Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Tài liệu ĐỀ TÀI:XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM Ở VIỆT NAM pptx


http://svnckh.com.vn
5

mạnh hoá nền kinh tế, tăng cƣờng hiệu quả huy động và sử dụng vốn, làm thị
trƣờng vận hành một cách an toàn, giúp các nhà phát hành tiếp cận nguồn vốn một
cách dễ dàng hơn thì cần thiết phải có các công ty định mức tín nhiệm. Với vai trò
đánh giá khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành, các công ty định mức tín
nhiệm sẽ góp phần bảo vệ thị trƣờng, bảo vệ nhà đầu tƣ, các tổ chức kinh tế nhằm
hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán trong thời gian tới.
Sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán trong tƣơng lai phụ thuộc rất nhiều
vào mức độ tham gia đầu tƣ của công chúng. Nên việc nghiên cứu để có những
giải pháp tạo lập và phát triển công ty định mức tín nhiệm, nhằm thu hút và tạo
điều kiện cho công chúng đầu tƣ vào thị trƣờng là việc làm cần thiết.
2. Mục tiêu đặt ra của đề tài :
Đề tài “Xây dựng và phát triển công ty định mức tín nhiệm ở Việt Nam ”
đƣợc thực hiện với mục tiêu đề xuất một số biện pháp tạo điều kiện hình thành
công ty định mức tín nhiệm và nền tảng để công ty hoạt động có hiệu quả trong
bối cảnh thị trƣờng Việt Nam hiện nay. Và xây dựng tiêu chí xếp hạng phù hợp
với Việt Nam đồng thời đạt tiêu chuẩn quốc tế
Song song với mục tiêu trên là đánh giá thực trạng tình hình tài chính nói
chung và tình hình TTCK nói riêng. Từ đó đƣa ra một số bƣớc chuẩn bị cơ bản để
hoàn thiện mô hình tổ chức các công ty định mức tín dụng trong tƣơng lai. Mặt
khác, nhấn mạnh vai trò các công ty định mức xếp hạng (CRA – Credit rating
agency) tham gia hỗ trợ phát triển thị trƣờng tài chính nƣớc ta.
3. Đối tƣợng, pham vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đề cập tới những vấn đề cơ bản về định mức xếp hạng tín dụng và các
CRA trên thế giới, kinh nghiện xây dựng và phát triển các CRA trên thế giới, cơ

http://svnckh.com.vn
6

sở pháp lý và quy định của chính phủ Việt Nam về việc xây dựng và phát triển các
CRA tại Việt Nam
Đề tài đƣợc xây dựng nghiên cứu trên cơ sở chọn lọc, kế thừa một cách có hệ
thống những kinh nghiện quý giá quá trình xây dựng và phát triển các CRA trên
thế giới. Đồng thời cũng nghiên cứu xem xét để áp dụng vào thực tế thị trƣờng
Việt Nam
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm công cụ
chủ đạo để thực hiện đề tài. Kết hợp lý luận, thực tế và các luật định trong nƣớc
cũng nhƣ một số tài liệu nƣớc ngoài nhằm đƣa ra những biện pháp chủ yếu để thiết
lập công ty định giá tín nhiệm ở Việt Nam. Ngoài ra, còn vận dụng các phƣơng
pháp tổng hợp, phân tích so sánh để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên
cứu
Danh mục viết tắt:
CRA: credit rating: tổ chức định mức tín nhiệm
IFC: (International Finance Corporation) Tập đoàn tài chính quốc tế
VAFI: Hiệp hội các nhà đầu tƣ tài chính Việt Nam















http://svnckh.com.vn
7

CHƢƠNG 1 T
1.1 Tổng quan về x nhiệm và công ty xếp hạng tín nhiệm
1.1.1 Khái niệm về xếp hạng tín nhiệm
Theo Khái niệm của công ty Moody’s xếp hạng tín nhiệm DN là đánh giá vị
thế hiện tại và dự báo về triển vọng tƣơng lai của DN trên cơ sở tổng hợp các chỉ
tiêu tài chính một cách có hiệu quả. Hay có thể hiểu là: xếp hạng tín nhiệm là việc
đƣa ra các nhận định hiện tại về mức độ tín nhiệm của nhà phát hành đối với một
trách nhiệm tài chính nào đó, hoặc là đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại
đầu tƣ khác nhau. Các "Đầu tƣ" này có thể dƣới dạng chứng khoán nhƣ là trái
phiếu, cổ phiếu ƣu đãi và giấy nhận nợ, công cụ cho vay khác nhƣ vay và gửi tiền
tại ngân hàng
Các loại chứng khoán và công cụ cho vay đóng vai trò là những hình thức huy
động vốn trên thị trƣờng. Rủi ro ở đây là rủi ro vỡ nợ của ngƣời phát hành chứng
khoán hoặc công cụ huy động vốn đó, do việc đầu tƣ thất bại gây ra. Không trả
đƣợc nợ cho một khoản đầu tƣ chủ yếu là do tình trạng phá sản hoặc thiếu khả
năng thanh toán đầy đủ vốn gốc và lãi theo nghĩa vụ của nhà phát hành, do không
có đủ khoản tiền thặng dƣ. Nói một cách rộng hơn, xếp hạng một đầu tƣ (đƣợc thể
hiện qua một hệ thống kí hiệu xếp hạng) bởi một công ty định mức tín nhiệm, thể
hiện ý kiến chuyên gia bên thứ 3 về mức độ rủi ro vỡ nợ gắn liền với thể loại đầu
tƣ đó. Xếp hạng có thể làm tăng hạng hoặc xuống hạng vị thế của một nhà phát
hành, một công cụ tài chính theo khả năng của nó có đáp ứng đƣợc các nghĩa vụ
đối với nhà đầu tƣ hay không. Điều này phụ thuộc thứ nhất là vào khối lƣợng tiền
có sẵn để thanh toán cho các nhà đầu tƣ, và thứ hai là khả năng dễ bị vỡ nợ đến
đâu khi các điều kiện kinh doanh thay đổi.
Xếp hạng tín nhiệm không nêu lên giá thị trƣờng hoặc sự biến động tƣơng lai
của một chứng khoán hay một khoản đầu tƣ nào đó. Do vậy, xếp hạng chỉ đơn
thuần là đƣa ra các ý kiến dựa trên các nhân tố rủi ro chứ không phải là một

http://svnckh.com.vn
8

khuyến nghị để mua, bán, giữ lại một chứng khoán hoặc một khoản đầu tƣ nào đó.
Một sự xếp hạng cao không đồng nghĩa là một khoản đầu tƣ tốt hơn so với một
xếp hạng thấp hơn. Một hệ thống xếp hạng khách quan, theo các công ty định mức
tín nhiệm hàng đầu, là phải cung cấp các đầu vào cần thiết để ra các quyết định
đầu tƣ đúng đắn. Để thực hiện điều này, các nhà đầu tƣ và các nhà cho vay đầu
tiên phải đƣợc thuyết phục về tính an toàn dài hạn của khoản cho vay. Mà điều này
chỉ có thể có đƣợc khi khả năng chi trả tƣơng lai của nhà phát hành đƣợc một công
ty định mức tín nhiệm có uy tín xác nhận
1.1.2 Công ty định mức tín nhiệm và vai trò của nó
1.1.2.1 Công ty định mức tín nhiệm và các vấn đề về định mức tín nhiệm.
a. Công ty định mức tín nhiệm
Các công ty ĐMTN không chỉ đánh giá hàng vạn DN mà còn đánh giá mức độ
tín nhiệm đối với chính phủ các quốc gia trên thế giới. ĐMTN DN thực chất là
việc đánh giá chất lƣợng, mức độ tin cậy, khả năng thanh toán của một công ty
phát hành đối với các công cụ nợ ngắn hạn (nhƣ hối phiếu, tín phiếu, chứng chỉ
tiền gửi), hoặc dài hạn (nhƣ trái phiếu, cổ phần ƣu đãi cổ tức…) dựa trên các yếu
tố rủi ro có liên quan. Phần lớn các công ty lớn niêm yết trên các thị trƣờng đều
phải đƣợc một công ty định mức tín nhiệm đáng tin cậy tiến hành định mức tín
nhiệm. Trong bối cảnh của những nền kinh tế mới nổi, định mức tín nhiệm chỉ là
một trong những yếu tố quyết định xem liệu những nền kinh tế mới nổi này có thể
thu hút đƣợc bao nhiêu vốn, nhƣng chắc chắn và không còn nghi ngờ gì hết định
mức tín nhiệm là một trong những nhân tố chính và những nhân tố quyết định rõ
ràng nhất về việc các nhà đầu tƣ có tổ chức kiểm soát luồng vốn lớn nhất thì nhận
thức nhƣ thế nào về các công ty và các nƣớc. Bản thân các công ty định mức tín
nhiệm cũng nhận thấy vai trò của mình trong việc phát triển nhất thiết phải là một
tổ chức trung lập, nghĩa vụ trƣớc hết của các công ty này là với các nhà đầu tƣ,

http://svnckh.com.vn
9

nhƣng bằng cách cung cấp thông tin các công ty định mức tín nhiệm có thể khiến
các quốc gia phải làm đúng để thu hút thêm vốn.
Giải thích về sự tồn tại của các công ty định mức tín nhiệm là do vấn đề cơ bản
của thị trƣờng tài chính: đó là vấn đề thông tin không đầy đủ. Các công ty định
mức tín nhiệm có thể đảm nhận vai trò hữu ích trong việc ra quyết định tài chính
bằng cách cung cấp cho những thành viên tham gia thị trƣờng những thông tin về
rủi ro tín dụng gắn liền với các khoản đầu tƣ khác nhau. Cùng với quá trình phát
triển ngắn và thiếu minh bạch, thông tin không đầy đủ thậm chí lại là khó khăn
hơn cả trong những nền kinh tế mới nổi. Do đó, ngƣời ta vẫn cho rằng vai trò quan
trọng của công ty định mức tín nhiệm là cung cấp cho những thành viên tham gia
thị trƣờng một hệ thống các khả năng trả nợ tƣơng đối của các công ty bằng cách
xâu chuỗi tất cả các thành phần của rủi ro phá sản thành một hệ số duy nhất – gọi
là hệ số định mức tín nhiệm.
Công ty định mức tín nhiệm có ảnh hƣởng mạnh mẽ không chỉ tới chi phí huy
động mà còn ảnh hƣởng tới khả năng sẵn sàng nắm giữ các loại công cụ tài chính
khác nhau của các nhà đầu tƣ có tổ chức. Những tổ chức vay nợ thƣờng tìm đến
các công ty định mức tín nhiệm để nhờ hỗ trợ mình tiếp cận với thị trƣờng vốn
toàn cầu vì nhiều nhà đầu tƣ có tổ chức thích những chứng khoán đƣợc định mức
tín nhiệm hơn là những chứng khoán rõ ràng có rủi ro tƣơng tự mà không đƣợc
đánh giá. Thêm vào đó, đánh giá rủi ro của các công ty định mức tín nhiệm về các
khoản nợ bên ngoài có ý nghĩa sống còn bởi vì nhiều nhà đầu tƣ có tổ chức hạn
chế nắm giữ trong danh mục đầu tƣ của họ những trái phiếu chỉ đƣợc xếp hạng
đầu tƣ.
Một định mức tín nhiệm không phải là một lời khuyên mua hoặc bán một
chứng khoán cụ thể nào đó. Ở nhiều quốc gia, điều này có thể là một lƣu ý quan
trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của một tổ chức định mức tín nhiệm
trong trƣờng hợp vỡ nợ, hoặc sự chấm dứt của một công ty hoặc các tổ chức khác

http://svnckh.com.vn
10

phát hành chứng khoán. Để thành công, một tổ chức định mức tín nhiệm phải có
các đặc điểm cơ bản, bao gồm:
Tính tin cậy,
Tính độc lập,
Tính khách quan,
Kỹ thuật thành thạo,
Có đủ các nguồn lực và khả năng tiếp cận các thông tin tin cậy về ngƣời
phát hành chứng khoán.
Một tổ chức định mức tín nhiệm chuyên về dịch vụ đƣa ra ý kiến về độ tin cậy
tín dụng của ngƣời phát hành chứng khoán. Nó là một ý kiến quan trọng về rủi ro
tín dụng, hay là một đánh giá về khả năng của ngƣời phát hành thanh toán nợ gốc
và lãi đúng hạn trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Vì vậy, định mức
tín nhiệm phải là một sự đánh giá trƣớc khả năng của ngƣời phát hành hoàn trả
gốc và lãi đúng hạn. Bởi vì các công cụ của thị trƣờng tiền tệ là ngắn hạn, nên
chúng dễ đánh giá hơn các loại trái phiếu dài hạn. Để trở thành tin cậy và hữu ích
cho nhà đầu tƣ, định mức tín nhiệm phải đƣợc xem là đáng tin cậy và khách quan
của các chủ thể tham gia thị trƣờng. Để một định mức đáng tin cậy, tổ chức định
mức tín nhiệm phải có kỹ thuật chuyên nghiệp, đủ nguồn lực tài chính, tiếp cận
các thông tin tài chính tin cậy về ngƣời phát hành, và các thủ tục hoạt động nội bộ
đƣa đến công tác định mức nhất quán và tin cậy. Nói chung các thủ tục tƣơng tự
đang đƣợc thực hiện ở cả các thị trƣờng đã phát triển lẫn đang nổi. Ở hầu hết các
quốc gia, định mức tín nhiệm thƣờng đƣợc thực hiện theo yêu cầu của ngƣời phát
hành. Tuy nhiên, ở Mỹ việc các tổ chức định mức tín nhiệm định giá chứng khoán
không theo yêu cầu của ngƣời phát hành không phải là không thƣờng thấy.
Tính độc lập của một tổ chức định mức tín nhiệm là tối quan trọng cho tính tin
cậy và thành công cuối cùng cho nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, quyền sở hữu và
cấu trúc quản lý quan trọng đối với sự thành công cuối cùng của một tổ chức định

http://svnckh.com.vn
11

mức tín nhiệm. Một tổ chức định mức tín nhiệm phải tự do từ cả ảnh hƣởng chính
trị và áp lực lớn từ các tổ chức phải chịu sự đánh giá tín nhiệm. Nếu chính phủ can
thiệp quá sâu vào hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm thì hoạt động xếp
hạng tín nhiệm sẽ có vấn đề. Tuy nhiên chững chính sách của chính phủ có thể có
những ảnh hƣởng quan trọng đối với triển vọng thành công của tổ chức định mức
tín nhiệm ở các thị trƣờng mới. Trong khi các công ty định mức tín nhiệm đóng
vai trò quan trọng trong các thị trƣờng tài chính, sự thành công trong hoạt động lại
khác nhau giữa các nƣớc phụ thuộc vào quy mô phát triển tại các thị trƣờng trái
phiếu, các đặc điểm của thị trƣờng cũng nhƣ các thể chế, chính sách. Nhƣ vậy thị
trƣờng vốn và thị trƣờng tiền tệ sôi động sẽ bảo đảm số lƣợng của các công cụ tài
chính và cho thấy tầm quan trọn của công ty định mức tín nhiệm. Có một sự
khuyến khích kinh tế mạnh mẽ cho một tổ chức định mức tín nhiệm duy trì tính
độc lập của nó từ cảm nhận của công chúng về tính công bằng và khách quan
trong đánh giá sẽ quyết định sự thành công cuối cùng hoặc thất bại của một tổ
chức định mức tín nhiệm dù cho thị trƣờng mà nó phục vụ là thị trƣờng đã phát
triển, mới nổi hay thị trƣờng quốc tế.
b. Các vấn đề về xếp hạng tín nhiệm
i. Định mức tín nhiệm quốc gia
Một điều cũng hết sức quan trọng cần phải hiểu là định mức tín nhiệm quốc gia
ở các nƣớc mới nổi là điều đầu tiên mà phần lớn các nhà đầu tƣ có tổ chức nhắm
tới khi quyết định đầu tƣ tiền vào nƣớc đó. Kết quả định mức tín nhiệm này phản
ánh những yếu tố nhƣ vị thế kinh tế của nƣớc đó, tính minh bạch ở thị trƣờng vốn,
mức độ luồng vốn đầu tƣ của tƣ nhân và khu vực công, đầu tƣ trực tiếp của nƣớc
ngoài, dự trữ ngoại hối, ổn định chính trị, hoặc khả năng giữ vững ổn định kinh tế
của nƣớc đó cho dù có sự thay đổi về chính trị. Định mức tín nhiệm nhiệm quốc
gia của một nƣớc giúp nhà đầu tƣ hiểu đƣợc ngay mức độ rủi ro đi kèm với các
khoản đầu tƣ vào nƣớc đó. Do vậy để thu hút tiền của nƣớc ngoài, phần lớn các
nƣớc đều phải cố gắng đạt đƣợc một mức xếp hạng tín dụng quốc gia và thậm chí
phải phấn đấu hơn nữa để đạt đƣợc thứ hạng đầu tƣ. Trong phần lớn các trƣờng

http://svnckh.com.vn
12

hợp, định mức tín nhiệm quốc gia của một nƣớc là cận trên của định mức tín
nhiệm. Điều này làm tăng thêm nhu cầu tiền phong nhằm đạt đƣợc định mức tín
nhiệm quốc gia tích cực.
ii. Các đối tƣợng đƣợc định mức tín nhiệm.
Một loạt các công cụ tài chính rộng rãi có thể phải chịu sự định mức tín nhiệm
bao gồm các chứng từ thƣơng mại, trái phiếu công ty, các công cụ tài chính có cấu
trúc và cổ phiếu ƣu đãi. Ở hầu hết các quốc gia, định mức tín nhiệm giới hạn đối
với các công cụ thị trƣờng trái phiếu và tiền tệ nhƣng ở một số quốc gia cổ phiếu
thƣờng và cổ phiếu ƣu đãi cũng đƣợc định mức tín nhiệm. Không phải là không
phổ biến đối với các tổ chức nhận tiền gửi, các quỹ đầu tƣ và các tổ chức tài chính
khác nhƣ khả năng chi trả tiền bồi thƣờng của các công ty bảo hiểm cũng đƣợc
định mức. Tính sẵn sàng của định mức tín nhiệm cũng còn đóng góp cho sự phát
triển các sản phẩm tài chính phức tạp nhƣ các công cụ tài chính có cấu trúc.
Không có sự sẵn sàng của công tác định mức tín nhiệm của các tổ chức định mức
tín nhiệm, sẽ rất khó bán các sản phẩm này cho các nhà đầu tƣ tổ chức tinh vi.
Theo Moody’s và S&P thì chúng ta có bốn đối tƣợng xếp hạng chính:
Thứ nhất là xếp hạng nợ, là các xếp hạng đƣợc dành cho các khoản đầu tƣ dài
hạn nhƣ trái phiếu công ty và cổ phiếu ƣu đãi.
Thứ hai, xếp hạng các nhà phát hành, là các cấp xếp hạng đánh giá khả năng
của các công ty tƣ nhân, các tổ chức bảo hiểm, các quỹ đầu tƣ (gọi chung là nhà
phát hành theo đòng nội tệ), và các tổ chức chính phủ (các nhà phát hành theo đồn
ngoại tệ) trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính do các nhà đầu tƣ về các
công cụ tài chính, cả bảo đảm lẫn không đƣợc bảo đảm.
Thứ ba, xếp hạng tiền gửi ngân hàng, là các cấp xếp hạng đánh giá khả năng
cảu các ngân hàng trong việc thanh toán các nghĩa vụ về tiền lãi và vốn gốc đối
với các khoản tiền gửi cả bản tệ và ngoại tệ.
Cuối cùng là xếp hạng cho các quốc gia, là các xếp hạng đánh giá khả năng tín
dụng cảu một quốc gia cụ thể. Xếp hạng quốc gia là việc cho ý kiến vể rủi ro của

http://svnckh.com.vn
13

một quốc gia, có nghĩa là khả năng quốc gia đó có thể trả các món nợ bằng đồng
nội tệ và ngoại tệ không.
iii. Phí định mức tính nhiệm.
Nói chung, hầu hết thu nhập của các tổ chức định mức tín nhiệm có đƣợc từ
phí đƣợc trả bởi ngƣời phát hành chứng khoán. Những nhà phát hành chứng khoán
nợ sẵn sàng trả cho việc định giá với mong đợi rằng một sự định mức thuận lợi sẽ
giúp giảm chi phí vay mƣợn nói chung của họ. Cụ thể, điều này đúng cho các công
ty nhỏ hơn, ít nổi tiếng hơn, nếu không sẽ không hấp dẫn đƣợc nhà đầu tƣ. Trong
khi các nhà phát hành trả phí cho định mức tính nhiệm với kỳ vọng chi phí vay
mƣợn thấp hơn, có một khuyến khích mạnh mẽ cho các tổ chức định mức tín
nhiệm phát hành các định mức tín nhiệm chính xác trong đó danh tiếng của tổ
chức định mức tín nhiệm rất quan trọng đến sự sống còn lâu dài về mặt kinh tế của
nó. Trong những năm trƣớc đây, các tổ chức định mức tín nhiệm Mỹ thực hiện các
hoạt động định mức tín nhiệm của họ chủ yếu thông qua phí đặt mua đƣợc trả bởi
những ngƣời sử dụng định mức tín nhiệm. Vào cuối những năm 1960, các tổ chức
định mức tín nhiệm Mỹ bắt đầu chuyển sang thu phí những ngƣời phát hành. Về
mặt này, rất quan trọng để chú ý sự sẵn lòng của ngƣời phát hành để trả phí phải là
một hàm số niềm tin của nhà đầu tƣ vào định mức tín nhiệm nhƣ là một tín hiệu
mà tách bạch các chứng khoán về các mức độ rủi ro và cho phép những chứng
khoán có rủi ro thấp hơn thu đƣợc doanh thu phát hành cao hơn – một lợi ích mà
ngƣời phát hành sẵn lòng để trả.
1.1.2.2 Vai trò của định mức tín nhiệm
Trong lịch sử các tổ chức định mức tín nhiệm đƣợc hình thành do có phát sinh
nhu cầu cung cấp thông tin về sự đáng tin cậy, về khả năng trả nợ của nhà phát
hành kỹ năng xử lý thông tin tài chính, và các nhân tố thị trƣờng gắn liền với rủi ro
để ra quyết định đầu tƣ. Dần dần, xếp hạng tín nhiệm đã đƣợc sử dụng một cách
phong phú hơn. Chúng đƣợc các nhà đầu tƣ có tổ chức dung để hỗ trợ thêm cho
các phân tích riêng của họ. Đồng thời các nhà đầu tƣ có tổ chức hoạt động môi

http://svnckh.com.vn
14

trƣờng quốc tế cũng dung cách xếp hạng này để làm công cụ so sánh tƣơng quan
rủi ro giữa các công cụ với nhau . Vai trò của xếp hạng tín nhiệm là:
Thứ nhất, việc xếp hạng tín nhiệm cung cấp những thông tin liên quan đến tổ
chức phát hành. Dựa vào thông tin đó nhà đầu tƣ đánh giá mức độ rủi ro và lợi
nhuận yêu cầu để đƣa ra quyết định đầu tƣ hợp lý;
Thứ hai, việc xác định hệ số tín nhiệm giúp tổ chức phát hành thuận lợi hơn
trong vấn đề huy động vốn với chi phí thấp. Thông qua những chỉ số đánh giá của
tổ chức xếp hạng tín nhiệm đƣa ra, nhà đầu tƣ sẽ có điều kiện tiếp cận với những
thông tin về tổ chức phát hành. Đặc biệt, khi những tổ chức phát hành đƣợc đánh
giá là có uy tín có thể phát hành trái phiếu với lãi suất thấp hơn mà vẫn thu hút
đƣợc nhà đầu tƣ. Nói một cách khác, hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm sẽ
góp phần làm tăng thêm lòng tin của nhà đầu tƣ và uy tín của tổ chức phát hành,
điều mà thị trƣờng chứng khoán Việt Nam rất cần trong giai đoạn hiện nay; là một
phƣơng tiện để các công ty quảng bá thƣơng hiệu với thị trƣờng trong và ngoài
nƣớc, đồng thời tạo một cơ chế kiểm soát công khai, tạo động lực cho công ty cơ
cấu tài chính, cải tiến quy trình quản lý, chất lƣợng và hiệu quả hoạt động.
Thứ ba, việc xác định hệ số tín nhiệm thúc đẩy tổ chức phát hành có trách
nhiệm hơn đối với nhà đầu tƣ. Đánh giá mức tín nhiệm luôn là công việc liên quan
chặt chẽ với uy tín của tổ chức phát hành, điều đó thúc đẩy ngƣời phát hành thực
hiện tốt hơn các cam kết thanh toán tiền lãi và gốc cho nhà đầu tƣ.
Thứ 4, Đối với cơ quan quản lý nhà nƣớc: ĐMTN giúp nhà nƣớc quản lý vốn
tại các DN đƣợc dễ dàng hơn; góp phần tạo nên một thị trƣờng cân bằng, minh
bạch thông tin. Các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thể dựa trên các thông tin ĐMTN
công khai để ban hành chính sách, giám sát thực hiện, cấp phép phát hành… và
quản lý tốt hơn.
1.2 nhiệm trên thế

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét