Chơng 1. Đặc điểm địa chất một số mỏ ruby,
saphia điển hình của Việt Nam
1.1. Tổng quan về các mỏ ruby, saphia Việt Nam
Các chỉ tiêu chất lợng của ruby, saphia Việt Nam cũng giống nh của ruby,
saphia và đá mầu nói chung, đó là mầu sắc, độ tinh khiết, chất lợng chế tác và trọng
lợng. Trong số các chỉ tiêu trên, chỉ có mầu sắc, độ tinh khiết và một phần là khả
năng chế tác là có những đặc điểm riêng nhất định liên quan đến điều kiện sinh
thành của ruby, saphia ở những vùng mỏ cụ thể (đặc điểm đá vây quanh, đặc điểm
cấu trúc mỏ, kiểu nguồn gốc ), còn chỉ tiêu trọng lợng thì hoàn toàn giống nh ở các
nớc khác.
Ruby, saphia trên thế giới đã đợc phát hiện và khai thác từ rất lâu và ở nhiều
nớc trên thế giới, trong đó có những mỏ đã nổi tiếng hàng trăm năm nay và chủ yếu
tập trung ở các nớc trong khu vực Nam-Đông Nam á nh ấn Độ, Sri Lanka,
Myanma, Thái Lan, Camphuchia, Trung quốc. Mỏ đá quý ruby, saphia của Việt
Nam đợc phát hiện đầu tiên ở Lục Yên và bắt đầu đợc khai thác từ năm 1989. Vào
đầu những năm 90 một loạt các mỏ khác đợc phát hiện và khai thác ở nhiều vùng
khác nhau nh Quỳ Châu (Nghệ An), Ma Lâm, Đá Bàn (Bình Thuận), Đak Nông
(Đak Lak), Tân Hơng, Trúc Lâu (Yên Bái)
Ruby, saphia đợc phát hiện ở nhiều nơi và phân bố trong các khu vực có đặc
điểm địa chất khác nhau, nhng cũng nh ở các nớc khác trong khu vực và trên thế
giới các tập trung ruby, saphia có chất lợng ngọc, đạt giá trị thơng phẩm thì chỉ đợc
thành tạo trong những điều kiện địa chất nhất định, bị chi phối bởi các điều kiện môi
trờng thành tạo nh: đá vây quanh, điều kiện hoá lý của môi trờng, các yếu tố cấu
trúc địa chất ở Việt Nam mặc dù ruby, saphia đợc phát hiện ở nhiều nơi nhng mới
chỉ khai thác ở một số nơi là Quỳ Châu (Nghệ An), Tân Hơng, Trúc Lâu, Lục Yên
(Yên Bái), Đak Nông (Đak Lak) , trong đó điển hình là các mỏ Lục Yên, Quỳ
Châu và Đăk Nông.
5
1.2. Đặc điểm địa chất mỏ ruby, saphia An Phú, Lục Yên, Yên Bái
1.2.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn
Khu vực nghiên cứu Lục Yên thuộc vùng Tây Bắc-Bắc Bộ. Diện tích phân
nghiên cứu cách Hà Nội gần 279 km về phía Tây Bắc, cách biên giới Việt -Trung 75
km có toạ độ địa lý:
104
0
39
`
40
``
- 104
0
52
`
20
``
kinh độ Đông.
21
0
56
`
20
``
- 22
0
10
`
vĩ độ Bắc.
Lục Yên là một vùng rừng núi có nhiều núi cao hiểm trở hàng trăm đến hàng
nghìn mét kéo dài theo phơng Đông Bắc- Tây Nam. Các thung lũng nằm xen giữa
núi là các thung lũng karstt khép kín, kéo dài hàng trăm cây số, rộng đến hàng trăm
mét. Hai bên sờn thung lũng là những dãy núi cao, vách đá nởm chởm có dạng địa
hình karst rõ rệt, độ chênh lệch giữa bề mặt thung lũng và các đỉnh núi là hàng trăm
đến hàng nghìn mét.
Địa hình phân cách mạnh mẽ và phức tạp sông suối phát triển theo hai phơng
Tây Bắc - Đông Nam và Tây Nam - Đông Bắc. Các sông suối nhỏ hẹp, dốc lởm
chởm về mùa khô ít nớc, về mùa ma lu lợng nớc tăng nhanh. Trong thung lũng trớc
núi, nớc chỉ có vào mùa ma. ở khu vực phát triển địa hình karst thờng gặp hiện tợng
chảy ngầm .
Thảm thực vật trong vùng phát triển rất đa dạng. Khí hậu trong vùng chia
thành hai vùng rõ rệt. Mùa ma từ tháng 5 đến tháng 10, lợng ma trung bình 300 mm.
Một số nơi sảy ra ma đá, nhiệt độ trung bình là 25
0
C-32
0
C có ngày nóng tới 40
0
C.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thờng có ma rầm kéo dài, lợng ma không
đáng kể, từ 500-1000 mm, nhiệt độ thấp nhất nhiều khi đến 3
0
C. Do lợng ma trung
bình nhỏ, suối thờng khô cạn.
Lục Yên có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm lớn, có những
trận gió lớn và quàng phong không rõ nguyên nhân. Những cơn ma lớn trong vùng
thờng gây lụt ảnh hởng tới giao thông, không an toần cho quá trình khai thác mỏ.
Huyện Lục Yên gồm các xã Minh Tiến, Khoan Thống, Liếu Đô An Phú
có độ cao từ 300-700 m từ Yên Bái đến huyện lỵ Lục Yên đi theo hớng Bắc dọc theo
quốc lộ 70, qua cầu Tô Mậu (qua sông chảy khoảng 70 km). Nhìn chung, đờng đi
tới huyện Lục Yên là thuận tiện nhng đờng đi tới các khu mỏ An Phú, Khoan
Thống phải đi qua nhiều rốc cao, suối nên đi lại rất khó khăn.
6
Dân c tha thớt phân bố không đều chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng, Dao. Ngoài
huyện lỵ, có ngời kinh sống tập trung ở thị trấn Lục Yên làm công chức, dịch vụ và
buôn bán vàng bạc đá quý. Dân c sống tập trung ở thị trấn và dọc theo các tuyến đ-
ờng giao thông liên huyện các khu mỏ hoặc liên xã thành các bản làng từ vài trăm
đến vài nghìn ngời. Kinh tế địa phơng chủ yếu là nông nghiệp, trồng cây lơng thực
lúa, ngô, khoai, sắn và các cây ăn quả, nghề nghiệp phụ là khai thác gỗ , đánh cá và
khai thác vàng bạc đá quý, quăng pyrit. Kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, công
nghiệp khai thác khoáng sản đang phát triển. Các xã đều có trờng phổ thông cơ sở,
hợp tác xã nông nghiệp. Hợp tác xã mua bán, trạm y tế. Hàng hoá phục vụ cho nông
nghiệp còn thiếu thốn và khan hiếm, công tác xã hội và trật tự an ninh trong vùng
khá tốt. Trình độ dân trí thấp, còn nhiều ngời mù chữ .
Về vị trí địa chất, vùng mỏ nằm tại phần mút phía Đông Nam đới Sông Lô,
nơi lộ ra các đá biến chất tuổi cổ nhất của đới này.
1.2.2. Địa tầng
Các tác giả nhóm tờ bản đồ địa chất Đoan Hùng-Yên Bình tỷ lệ 1/50.000
phân chia hệ tầng Sông Chảy trớc đây thành 2 phân vị thạch địa tầng: Hệ tầng Thác
Bà (PR
3
-C
1
tb) và hệ tầng An Phú (PR
3
-C
1
ap).
-Hệ tầng Thác Bà (PR
3
-C
1
tb)
Cấu thành hệ tầng Thác Bà là đá phiến thạch anh mica (mica thạch anh) bị
micmatít hoá, gneis hoá và quarzit mica. Căn cứ vào đặc điểm thạch học, vị trí của
các đá trong mặt cắt địa tầng có thể chia thành 2 tập. Tập 1 chủ yếu gồm đá phiến
thạch anh 2 mica (2 mica thạch anh) xen kẹp lớp đá phiến thạch anh biotit (hoặc
muscovit) thờng bị micmatit hoá với các mức độ khác nhau và gneis hoá (gneis 2
mica, gneis muscovit hoặc biotit) có xen kẹp các lớp thấu kính vôi hoặc quarzit. Tập
2 có thành phần chủ yếu là quarzit, quarzit sericit có xen kẹp các lớp mỏng, thấu
kính mỏng đá phiến thạch anh mica (mica thạch anh).
-Hệ tầng An Phú (PR
3
-C
1
ap)
Lộ ra trên phạm vi vùng mỏ với diện lộ tơng đối lớn, phát triển chủ yếu ở
phần trung tâm và tạo thành một vài chỏm nhỏ rải rác phía Đông Bắc. Cấu thành hệ
tầng An Phú chủ yếu là đá hoa canxit có xen đá hoa đolomit, thờng có chứa
phlogopit, fucsit, graphit.
-Trầm tích Đệ tứ (Q)
7
Hình 1.1. Sơ đồ địa chất vùng mỏ Lục Yên, Yên Bái
Phủ trực tiếp trên các đá biến chất hệ tầng Thác Bà và hệ tầng An Phú là các
trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ, bao gồm các trầm tích aluvi của các sông suối, các aluvi
của các thung lũng karst, các thung lũng trên sờn núi và các trầm tích bở rời, sờn
tích trên các sờn đồi, sờn núi. Các trầm tích này chính là những thành tạo có chứa đá
quý sa khoáng.
8
1.2.3. Các đá magma xâm nhập
-Phức hệ PiaMia (
PZ
2
pm)
Tạo thành các khối nhỏ ở An Phú, thờng nằm tại ranh giới giữa đá hoa hệ
tầng Chiêm Hoá và granit phức hệ Phia Bioc, các đá kiềm phức hệ Phia Ma bao
gồm: granosyenit hornblend granat và granosyenit pyroxen có ranh giới tiếp xúc
không rõ ràng.
Granosyenit pyroxen: Đá hạt nhỏ đến vừa, màu xám sáng, có chấm màu lục.
Kiến trúc porphir trên nền hạt nhỏ, bán tự hình; cấu tạo khối. Thành phần chủ yếu là
felspat kali (75%) có dạng hạt tha hình, hạt vừa đến nhỏ, phân bố đều; thạch anh
(20%) dạng hạt méo mó, thành đám nhỏ nằm xen với fenspat kali, pyroxen
(egyrin ?), có dạng lăng trụ ngắn hoặc dài. Ngoài ra còn có plagioclas (3%), apatit,
sphen
Granosyenit hornblend granat: Đá hạt vừa đến nhỏ, màu xám sáng có những
chấm lục nâu; cấu tạo khối. Thành phần chủ yếu là fenspat kali (83%) có dạng hạt
tha hình; thạch anh hạt vừa đến nhỏ, phân bố đều trong đá; hornblend có dạng lăng
trụ ngắn hoặc dài; granat dạng hạt nhỏ méo mó, nằm đơn lẻ. Khoáng vật phụ có
apatit, sphen.
-Phức Hệ Phia Bioc (
T
3
n pb)
Trong vùng mỏ, các đá granit biotit, granit hai mica, granit muscovit tạo
thành các khối nhỏ rải rác. Các mạch aplit, pegmatit nằm gần các khối granitoid,
xuyên trong đá phiến thạch anh 2 mica và trong đá hoa hệ tầng Chiêm Hoá thờng có
kích thớc nhỏ, chiều dày mạch từ 3 - 4 centimet đến 3 - 4 dm, dài vài dm đến vài
chục mét, đôi nơi bị greisen hoá.
Các đá granit biotit, granit hai mica, granit muscovit có dạng hạt nhỏ đến vừa
và sáng màu, thờng có kiến trúc bán tự hình đến kiến trúc porphia; cấu tạo khối đến
định hớng yếu. Thành phần gồm fenspat kali dạng hạt tha hình méo mó (55 - 65%),
có một số chỗ bị anbit hoá yếu; plagioclas dạng hạt, tấm nhỏ tự hình có song tinh
liên phiến (5 - 10%), thạch anh (25 - 30%), biotit + muscovit dạng vảy nhỏ đến vừa
(3 - 7%). Khoáng vật phụ gồm apatit, zircon, casiterit, monasit. Ngoài ra còn gặp
một vài mẫu đá có thành phần thạch anh < 25%, có thể xem đó là granosyenit.
Pegmatit, aplit kích thớc nhỏ, nằm rải rác. Ngoài ra còn có một số mạch nhỏ
felspat thạch anh bị greisen hoá mạnh.
9
Về mặt thạch hoá, các đá thuộc phức hệ PiaBioc thuộc loại thấp nhôm (Al <
1,1), cao kali (K > 0,5), cao canxi (Ca > 0,3), K
2
O>Na
2
O (thuộc loạt kiềm-vôi,
chuyển sang á kiềm).
1.2.4. Kiến tạo
- Các cấu trúc kiến tạo
Vùng mỏ ở phần mút phía Nam đới tớng cấu trúc Sông Lô thuộc hệ uốn nếp
Việt Bắc, nằm trên khối cấu trúc An Phú với các phức hệ thạch kiến tạo cấu thành là
các đá biến chất tớng amphibolit epiđot bị uốn nếp, biến vị mạnh mẽ ở phần dới và
đá hoa, đá phiến biến chất ở phần trên. Cấu trúc này là một cấu trúc uốn nếp t ơng
đối phức tạp, có dạng một phức nếp lõm với các nếp uốn thứ cấp và các đứt gãy phá
huỷ hai bên cánh.
Kiến trúc ban đầu của đới nói chung, trong phạm vi khối cấu trúc nói riêng,
bị các quá trình kiến sinh sau này làm biến cải và phức tạp hoá.
-Đứt gẫy
Khống chế bình đồ kiến trúc hiện đại của khối cấu trúc là các hệ thống đứt
gẫy phơng Tây Bắc-Đông Nam: hệ thống đứt gãy sông Chảy và hệ thống đứt gãy
Sông Lô, quy mô khá lớn, đóng vai trò đứt gãy phân đới. Đầu tiên là hệ thống đứt
gãy phơng Tây Bắc-Đông Nam sinh thành và hoạt động kéo dài qua nhiều thời kỳ
địa chất, sau đó các hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam và á kinh tuyến trong
vùng hoạt động phá huỷ, kéo theo các hoạt động magma xâm nhập mafic - kiềm
tuổi paleozoi muộn.
1.2.5. Khoáng sản
Trong vùng nghiên cứu các khoáng sản có ý nghĩa công nghiệp bao gồm:
+ Vàng: Trong khu vục, tồn tại ở dạng sa khoáng và phân bố ở nhiều nơi.
Hầu hết các thung lũng chứa sa khoáng vàng đã đợc dân khai thác (Lâm Đồng,
Khoang Thống và Khau Trung ).
+ Vật liệu xây dựng bao gồm đá vôi ở xã Kim Anh, An Phú; cát sỏi xây dựng
ở MinhTiến; đolomit ở Nà Khà, Mỹ Gia, tập trung chủ yếu ở trong đá vôi bị hoá đá
của hệ tầng An Phú (PR
3
-
1
ab), thờng lộ thành dải nằm trong đá vôi bị hóa đá,
kéo dài 1-2 km rộng 50 m.
10
+ Đá quý: bao gồm corinđon (ruby, saphia), spinen, tuamalin , trong đó
quan trọng nhất là ruby và saphia. Đá quý đợc tìm thấy trong các thành tạo gốc cũng
nh các thành tạo sa khoáng.
1.3. Đặc điểm địa chất khu mỏ ruby, saphia Quỳ Châu, Nghệ An
Khu mỏ ruby, saphia Quỳ Châu thuộc vùng mỏ đá quý Nghệ An, đợc phát
hiện năm 1990. Khu mỏ gồm có 2 mỏ là mỏ ruby - saphia Đồi Tỷ, mỏ ruby - saphia
Bãi Triệu và hàng loạt các điểm quặng quy mô nhỏ bé hơn.
Về vị trí địa chất, khu mỏ nằm tại phần rìa phía đông nam vòm nâng Bù
Khạng, giáp giới với đứt gẫy đờng 48.
1.3.1. Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn
Vùng mỏ Quỳ Châu nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An cách thủ đô Hà Nội
khoảng 200 km về phíaTây Nam, trải rộng trên diện tích khoảng 27 km
2
thuộc xã
Châu Bình huyện Quỳ Châu và một phần xã Yên Hợp thuộc huyện Quỳ Hợp. Khu
mỏ giới hạn trong ô toạ độ địa lý : 19
0
27
49
+ vĩ
độ Bắc và 105
0
12
16
- 105
0
17
52
kinh độ Đông.
Khí hậu trong vùng có hai mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng ma
nhiều kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 dơng lịch, nhiệt độ trung bình từ 25-30
0
có lúc
lên cao nhất 36-40
0
. Lợng ma cao nhất 4500 mm, có năm tới 6877 mm, thờng có ma
bão và lũ lụt lớn. Mùa này thỉnh thoảng có gió bão thổi từ Lào gây nóng và khô khó
chịu. Mùa lạnh ít ma kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ thay đổi từ
18- 19
0
, ở một số nơi vùng núi có khi 3-5
0
, có gió mùa Đông Bắc, lợng ma thấp nhất
là 120 mm.
Nhìn chung các dòng sông ở đây đều hẹp, lu lợng và tốc độ chảy thất thờng
gây ra lũ lụt. Mạng lới sông chính chi phối mạng lới thuỷ văn vùng này là hệ thống
sông Hiếu.
Giao thông vận tải trong vùng cha đợc phát triển. Từ quốc lộ 1A đi vào có đ-
ờng 48: Yên Lý- Nghĩa Đàm Quỳ Châu Quế Phong, và đi ôtô đến Bản Chiềng.
Nói chung các con đờng đợc rải nhựa hoàn chỉnh, tiện lợi cho việc đi lại vận chuyển
của nhân dân.
Nằm vào vùng rẻo cao thuộc phía tây của Tổ quốc, vùng mỏ Quỳ Châu có
nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, đông nhất là ngời kinh rồi đến ngời Thổ. Tập
trung thành những làng xã ở đồng bằng hay các triền sông lớn.
11
Nguồn sống chủ yếu của các dân tộc là sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra còn
sản xuất một số nghề phụ khai thác lâm sản, khoáng sản. Công nghiệp khai thác
khoáng sản trớc đây chỉ mang tính tự phát, khai thác một số mỏ : Antimoan Tà Sỏi,
than Việt thái, đồng Lơng Sơn, chì kẽm Bao Tre. Những mỏ này đã ngừng khai khác
từ rất lâu, những năm gần đây, loại hình công nghiệp này phát triển rầm rộ có sự
quản lý, tổ chức của nhà nớc dới hình thức các xí nghiệp, công ty đã thúc đẩy th-
ơng nghiệp trong vùng phát triển, tạo điều kiện hai miễn xuôi ngợc trao đổi liên hệ
với nhau. Nhờ đó mà kinh tế trong vùng đã có những bớc tiến đáng kể.
Về mặt địa chất khu mỏ nằm tại phần rìa phía Đông Bắc vòm nâng Bù
Khạng, giáp với đứt gãy đờng 48.
1.3.2. Địa tầng
-Hệ tầng Bù Khạng (PR
3
- C
1
bk)
Hệ tầng phân bố ở nhân phức nếp lồi Bù Khạng, trục có phơng tây bắc-đông
nam. Các đá biến chất đợc xếp vào hệ tầng Bù Khạng lộ ra rất phổ biến, chiếm phần
lớn diện tích khu mỏ, phía đông bắc bị giới hạn bởi đứt gãy đờng 48. Theo mức độ
biến chất, có thể chia làm hai phân hệ tầng.
Phân hệ tầng dới (PR
3
- C
1
bk
1
): Lộ ra tại trung tâm khu mỏ và kéo dài về phía
tây bắc, bao gồm hai tập:
+Tập 1: Đá phiến mica-silimanit có anmanđin và plagioclas, cấu tạo dạng
dải, dạng gneis hoặc phân phiến, xen một vài lớp plagiogneis mica silimanit. Đá bị
vò nhàu mạnh mẽ, có biểu hiện micmatit hoá dạng thấu kính, granit hoá nằm theo
lớp.
+Tập 2: Đá phiến thạch anh 2 mica có plagioclas-silimanit-granat xen
plagioclas-silimanit-mica. Các đá bị micmatit hoá mạnh, phổ biến micmatit dạng
ruột, dạng theo lớp. Đặc trng cho tập này là sự có mặt của vài lớp pyroxenit, olit-
bitownit hạt nhỏ màu xanh lục, cấu tạo phân dải và các thấu kính đá hoa.
Phân hệ tầng trên (PR
3
- C
1
bk
2
): Bao xung quanh phần nhân nếp lồi Bù
Khạng, cấu tạo nên phần rìa của khu mỏ, bao gồm 3 phần chính:
Phần dới cùng là đá phiến thạch anh-biotit-plagioclas giàu silimanit xen
quarzit biotit-plagioclas hạt nhỏ có các mạch pegmatit 2 mica chứa granat-tuamalin
xuyên theo lớp.
Phần giữa là đá phiến thạch anh-2 mica-plagioclas chứa đisten, granat xen
các lớp mỏng quarzit biotit.
12
Phần trên cùng là đá phiến thạch anh-mica-granat xen lớp mỏng quarzit
biotit, trên có chứa thấu kính đá vôi bị hoa hoá, đặc biệt phổ biến các thể
granitogneis theo lớp.
-Hệ tầng Sông Cả (O
3
-S
1
sc)
Hệ tầng phân bố ở hai cánh phức nếp lồi Bù Khạng, trong phạm vi khu mỏ,
các đá lộ rất hạn chế ở phía đông bắc, tiếp xúc kiến tạo với các đá hệ tầng Bù Khạng
qua đứt gãy đờng 48 và chỉ bao gồm các đá của phân hệ tầng giữa với hai phần:
Phần dới chủ yếu là quarzit mica hạt mịn, phân lớp trung bình đến dày, xen
các lớp kẹp đá phiến mica vẩy mịn.
Phần trên gồm đá phiến mica vảy mịn xen quarzit mica phân lớp mỏng ở dới,
đá phiến mica-granat ở trên.
-Các thành tạo Đệ tứ không phân chia (Q)
Các trầm tích này phân bố dọc theo các suối, ven chân núi tạo nên các bậc
thềm, bãi bồi, các dải sờn tích, lũ tích. Thành phần là tảng, cuội, dăm, sỏi, sạn, cát,
bột, sét. Chiều dày từ cỡ dm đến hàng chục m.
1.3.3. Các đá magma xâm nhập
Phân bố trên vòm nâng Bù Khạng, xuyên cắt các đá biến chất của hệ tầng Bù
Khạng trong phạm vi khu mỏ có các đá xâm nhập của phức hệ Đại Lộc (aD
1
đl)
gồm granitogneis, granit 2 mica dạng gneis, ít hơn có điorit thạch anh và granođiorit
dạng
gneis; đá mạch có aplit và pegmatit chứa tuamalin. Đặc trng cho cấu tạo của đá
trong khu mỏ là cấu tạo dạng dải nằm chỉnh hợp với đá biến chất của hệ tầng Bù
Khạng. Cấu tạo này có thể biểu hiện dới dạng khối granit có chứa những thể tù đá
phiến kết tinh.
Granitogneis biotit hạt vừa-lớn hơi sẫm màu có: thạch anh (30-35%); fenspat
kali (30-60%); plagioclas (20-30%); biotit (5%). Khoáng vật phụ có apatit, zircon,
granat, corđierit.
Granit 2 mica dạng gneis dạng phân dải yếu với ban tinh là thạch anh và
fenspat kali (10-50%), plagioclas (20-50%), biotit (3-14%), muscovit (1-15%).
Khoáng vật phụ có zircon, apatit, granat, tuamalin, silimanit, đisten.
Granođiorit và điorit thạch anh dạng gneis ít gặp hơn, nghèo thạch anh và
giàu plagioclas hơn các loại trên, thờng phân bố ở rìa các khối, có màu xám sẫm.
13
Pegmatit sáng màu, hạt thô, chứa thạch anh (20-55%), fenspat kali (10-60%),
plagioclas (7-30%), ít muscovit, tuamalin, apatit, silimanit.
Các đá aplit sáng màu, hạt nhỏ, có thành phần tơng tự granit 2 mica vi kiến
trúc aplit điển hình.
Về mặt thạch hoá, các đá phức hệ Đại Lộc thuộc loại bão hoà silic (SiO
2
=
70-74,27%), cao nhôm (Al
2
O
3
= 14-16,77%); độ kiềm biến thiên rộng từ 5,4 đến 9,5
và K
2
O > Na
2
O (thuộc loạt kali-natri), nghèo canxi (CaO = 0,92-1,27).
1.3.4. Kiến tạo
- Các cấu trúc kiến tạo
Trên bình đồ kiến trúc hiện đại, khu mỏ ruby, saphia Quỳ Châu ở phần mút
phía đông nam phức nếp lồi dạng vòm Bù Khạng, phức nếp này là một bộ phận
thuộc đới kiến tạo Phu Hoạt, miền uốn nếp Việt-Lào, có dạng hình elip với phơng
kéo dài là tây bắc-đông nam. Phức hệ thạch kiến tạo tiền Cambri lộ ra tại khu mỏ là
các thành hệ lục nguyên chứa cacbonat bị biến chất đến tớng amphibolit và bị uốn
nếp biến vị mạnh mẽ.
Các quá trình kiến sinh sau này làm biến cải và phức tạp hoá kiến trúc ban
đầu của đới nói chung cũng nh trong phạm vi khu mỏ nói riêng. Di chỉ của quá trình
cải biến này là sự có mặt của các thành tạo xâm nhập phức hệ Đại Lộc (thuộc kiểu
S-granit) và kèm theo chúng là khối kiến trúc vòm với nhân là các thể granit-gneis
(vòm nâng Bù Khạng).
-Đứt gãy
Trong khu vực, đóng vai trò phân chia đới Phu Hoạt với đới Hoành Sơn và
khống chế cấu trúc địa chất khu mỏ là đứt gãy đờng 48 (đứt gãy Sông Hiếu) theo
phơng tây bắc-đông nam. Nếu nhìn từ phạm vi khu mỏ, đây là ranh giới tiếp xúc
kiến tạo giữa hai phân vị địa tầng: Hệ tầng Bù Khạng - Phân hệ tầng trên và Hệ tầng
Sông Cả - Phân hệ tầng giữa.
Ngoài ra, cũng theo phơng tây bắc-đông nam, hợp với đứt gãy đờng 48 thành
hệ thống đứt gãy cùng phơng còn có một số đứt gãy khác với quy mô nhỏ.
Hệ thống đứt gẫy phơng tây bắc-đông nam bị hệ thống đứt gãy trẻ hơn phơng
đông bắc-tây nam phá huỷ, làm dịch chuyển từng phần với biên độ dịch chuyển hạn
chế.
Do hoạt động của các hệ thống đứt gãy cũng nh tơng tác của các trờng lực
kiến tạo đã hình thành một số cấu tạo phá huỷ mang tính tách mở nhiều giai đoạn, là
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét