng cao chất lợng sản phẩm là trách nhiệm và vinh dự của mọi thành
viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thân đối với sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp.
Sự phân chia tách bạch các yếu tố trên chỉ là quy ớc để hiểu rõ tác động của
từng nhân tố đến chất lợng sản phẩm chứ thực ra trong các yếu tố này có yếu
tố kia, yếu tố kia lại quay trở lại tác động vài yếu tố này. Các yếu tố là một
thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ với nhau và đợc thể hiiện qua sơ đồ.
Sơ đồ: 3
2.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
Doanh nghiệp cũng nh một cơ thể sống, cũng trao đổi với môi trờng bên ngoài.
Doanh nghiệp nào tự tách mình ra khỏi môi trờng thì doanh nghiệp đó khó thể tồn
tại đợc huống chi là nói đến vấn đề phát triển và mở rộng qui mô. Cho nên khi xét
đến các nhân tố ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm không thể bỏ qua các nhân tố về
thị trờng, về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, về chính sách quản lý của nhà n-
ớc
2.2.1 Nhu cầu của nền kinh tế.
Đòi hỏi của thị trờng:
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
6
Machine
Máy móc thiết bị
Method
Ph ơng pháp
Material Nguyên
vật liệu
Men
Con
ng ời
Chất
l ợng
Sản
phẩm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhu cầu của thị trờng về sản phẩm chính là những yêiu cầu về cỡ, loại tính năng kỹ
thuật, số lợng, sản xuất cho ai và vào lúc nào Hơn nữa, đòi hỏi của thị trờng trong
nớc lại khác với sự đòi hỏi của thị trờng nớc ngoài. Trên mỗi thị trờng lại có những
yêu cầu khác nhau đối với từng đối tợng sử dụng. Đó là cha nói đến sự biến đổi của
thị trờng về một phơng diện nào đó, theo một chiều hớng nào đó cũng làm cho sản
phẩm phải đợc điều chỉnh thích ứng về chất lợng. Nhạy cảm với sự thị trờng là
nguồn sinh lực của quá trình hình thành và phát triển tất cả các sản phẩm. Điều
quan trọng là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng tình hình và đòi hỏi của thị tr-
ờng, nghiên cứu, lợng hoá từ đó có chính sách đúng đắn.
Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất:
Đó là khả năng kinh tế và trình độ kỹ thuật có cho phép hình thành và phát triển
một sản phẩm nào đó có mức chất lợng tối u hay không. Đảm bảo chất lợng luôn là
vấn đề nội tại của bản thân nền sản xuất xã hội, nhng việc chất lợng không thể vợt
ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế. Cho nên lo gic của vấn đề là muốn cho
sản phẩm có chất lợng thì phải trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao trình độ sản
xuất, trình độ kinh tế.
Chính sách kinh tế:
Hớng đầu t, hớng phát triển loại sản phẩm và mức thoả mãn các loại nhu cầu của
chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hởng tới chất lợng sản phẩm. Nh
chính sách khuyến khích sản xuất những sản phẩm gì và không khuyến khích
những sản phẩm gì, khuyến khích xuất khẩu những sản phẩm nào, với mức lợi
nhuận nào cần có: chính sách khích lệ ngời lao động nh thế nào Ngay cả chính
sách trong sự hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật nhằm tạo con đờng đặc thù trong
phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định nào đó trực tiếp chi phối sự thuận lợi
hay không thuận lợi cho sự phát triển về chất lợng sản phẩm.
2.2.2 Sự phát triển của khoa học công nghệ
Trong thời đại ngày nay, cùng với đặc điểm là khoa học công nghệ trở thành
lực lợng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lợng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn
liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự ứng dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất. Xét trong việc tổ chức
ra sản phẩm cụ thể nào đó, cái quyết định để có sự nhảy vọt về năng suất , chất lợng
và hiệu quả chính là việc ứng dụng các thành tựu tiến bộ. Hớng chính của việc áp
dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, xác lập các vật liệu mới (đặc biệt là các nguồn nguyên liệu
sẵn có, chủ động) có thể hoặc tạo nên những tính chất mới cho sản phẩm tạo thành,
hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhng duy trì tính chất cơ bản của sản phẩm. ở đây
có điều quan trọng là khi sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế nhất thiết
phải qua nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá, kết luận về công dụng của nó có đúng
nghĩa vật liệu thay thế không.
Hớng thứ hai là cải tiến hay đổi mới công nghệ: Với sản phẩm đã xác
định,một công nghệ nào đó chỉ cho phép đạt đợc tới một mức chất lợng tối đa ứng
với nó. Công nghệ chế tạo càng tiến bộ thì càng có khả năng tạo cho sản phẩm có
chất lợng cao hơn, ổn định hơn. Ví dụ trong ngành đúc, công nghệ đúc bằng khuôn
kim loại có năng suất và chất lợng cao hơn khuôn đúc cát; trong nhiệt luyện, tôi
trên máy tần số chất lợng gia công bề mặt đồng đều hơn tôi ở lò điện hay lò phản
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xạ. ở nớc ta nói chung, trình độ trang thiết bị công nghệ của các ngành cha cao, còn
nhiều bất hợp lý tiềm năng cha khai thác hết. Vì vậy, đồng thời với việc thiết lập các
hệ thống công nghệ hiện đại, cần tập trung cải tiến, đổi mới công nghệ từng phần
sắp xếp lại các dây chuyền công nghệ sản xuất hợp lý, đây là điều quan trọng đặc
biệt , nó sẽ đem lại hiệu quả một cách nhanh chóng và tiết kiệm cho nên kinh tế.
Hớng thứ ba là hớng cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới. Bằng
cách áp dụng tiến bộ khoa học, cải tiến, nâng cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử
dụng của các sản phẩm hiện có , làm cho nó thoả mãn mục đích và yêu cầu sử dụng
một cách tốt hơn. Tuỳ từng loại sản phẩm có nội dung cải tiến khác nhau nhng hớng
chung là cải tiến để nâng cao những chỉ tiêu cơ bản và ổn định các chỉ tiêu đó. Với
sản phẩm hớng chính là tạo ra kích cỡ, thông số, loại và các chỉ tiêu đặc trng cho
chất lợng nhằm đáp ứng các yêu cầu mới xuất hiện hoặc thoả mãn những nhu cầu
nâng cao mục đích sử dụng cũ. ở nớc ta, cải tiến nângcao chất lợng cho những sản
phẩm cũ trên cơ sở phát huy tiềm năng của công nghệ, của vật t, của lao động hiện
có là nội dung và biện pháp có ý nghĩa hàng đầu, ít tốn kém và đem lại hiệu quả
nhanh. Tất nhiên, việc nghiên cứu chế thử sản phẩm mới có ý nghĩa riêng của nó.
Nhng phải tính toán, cân nhắc, chuẩn bị chu đáo, để thực sự có sản phẩm đúng
nghĩa là mới, tức là tiến bộ hơn, có tínhnăng kỹ thuật và giá trị sử dụng u việt hơn
sản phẩm cùng loại đã có.
Thực ra có rất nhiều hớng áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào việc nâng
cao chất lợng sản phẩm. Nhng trên đây là ba hớng cơ bản, điển hình hơn cả. Doanh
nghiệp sẽ dựa vào đặc điểm nội lực của mình để lựa chọn hớng áp dụng cụ thể.
Điều quan trọng không phải là áp dụng nhiều hớng, mà là kết quả cuối cùng sản
phẩm của mình có đợc ngời tiêu dùng thừa nhận hay không, doanh số và lợi nhuận
có tăng lên hay không.
2.2.3 Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế:
Bất kỳ hoạt động sản xuất nào, dới chế độ nào cũng chịu tác động, chịu chi phối
của cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội nhất định. Do đó chất lợng sản phẩm
cũng bị yếu tố này qui định. Điều đó đợc thể hiện qua các mặt sau đây:
Kế hoạch hoá phát triển kinh tế:
Một quan điểm, một phơng pháp kế hoạch hoá đảm bảo nguyên tắc cân đối các
yếu tố vật chất và tinh thần, cân đối giữa số lợng và chất lợng, cân đối giữa tích luỹ
và tiêu dùng, lấy yêu cầu chất lợng tiêu dùng làm điểm xuất phát thì nhất định sự
phát triển sản xuất sẽ đi vào con đờng đảm bảo chất lợng. Trong quá trình xây
dựng , xét duyệt, đánh giá hoàn thành kế hoạch, nếu luôn luôn tính tới yếu tố chất l-
ợng, không đem chất lợng đối lập với số lợng, phân tích sâu sắc, tỉ mỉ hiệu quả
chung đem lại . thì chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ đạt đợc mức chất lợng hợp lý
nhất trong điều kiện cho phép.
Giá cả
Giá cả phải định theo mức chất lợng. Sản phẩm có nhiều mức chất lợng khác
nhau thì phải có giá trị tơng ứng khác nhau. Đồng thời, chênh lệch giá giữa các sản
phẩm cùng loại có mức chất lợng khác nhau phải đảm bảo khuyến khích sản xuất ra
các sản phẩm có mức chất lợng cao.
Chính sách đầu t:
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chúng ta cần phải chú trọng đầu t theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả tổng hợp
của các lực lợng sản xuất bằng cách dành lực lợng nh thiết bị, ngời lao động thích
đáng cho việc nghiên cứu chế thử . nhằm nâng cao chất lợng. Đây là hớng đầu t
quan trọng nhất để nâng cao chất lợng sản phẩm và hiệu quả chung của nền kinh tế.
Tổ chức quản lý về chất lợng:
Đó chính là việc hình thành cơ chế quản lý chất lợng sản phẩm trong cơ chế
chung của quản lý kinh tế. Mục tiêu chất lợng và hiệu quả phải đợc thể hiện trong
từng việc làm và kết quả cụ thể của mọi mặt hoạt động có liên quan từ nghiên cứu,
thiết kế, chế thử đến tố chức sản xuất, lu thông, sử dụng sản phẩm.
Tóm lại, một cơ chế hợp lý, một môi trờng pháp lý bình đẳng và đồng bộ là điều
kiện thuận lợi cho lĩnh vực chất lợng hoạt động. Chính Nhà nớc sẽ tạo ra môi trờng
cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp muốn đứng vững để phát triển phải đ-
a vấn đề nâng cao chất lợng sản phẩm lên hàng đầu.
II. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lợng sản phẩm, vai trò và đặc điểm của
chất lợng sản phẩm.
1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lợng sản phẩm.
Tuỳ theo mục đích sử dụng, các chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm, hàng hoá có
thể chia thành 4 nhóm cơ bản sau:
Nhóm chỉ tiêu sử dụng.
Đây là nhóm chỉ tiêu chất lợng mà ngời tiêu dùng khi mua sản phẩm thờng quan
tâm đến, nhóm này bao gồm:
- Thời gian sử dụng.
- Mức độ an toàn trong sử dụng.
- Khả năng sửa chữa thay thế các chi tiết.
- Hiệu quả sử dụng (sinh lợi, tiện lợi).
Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ.
Đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinh doanh th-
ờng dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm. Các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ
có rất nhiều nhng quan trong hơn cả là các chỉ tiêu sau đây:
- Chỉ tiêu về kích thớc: thờng đợc áp dụng cho các sản phẩm nh:
giày dép, hàng dệt, hàng may mặc .hoặc để hợp lý hoá sản
xuất, đóng gói vận chuyển, bảo quản.
- Chỉ tiêu về cơ lý nh khối lợng các thông số, các yêu cầu về kỹ
thuật nh độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, độ an toàn trong sử
dụng
- Chỉ tiêu về sinh hoá nh thành phần hoá học biểu thị giá trị dinh
dỡng của thực phẩm, khả năng sinh nhiệt, hệ số tiêu hóa sự có
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mặt của thành phần hoá học bổ sung đôi khi dẫn đến những
thay đổi quan trọng về chất lợng.
Việc lựa chọn nhữnhg chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ để kiểm tra, đánh giá một mặt
hàng nào đó phải xuất phát từ công dụng, đặc điểm cấu tạo cũng nh điều kiện sử
dụng của sản phẩm ấy.
Nhóm chỉ tiêu kiểu dáng thẩm mỹ bao gồm:
- Tính biểu hiện của kiểu dáng: thể hiện ở bố cục rõ ràng, từng
bộ phận đờng nét phải tạo ra hiệu quả thẩm mỹ.
- Tính hoàn chỉnh: thể hiện ở sự thống nhất hữu cơ giữa các bộ
phận riêng lẻ, vừa tinh tế vừa hài hoà.
- Sự phong phú về kiểu cách, mẫu mã nhng lại phù hợp với nhu
cầu tiêu dùng.
- Sản phẩm phải đảm bảo sự hài hoà về màu sắc, làm tôn tính
độc đáo của sản phẩm.
Nhóm chỉ tiêu kinh tế: Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không chỉ
quan tâm đến chất lợng sản phẩm mà còn phải xem xét kỹ giá cả của sản
phẩm. Một sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao là sản phẩm đạt chất lợng
cao mà chi phí của chất lợng lại thấp: đó là toàn bộ các chi phí liên quan đến
quá trình sản xuất, tiêu dùng và các chi phí khác.
2. Vai trò của chất lợng sản phẩm.
* Chất lợng sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và thể hiện
đợc sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Chất lợng sản phẩm nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng nhờ đó mà
uy tín của doanh nghiệp đợc đảm bảo. Đó chính là cơ sở quan trọng để cho doanh
nghiệp có thể phát triển một cách bền vững và lâu dài.
* Chất lợng sản phẩm có ý nghĩa làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí khi
chúng ta nâng một tỉ lệ chất lợng sản phẩm lên.
* Nâng cao chất lợng sản phẩm giúp cho ngời tiêu dùng tiết kiệm đợc thời gian, sức
lực trong quá trình sử dụng, vận hành. Nâng cao chất lợng sản phẩm cũng là một
giải pháp quan trọng thống nhất lợi ích giữa ngời tiêu dùng và doanh nghiệp.
* Nâng cao chất lợng sản phẩm là cơ sở để tăng khả năng xuất khẩu và khẳng định
vị trí sản phẩm Việt Nam trên thị trờng quốc tế, đồng thời tăng khả năng trúng thầu
của các doanh nghiệp.
3. Đặc điểm của chất lợng sản phẩm.
* Chất lợng sản phẩm là một phạm trù kinh tế, xã hội, kỹ thuật, đợc quy định bởi
các yếu tố tạo nên sản phẩm. Chất lợng sản phẩm tuỳ thuộc vào thời gian, không
gian và luôn luôn thay đổi.
* Khi chúng ta nói tới vấn đề chất lợng sản phẩm là nói tới vấn đề quản lý.
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Chất lợng sản phẩm có tính tơng đối, vận động liên tục và thay đổi theo không
gian, thời gian cũng nh sở thích của khách hàng. Do đó đây chính là một đặc điểm
mà các nhà quản lý chất lợng cần phải quan tâm để cải tiến không ngừng.
* Chất lợng sản phẩm tuỳ thuộc vào các loại thị trờng cụ thể; mà có thể đợc đánh
giá cao trên thị trờng này nhng lại bị coi nhẹ trên thị trờng khác, có thể đợc khách
hàng này a chuộng nhng đối với khách hàng khác lại không đợc a chuộng.
* Chất lợng sản phẩm có thể đợc đo lờng và đánh giá thông qua các chỉ tiêu, tiêu
chuẩn.
* Chất lợng sản phẩm có thể quản lý đợc thông qua các chỉ tiêu; nó gồm hai thuộc
tính cơ bản đó là tính vật lý khách quan và tính phù hợp.
* Chất lợng của mỗi loại sản phẩm đợc xác định trong nhiều điều kiện cụ thể, với
những mục đích cụ thể tơng ứng với một đối tợng tiêu dùng; không có chất lợng sản
phẩm chung cho mọi ngời. sản phẩm chỉ thể hiện chất lợng của mình trong những
điều kiện tiêu dùng nhất định, với những mục đích nhất định.
4. Quản lý chất lợng sản phẩm biện pháp để nâng cao chất lợng sản phẩm
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
4.1 Chất lợng trong thiết kế sản phẩm.
Thiết kế sản phẩm là một quả trình sáng tạo dựa trên những kiến thức am
hiểu về thị trờng để chuyển hoá những nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm chất
lợng của sản phẩm. Thiết kế sản phẩm có vai trò rất quan trọng vì nó là khâu đầu
tiên để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doạnh của doanh nghiệp. Nếu thiết kế đúng
đắn phù hợp với nhu cầu của thị trờng sẽ góp phần vào thành quả hoạt động, vào
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp đã xây dng đợc sản
phẩm theo đúng nghĩa của nó.
Công tác thiết kế sản phẩm bao gồm các bớc sau:
- Tập hợp các chuyên gia thiết kế , các cán bộ quản lý để cùng nhau
thiết kế ra sản phẩm mới.
- Tiếp nhận phân tích thông tin từ bộ phận điều tra thị trờng.
- Đề xuất các phơng án khác nhau về đặc điểm của sản phẩm có đáp ứng
đợc nhu cầu thị trờng.
- Thực hiện kiểm tra đánh giá và phân tích các phơng án nhằm lựa chọn
ra phơng án tối u.
- Sản xuất thử.
- Trng cầu ý kiến khách hàng, tiến hành hiệu chỉnh.
- Phân tích để đa vào sản xuất hàng loạt.
Trong giai đoạn thiết kế cần đánh giá một số chỉ tiêu cơ bản sau:
- Trình độ sản phẩm thiết kế: nh chỉ tiêu sử dụng , chỉ tiêu thẩm mỹ, chỉ
tiêu kinh tế
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chỉ tiêu tổng hợp về công nghệ và chất lợng chế thử.
- Hệ số khuyết tật của sản phẩm chế thử và các biện pháp điều chỉnh
những sai hỏng đó.
4.2 Bảo đảm chất lợng nguyên vật liệu cung ứng.
Ngời sản xuất sẽ không thể nào bảo đảm chất lợng sản phẩm của mình nếu nguyên
liệu và vật t mà bên cung ứng giao cho đạt tiêu chuẩn hay có khuyết tật. Vì vậy chất
lợng nguyên vật liệu của ngời cung cấp đợc đặc biệt quan tâm.
Việc đảm bảo chất lợng nguyên vật liệu cũng là điều kiện cần thiết để kế hoạch hoá
nhịp nhàng các công đoạn sản xuất, nâng cao năng suất và lập kế hoạch giảm chi
phí. Nội dung của việc bảo đảm chất lợng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu bao
gồm các bớc sau:
- Lập kế hoạch cung ứng nguyên vật kiêu cho sản xuất.
- Lựa chon nguồn cung ứng.
- Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thờng xuyên giữa doanh
nghiệp và nhà cung ứng.
- Thoả thuận việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất lợng vật t cung ứng, các
phơng pháp kiểm tra xác minh nguyênvật liệu.
- Xác định các phơng án giao nhận và thời hạn giao nhận.
- Xác định rõ, đầy đủ và thống nhất các điều khoản trong việc giải quyết
các sai hỏng của quả trình cung ứng nguyên vật liệu.
Muốn đánh giá việc cung ứng nguyên vật liệu có đạt tiêu chuẩn hay không phải căn
cứ vào ba chỉ tiêu chính sau:
- Số lần cung ứng đúng thời hạn.
- Tỉ lệ nguyên vật liệu không đạt tiêu chuẩn chất lợng.
- Tổng chi phí cho việc cung ứng.
Khi đã có những chỉ tiêu chất lợng mà thị trờng đặt ra trong giai đoạn thiết kế sản
phẩm, khi đã có nguyên vật liệu đúng yêu cầu, doanh nghiệp phải bắt tay ngay vào
việc sản xuất sản phẩm. Vấn đề trung tâm ở đây là muốn nâng cao chất lợng sản
phẩm phải quản lý chất lợng sản phẩm trong giai đoạn sản xuất.
4.3 Quản lý chất lợng trong giai sản xuất.
Mục đích của quản lý quá trình sản xuất không phải là loại bỏ những sản phẩm xấu,
kém chất lợng vừa sản xuất xong mà là ngăn chặn sao cho không có những sản
phẩm xấu trong quá trình sản xuất. Trong sản xuất, phải phát hiện ngay những sai
sót càng sớm càng tốt. Ngoài ra cần có nhận thức đúng đắn, nâng cao chất lợng sản
xuất sản phẩm,quản lý quá trình sản xuất không chỉ là trách nhiệm của các nhà
quản lý mà là trách nhiệm của mọi thành viên. Quản lý chất lợng trong giai đoạn
sản xuất nhằm mục tiêu sau:
* Trớc tiên là huy động mọi nguồn lực của doanh nghiêp để sản xuất chế biến sản
phẩm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu khách hàng.
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Sau đó sẽ là đảm bảo chi phí ở mức thấp nhất, đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản
xuất đúng thời gian quy định, đảm bảo duy trì chất lợng sản phẩm trong quá trình lu
thông, kinh doanh.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn nàylà:
- Cung cấp đúng số lợng, chất lợng nguyên vật liệu một cách kịp thời.
- Thông báo mục tiêu chất lợng và phân công việc cụ thể đến từng cá
nhân trong tố chức.
- Tiến hành kiểm tra nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm trớc khi đa
vào sản xuất.
- Kiểm tra thờng xuyên hệ thống máy móc thiết bị thông qua công tác
duy tu bảo hành.
- Kiểm tra một cách toàn diện chất lợng sản phẩm theo yêu cầu thiết kế.
Khi sản phẩm đợc sản xuất xong là doanh nghiệp đã đi đợc 3/4 trong chặng đờng
nâng cao chất lợng sản phẩm đoạn đờng còn lại là quản lý chất lợng trong và sau
khi bán.
4.4 Các biện pháp bảo đảm chất lợng trong và sau khi bán hàng.
Điểm quan trọng trong quá trình phân phối là phải duy trì một cách tốt nhất chất l-
ợng sản phẩm cho khách hàng. Sau khi bán đợc hàng không phải doanh nghiệp đã
hết trách nhiệm doanh nghiệp còn phải giải quyết những tình huống không thể lờng
trớc đợc, đó là những vấn đề thoả mãn những khiếu nại của ngời tiêu dùng khi chất
lợng sản phẩm của mình gặp sự cố.
Nhà sản xuất cung cấp sản phẩm chất lợng thấp, khách hàng sẽ khiếu nại. Nhng
thông thờng chỉ khiếu nại những sản phẩm giá trị cao, còn những sản phẩm giá trị
thấp đôi khi khách hàng cũng bỏ qua. Và thế là những thông tin về chất lợng sản
phẩm không đến đợc nhà sản xuất. Còn ngời tiêu dùng thì lẳng lặng tìm mua sản
phẩm của hãng khác. Vì vậy các nhà sản xuất còn phải làm sao thu thập đợc những
khiếu nại của ngời tiêu dùng ngay cả đối với những sản phẩm có giá trị thấp. Tuy
nhiên, thông tin khiếu nại về chất lợng sản phẩm có hữu hiệu, có đợc giải quyết triệt
để hay không còn tuỳ thuộc vào thái độ, vào cách thức tổ chức của nhà sản xuất.
Biện pháp hữu hiệu nhất là tổ chức các mối liên hệ ngợc với các khiếu nại của ngời
tiêu dùng.
Ngoài ra bảo hành là một hoạt động cần thiết và có tầm quan trọng để đảm bảo
chất lợng sản phẩm trong quá trình sử dụng. Cần phải có thời gian bảo hành sản
xuất sản phẩm, đơn vị sản xuất sẽ chịu chi phí nếu sản phẩm bị trục trặc trong quá
trình sử dụng. Bảo hành, bảo dỡng kỹ thuật là sự thoả thuận giữa nhà kinh doanh và
ngời tiêu dùng. Doanh nghiệp phải đảm bảo cho lợi ích của ngời tiêu dùng càng
nhiều thì uy tín của doanh nghiệp càng đợc nâng cao và lợi nhuận của họ càng lớn.
Hơn nữa, nguyên nhân dẫn đến hỏng sản phẩm là việc sử dụng không đúng, vận
hành trong những điều kiện bất thờng hoặc kiểm tra định kỳ không đầy đủ. Chính vì
thế đối với tất cả sản phẩm, nhất là sản phẩm sử dụng lâu, cần phải có tài liệu hớng
dẫn sử dụng, hớng dẫn kiểm tra định kỳ thật chi tiết.Tài liệu hớng dẫn phải đợc
trình bày dễ hiểu, đầy đủ sao cho bất cứ ngời tiêu dùng nào cũng có thể hiểu đợc.
Trong tài liệu này cần nêu rõ những quyền lợi sử dụng sản phẩm và trách nhiệm của
nhà sản xuất đối với sản phẩm mà công ty mình sản xuất ra.
5. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nâng cao chất lợng sản phẩm đối với
các doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay.
Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ đặc biệt là công
nghệ thông tin đã tạo ra những đIều kiện to lớn cho giao lu, thu thập, nắm bắt, xử lý
thông tin trên các thị trờng xa xôi. Nó trở thành vũ khí quan trọng để các doanh
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp nâng cao chất lợng sản phẩm của mình để có khả năng cạnh tranh, vơn ra
những thị trờng rộng lớn hơn, phục vụ khách hàng đầy đủ kịp thời hơn, chất lợng
cao nhng chi phí giảm làm cho các hoạt động hiệu quả hơn.
Thị trờng không còn là độc quyền của một số nớc, mà có sự tham gia của rất
nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau. Xu hớng toàn cầu hoá nền kinh
tế một mặt tạo ra môi trờng thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, nắm bắt đợc
cơ hội kinh doanh mới nhng mặt khác cũng làm cho cạnh tranh trên thị trờng ngày
càng trở lên gay gắt hơn.
Đảm bảo sản phẩm sản xuất ra có thị trờng tiêu thụ các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm. chất lợng là một trong những giải pháp
quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam tăng cờng khả năng cạnh tranh trên thị
trờng, tăng khả năng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Ngợc lại khả năng cạnh
tranh trên thị trờng cao lại tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ và nâng
cao chất lợng sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm tốt là cơ sở cho doanh nghiệp thực hiện chiến lợc mở rộng
thị trờng, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm. Từ đó là cơ sở cho sự tồn tại và phát
triển lâu dài của doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp. Bởi
vì, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào phát triển sản
xuất, nâng suất cao mà còn đợc tạo ra bởi sự tiết kiệm trong quá trình sản xuất và sự
tiết kiệm nhờ không lãng phí do không sản xuất ra những sản phẩm sai hỏng, kém
chất lợng.
Nâng cao chất lợng sản phẩm đồng nghĩa với tính hữu ích của sản phẩm đợc
nâng cao, thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, đồng thời giảm chi phí trên một
đơn vị sản phẩm (giẩm nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm đợc tài nguyên, giảm
những vấn đề ô nhiễm môi trờng). Nh vậy nâng cao chất lợng sản phẩm chính là
con đờng ngắn nhất đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Nâng cao chất lợng sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu lợi nhuận.
Chất lợng sản phẩm góp phần thúc đẩy tiến bộ sản xuất, đẩy mạnh tổ chức lao
động trong doanh nghiệp, đảm bảo việc làm ổn định, tăng thu nhập và làm cho ngời
lao động tin tởng, gắn bó với doanh nghiệp vì chính họ là ngời tạo ra những sản
phẩm có chất lợng cao giúp doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn.
Phần II: Thực trạng chất lợng sản phẩm ở Công ty Cơ khí
và Xây lắp số 7- COMA7
I. Quá trình hình thành , phát triển và đặc đIểm của Công ty Cơ khí
và Xây lắp số 7
1. Quá trình hình thành và phát triển của COMA 7.
Công ty Cơ khí và xây lắp số 7 là một doanh nghiệp nhà nớc, có tên giao dịch
quốc tế là Construction Mechinery Company No 7- COMA7, có địa điểm đặt tại
Km14- Quốc lộ 1A - Xã Liên Ninh - huyện Thanh Trì - Hà Nội, với diện tích là 4,5
ha; là một trong 23 thành viên của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng thuộc Bộ Xây
dựng. Sau 36 năm ra đời và hoạt động, Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 đă từng bớc
khẳng định vị thế vững chắc của mình trong Ngành Cơ khí xây dựng. Quá trình
hình thành và phát triển của Công ty có thể đợc khái quát nh sau:
1.1 Trớc tháng 12 năm 1986
Nguyễn Văn Hiếu Lớp: QTCL 40
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét