Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

tìm hiểu và phân tích tình hình và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn khoáng sản thành an

là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ.
1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh
nghiệp
1.3.1. Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh
Mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi
nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này, quản trị
doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là
một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình.
Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất
đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố
để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi
phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả. Do đó xét trên phương diện lý luận và thực
tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc
đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra
phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa.
1.3.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh
Như chúng ta đã biết, nếu nguồn tài nguyên không hạn chế thi con người có thể
sản xuất vô tận hàng hóa, sử dụng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, lao động một
cách không khôn ngoan cũng chẳng sao. Nhưng thực tế lại không như vậy, mọi nguồn
tài nguyên trên Trái đất như: đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản,…là một phạm trù
hữu hạn và đang ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt do chính sự khai thác và sử
dụng quá mức của con người. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng
giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn.
Chính mâu thuẫn đó đòi hỏi và bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời
chính xác ba câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Mọi
doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã
hội để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường - tức kinh doanh không
có hiệu quả, lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội – sẽ không có khả năng tồn tại.
Để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của mình là tối đa hóa lợi nhuận,doanh
nghiệp phải sản xuất sản phẩm (dịch vụ) cung cấp cho thị trường. Để sản xuất phải sử
dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt hiện nay, có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng cũng có
không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị
trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản
xuất, nâng cao uy tín,…nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện
mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Đạt hiệu quả kinh doanh và nâng
cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành
điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.4.1. Các nhân tố bên trong
1.4.1.1. Lực lượng lao động
Trong sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng
tạo ra công nghệ, kỹ thuật và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm
mới với kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm (dịch
vụ) của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực
lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các
nguồn lực khác (máy móc thiết bị. nguyên vật liệu,…) nên tác động trực tiếp đến hiệu
quả kinh doanh.
Ngày nay, sự phát triển khoa hoc kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học kết
tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng
rất tinh nhuệ, có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Điều này càng khẳng định vai trò
ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
1.4.1.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối
tượng lao động. Quá trình sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ
lao động. Sự phát triển của công cụ lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng
suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Như thế, cơ sở
vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng năng suất, chất lượng,
tăng hiệu quả kinh doanh. Chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp chịu tác động
mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật, cơ cấu tính đồng bộ của máy móc thiết bị, chất lượng
của công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị,…
Trong thương trường, thực tế đã cho thấy, những doanh nghiệp nào được
chuyển giao công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bi hiện đại, làm chủ được yếu tố kỹ
thuật thì phát triển được sản xuất kinh doanh, đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh
cao, tạo được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành và có khả năng
phát triển.
1.4.1.3. Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Ngày nay, quản trị doanh nghiệp là nhân tố đóng vai trò ngày một thêm quan
trọng và không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chức năng chính yếu của quản trị doanh nghiệp là xác định cho doanh nghiệp một
hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động. Chất lượng của
chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành
công, hiệu quả kinh doanh cao hay thất bại, kinh doanh phi hiệu quả của một doanh
nghiệp. Định hướng đúng và luôn định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu
dài của doanh nghiệp.
Đến nay, người ta cũng khẳng định ngay cả đối với việc đảm bảo và ngày càng
nâng cao chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp cũng chịu nhiều ảnh hưởng của
nhân tố quản trị chứ không phải của nhân tố kỹ thuật, quản trị nhân tố quản trị chứ
không phải của nhân tố kỹ thuật. Bằng phẩm chất và tài năng của mình, đội ngũ các
nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh
hưởng có tính quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp.
1.4.1.4. Hệ thống trao đổi và sử lý thông tin
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kỹ thuật đang
làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó có công nghệ tin học đóng vai trò
đặc biệt quan trọng. Thông tin được coi là hàng hóa, là đối tượng kinh doanh và nền
kinh tế thị trường hiện nay là nền kinh tế thông tin hóa. Để đạt được thành công khi
kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp
rất cần nhiều thông tin chính xác về nhu cầu thị trường hàng hóa, về công nghệ kỹ
thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh,… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần
đến thông tin về kinh nghệm thành công hay thất bại của doanh nghiệp khác ở trong
csf và quốc tế, cần biết các thông tin về chính sách thay đổi trong các chính sách kinh
tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan….
1.4.1.5. Nhân tố tính toán kinh tế
Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và hao phí
các nguồn lực để đạt được kết quả đó. Cả hai đại lượng kết quả và hao phí nguồn lực
của mỗi thời kỳ cụ thể đề khó đánh giá thật chính xác.
Kinh tế học đã khẳng định tốt nhất là sử dụng phạm trù lợi nhuận kinh tế vì lợi
nhuận kinh tế mới là lợi nhuận “thực”, kết quả được đánh giá bằng lợi nhuận kinh tế
sẽ là kết quả “thực”. Song muốn xác định được lợi nhuận kinh tế thì phải xác định
được chi phí kinh tế. Phạm trù chi phí tính toán được chi phí kinh tế mà chỉ sử dụng
phạm trù chi phí tính toán. Trên cơ sở chi phí tính toán sẽ chỉ định được lợi nhuận tính
toán.
1.4.2. Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
1.4.2.1. Môi trường quản lý
Môi trường quản lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp
luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng
tham gia kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi
trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng.
1.4.2.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả kinh
doanh từng doanh nghiệp. Trước hết, phải kể đến cá chính sách đầu tư, chính sách
phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu,… Các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự ưu
tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tác
động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc
ngành,vùng kinh tế nhất định.
1.4.2.3. Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông
tin liên lạc, điện, nước,… cũng như sự phát triển của giáo dục và đào tạo,… đều là
những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao
thông thuận lợi, điện nước đầy đủ, dân cư đông đúc và có trình độ dân trí cao sẽ có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng
doanh thu, giảm chi phí kinh doanh…. Và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của
mình.
1.5. Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động sản
xuất kinh doanh
1.5.1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp
15.1.1. Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là những chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa lợi
nhuận và doanh thu, phản ánh một phần hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
trong doanh nghiệp.
* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (R
E/TR
)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu thuần trong kỳ có bao nhiêu phần
trăm lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng tăng càng tốt.
* Tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng

Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
có bao nhiêu phần trăm lợi nhuận
Đối với các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng thì doanh thu bán hàng
được tính bằng tổng các khoảng cho vay, đầu tư để đánh giá một đồng cho vay và đầu
tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.5.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn
* Sức sản xuất:
Tổng lợi nhuận (TE)
Tổng doanh thu thuần (TR
N
)
R
E/TR
=
x 100%
Tỷ suất doanh lợi
doanh thu bán hàng
=

LN từ hoạt động BH&CCDV
Doanh thu BH&CCDV
x 100%
SSX của
vốn
kinh doanh
=
TR
N
Tổng vốn kinh doanh bình quân
x 100%
SSX của
vốn
chủ sở hữu
=
TR
N
Vốn chủ sở hữu bình quân
x 100%
Chỉ tiêu sức sản xuất cho biết trong kỳ bình quân 1 đồng vốn tạo ra được bao nhiêu
đồng doanh thu.
* Sức sinh lợi:
Chỉ tiêu sức sinh lợi cho biết trong kỳ bình quân 1 đồng vốn tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
1.5.1.3. Hiệu quả sử dụng chi phí
1.5.1.4. Hiệu quả sử dụng lao động
SSL của
vốn
=
TE
Tổng vốn kinh doanh binh quân
x 100%
SSL của
vốn
chủ sở hữu
=
TE
Vốn chủ sở hữu bình quân
x 100%
Hiệu suất sử
dụng
chi phí
=
TR
N
Tổng chu phí trong kỳ
x 100%
Hiệu suất sử
dụng
chi phí tiền
lương
=
TR
N
Tổng chi phí tiền lương
trong kỳ
x 100%
Sức sinh
lợi
của chi phí
=
TE
Tổng chi phí trong kỳ
x 100%
Sức sinh lợi của
chi phí tiền
lương
=
TE
Tổng chi phí tiền lương trong kỳ
x 100%
Năng suất lao
động
=
Số lao động bình quân trong kỳ
TR
N
x 100%
Sức sinh lợi của lao
động
=
Số lao động bình quân
trong kỳ
TE
x 100%
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CẤP
THOÁT NƯỚC TAM KỲ
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CẤP THOÁT NƯỚC TAM KỲ
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tên giao dịch : Công ty cấp thoát nước Tam Kỳ
Địa chỉ văn phòng : 248 Phan Châu Trinh- TP Tam Kỳ- Quảng Nam
Điện thoại : 0510.3851327
Fax : 0510.3824117
Tiền thân của Công ty cấp thoát nước Tam Kỳ là Công ty Cấp nước Tam
Kỳ được thành lập năm 1985
Công ty cấp thoát nước Tam Kỳ là một doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc chịu
sự quản lý của Công ty Xây dựng & Cấp thoát nước Quảng Nam.
Trước năm 1988, doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế quản lý tập trung quan
liêu bao cấp, Công ty chỉ hoạt động theo mệnh lệnh từ trên xuống nên việc phát triển
mở rộng mạng cấp nước còn bị hạn chế, mặc dù số lượng phát triển năm sau bao giờ
cũng cao hơn năm trước, nhưng không đáng kể. Từ tháng 10/1992 sự đổi mới cơ chế
quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bước
đầu Công ty thực hiện sắp xếp lại lao động theo định hướng gọn nhẹ và có hiệu quả,
cải tiến lề lối làm việc, giảm bớt thủ tục hành chính không cần thiết, đối với việc lắp
đặt và mở rộng mạng lưới cấp nước sạch, khuyến khích các hộ gia đình lắp đặt đường
ống cấp nước để tăng sản lượng tiêu thụ.
Do đó hoạt động sản xuất của Công ty phát triển không ngừng, mạng lưới cấp
nước ngày càng mở rộng
2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty cấp thoát nước là một doanh nghiệp Nhà nước mang tính chất hoạt
động phục vụ công cộng, lấy mục tiêu kinh doanh làm mục tiêu hoạt động.
Sản xuất chính của công ty là cung cấp nguồn nước sạch phục vụ, nhằm thỏa
mãn các nhu cầu tiêu thụ của các hộ dân cư ( nhu cầu cấp nước sạch, nhu cầu sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và một số nhu cầu khác trong khu vực nội thị TP Tam Kỳ). Sản
phẩm của Công ty là một sản phẩm đặc biệt thiết yếu đối với đời sống và sức khoẻ
con người. Vì vậy đòi hỏi chất lượng phải đảm bảo.
Bên cạnh sản phẩm nước sạch, sản phẩm xây lắp các công trình cấp nước cũng
phụ thuộc rất lớn vào tốc độ phát triển đô thị thành phố Tam Kỳ.
2.2. VẬN DỤNG THỰC TẾ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CẤP THOÁT NƯỚC TAM KỲ
2.2.1.Phân tích khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là
công việc rất quan trọng, qua đó nó cho chúng ta biết được về tình hình tái chính hiện
tại của công ty chúng ta. Phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt
được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp một cách rõ ràng và chính xác hơn, từ đó
giúp cho doanh nghiệp biết công ty mình kinh doanh có hiệu quả hay không. Bên
cạnh đó thì phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp biết được những sản
phẩm hay dịch vụ nào của doanh nghiệp cho doanh thu cao cũng như về lợi nhuận và
những sản phẩm dịch vụ nào của doanh nghiệp cho lợi nhuận không cao. Từ đó giúp
các nhà lãnh đạo có quyết định đúng đắng hơn.
Để biết rõ hơn về kết quả kinh doanh của công ty ta xem bảng sau:
Bảng 2.2.1.a. Báo cáo kết quả kinh doanh qua 3 năm 2006-2008
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu 31/12/06 31/12/07 31/12/08
1.Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
10.348.154.939 11.663.232.743 11.386.424.693
2.Các khoản giảm trừ 33.607.273 35.431.843 43.770.806
3.Doanh thu thuần về bán hàng và
cung cấp dịch vụ
10.314.547.666 11.627.800.900 11.342.653.887
4.Giá vốn hàng bán 8.331.956.916 9.444.974.954 9.036.236.866
5.Lợi nhuận gộp về bán hàng và
cung cấp dịch vụ
1.982.590.750 2.182.825.955 2.306.417.021
6.Doanh thu hoạt động tài chính 54.149.530 453.696.082 588.105.490
7.Chi phí tài chính 314.367.991 560.672.024 1.952.905.500
8.Chi phí bán hàng 551.681.091 543.867.889 491.337.613
9.Chi phí quản lý doanh nghiệp 740.154.614 1.097.874.393 1.164.937.245
10.Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh
430.536.584 434.107.731 631.030.887
11.Thu nhập khác 249.038.528 142.193.138 106.092.557
12.Chi phí khác 238.967.527 98.105.920 64.279.077
13.Lợi nhuận khác 10.071.001 44.087.218 41.813.480
14.Tổng lợi nhuận kế toán trước 440.607.585 478.194.949 672.844.367
thuế
15.Thuế thu nhập doanh nghiệp 123.370.124 133.894.586
16.Lợi nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp
317.237.461 344.300.363 672.844.367
Qua bảng trên ta có được:
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (R
E/TR
) qua 3 năm 2006-2008
Bảng 2.2.1.b. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
ĐVT: Ngàn đồng
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Chênh lệch
2007/2006 2008/2007
1 DTT SXKD 10.348.155 11.627.801 11.342.654 +1.279.646 -285.147
2 Lợi nhuận trước thuế 440.608 478.195 672.844 +37.587 +194.649
3
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu (3)=(2)/(1) (%)
4,258 4,113 5,932 -0,145 +1,819
Số liệu phân tích cho thấy: khả năng sinh lời chung từ các hoạt động của công
ty biểu hiện qua tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần trong 3 năm nhìn chung phần
tăng thêm nhiều hơn giảm đi.
Nếu trong năm 2006, cứ 100 đồng doanh thu tạo ra được 4,258 đồng lợi nhuận
trước thuế thì đến năm 2007 giảm xuống còn 4,113 đồng nhưng sang năm 2008 tăng
lên đến 5,932 đồng.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bị ảnh hưởng bởi nhân tố DTT và thu nhập
của các hoạt động khác và nhân tố lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng qua 3 năm 2006-2008
Bảng 2.2.1.c. Tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Chênh lệch
2007/2006 2008/2007
1
Doanh thu
BH&CCDV
10.348.154.939 11.663.232.743 11.386.424.693 +1.315.077.804 -267.808.050
2
LN từ hoạt
động
BH&CCDV
1.982.590.750 2.182.825.955 2.306.417.021 +200.235.205 +123.591.066
3 Tỷ suất lợi
nhuận
của doanh thu
bán hàng
19,159 18,715 20,256 -0,444 +1,541
(3)=(2)/(1) (%)
Số liệu phân tích cho thấy: khả năng sinh lời từ hoạt động BH&CCDV thể hiện
qua tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng trong 3 năm nhìn chung phần tăng thêm
nhiều hơn giảm đi. Trong năm 2006 tỷ suất này là 19,159% nhưng sang năm 2007
giảm xuống 0,444% còn 18,715%,song đến năm 2008 tỷ suất này lại tăng lên 1,541%
là 20,256%
2.2.2.Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp
2.2.2.1.Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn là một chỉ tiêu quan trọng đối với chủ sở hữu công ty và
là thước đo năng lực của nhà quản trị doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn ta thông qua 2 chỉ tiêu: sức sản xuất và sức sinh lợi. Dựa vào số liệu của công ty
ta có bảng sau:
Bảng 2.2.2.1 Các chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn
ĐVT: Ngàn đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
Chênh lệch 2008/2007
%
1 DTT SXKD 11.627.801 11.342.654 -285.147 -2,45
2 Lợi nhuận trước thuế 478.195 672.844 +194.649 40,70
3 Tổng vốn bình quân 73.577.448 62.538.928 -11.038.520 -15,00
4
Sức sinh lợi
(4) = (2) / (3) (%)
0,650 1,076 0,426 65,54
5
Sức sản xuất
(5) = (1) / (3) (%)
15,803 18,137 +2,334 14,77
* Sức sản xuất
Nhìn vào bảng trên ta thấy việc sử dụng vốn của công ty năm 2008 đạt hiệu
quả cao hơn năm 2007.
• Năm 2007, sức sản xuất của công ty là 15,803% nghĩa là 100 đồng vốn công
ty đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 15,803 đồng doanh thu.
• Năm 2008, so với năm 2007 doanh thu thuần sản xuất kinh doanh giảm
285.147 ngàn đồng tương ứng giảm 2,45%, trong khi đó tổng vốn bình quân của công
ty giảm từ 73.577.448 (ngàn đồng) xuống còn 62.538.928 (ngàn đồng) tức đã giảm
15% tương ứng với 11.038.520 (ngàn đồng); cả doanh thu và tổng vốn bình quân đều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét