chuyên môn hoá sản xuất thép và Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất quần áo,
sau đó trao đổi cho nhau thì kết quả là cả 2 cùng được lợi qua thương mại quốc
tế.
Những lí thuyết trên được A. Smith-đại diện tiêu biểu của trường phái kinh
tế cổ điển, đưa ra đầu tiên. Đến nay, qua nhiều thế kỷ phát triển, nó không
ngừng được các nhà lý luận kinh tế học nghiên cứu và phát triển, trong đó phải
kết đến một đại diện tiêu biểu là M.Porter. Ông đã đưa ra lý thuyết “Lợi thế cạnh
tranh của mỗi quốc gia” (The Competitive Advantages of Nations). Theo lý
thuyết của ông, lợi thế cạnh tranh của 1 quốc gia được quyết định bởi sự tác
động qua lại giữa 6 nhân tố cơ bản: 1-Điều kiện sản xuất vốn có (lao động, tài
nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí ); 2-Các điều kiện của thị trường nội địa (số
lượng cần, sự đòi hỏi của người tiêu dùng ); 3-Các ngành công nghiệp bổ trợ
và liên đới; 4-Chiến lược, cơ cấu của các công ty và sự cạnh tranh trong nội bộ
ngành; 5-Chính phủ; 6-Các nhân tố ngẫu nhiên. Trong 6 nhân tố trên thì 4 nhân
tố đầu giữ vai trò quyết định. Hơn thế nữa, nếu lợi thế dựa trên một trong 4 nhân
tố đó được phát huy ở mực độ cao thì lợi thế dựa trên các nhân tố khác sẽ dần
xuất hiện do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Ngược lại, việc để mất lợi
thế cạnh tranh dựa trên 1 trong những nhân tố kể trên cũng dễ dẫn đến việc mất
lợi thế dựa trên những nhân tố khác.
Trên cơ sở lí thuyết của M. Porter, xem xét đến Việt Nam, ta thấy trong
giai đoạn hiện nay có những lợi thế cạnh tranh như sau:
• Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng: theo đánh giá
của các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng như nước ngoài, Việt Nam là quốc
gia có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, đa dạng. Việt Nam là quốc gia có
rừng đa sinh vật, có biển với nguồn thuỷ sản đa dạng và có nhiều loại khoáng
sản khác nhau từ dầu khí cho đến đất hiếm, than nâu Với khi hậu nhiệt đới,
nước ta cũng thuận lợi cho việc phát triển cây nông nghiệp và cây công nghiệp.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nguồn nước dồi dào. Tiềm năng nước bề mặt rất
5
lớn và phân bố đều khắp ở các vùng. Nước ngầm của ta tuy không lớn nhưng
cũng có thể đáp ứng được nhu cầu nước công nghiệp và nước tiêu dùng của dân
cư.
• Về vị trí địa lí: Việt Nam nằm ở Tây Thái Bình Dương-khu vực phát triển
kinh tế cao, ổn định, nơi cửa ngõ giao lưu quốc tế. Do đó, VN có nhiều khả năng
để phát triển các loại hình kinh tế khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải
biển, dịch vụ viễn thông, du lịch
• Về tài nguyên con người: Với khoảng 78 triệu dân, VN là quốc gia có dân
số đông thứ 13 trên thế giới. Ước tính, mỗi năm nước ta có khoảng 1,2 triệu
người bước vào tuổi lao động. Đây là nguồn lực lao động dồi dào, sẵn sang cung
cấp cho nền kinh tế. Không những thế, giá lao động của ta lại thuộc vào loại rẻ
so với thế giới và khu vực.
Những lợi thế trên của VN, theo quan điểm của M.Porter, thực chất là
những lợi thế về chi phí sản xuất dựa trên các điều kiện sản xuất vốn có. Nhờ
đó, hàng hoá và dịch vụ sản xuất tại VN có sức cạnh tranh về giá cả, đặc biệt là
những hàng hoá có hàm lượng lao động và nguyên liệu cao. Tuy nhiên, đây
cũng là những lợi thế cấp thấp, lợi thế “trời cho”, lợi thế có được và không cần
phải có những đầu tư lớn về vốn và tri thức. Những lợi thế này thương không
vững chắc, chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn nếu các điều kiện sản xuất vốn
có không được liên tục tái tạo và phát triển. Do vậy, vấn đề duy trì, tái tạo và
phát huy ở mức độ cao hơn những nguồn lợi thế này là yêu cầu đặt ra với VN.
Từ đó có thể tạo ra các mối liên hệ tác động tốt, dần làm xuất hiện lợi thế ở
những nhân tố khác.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh sẽ là 1 căn cứ quan trọng để một nước chọn ra
chiến lược ngoại thương hợp lý phục vụ cho đường lối phát triển kinh tế của đất
nước. Với mỗi nước khác nhau, những lợi thế sẽ khác nhau và do đó, các chiến
lược áp dụng cũng khác nhau. Qua kinh nghiệm phát triển hoạt động ngoại
6
thương của 1 số nước, các nhà kinh tế đã đúc kết và tổng hợp thnàh các chiến
lược cụ thể mà ta sẽ đi xem xét, nghiên cứu dưới đây.
II-/ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC
NGOẠI THƯƠNG
1-/ Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô thực thi việc xuất khẩu dựa trên sự sẵn
có của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện thuận lợi của đất nước. Sản phẩm
xuất khẩu thô là các sản phẩm chưa qua chế biến hoặc đang còn ở dạng sơ chế,
đó là các sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm khai khoáng. Như vậy, thực chất
có thể gọi đây là chiến lược hướng ngoại nhưng ở trình độ thấp. Chiến lược này
chủ yếu được sử dụng ở các nước đang phát triển với trình độ sản xuất còn thấp
kém. Đối với phát triển kinh tế, nó có những tác động nhất định, thể hiện ở
những điểm sau:
• Tạo ra nguồn tích luỹ ban đầu cho nền kinh tế: Mọi sự khởi đầu đều cần
có cái gốc cơ bản. Với phát triển kinh tế cũng vậy. Một nước muốn đi lên thì đòi
hỏi về vốn là rất cần thiết, không thể phát triển kinh tế với “2 bàn tay trắng”. Do
vậy, với các nước kém và đang phát triển được tự nhiên ưu đãi, việc thực thi
chiến lược này sẽ góp phần tạo ra 1 nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho giai đoạn
đầu của quá trình phát triển, tạo ra những tiền đề vật chất cần thiết cho nền kinh
tế tăng trưởng.
• Tạo điều kiện để phát triển kinh tế theo chiều rộng: Dựa trên việc khai
thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất các sản phẩm sơ chế, từ đó, nó thúc đẩy các
ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến không ngừng phát triển cả về số lượng
và chất lượng. Kết quả là tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, tăng đội ngũ
công nhân lành nghề và tất yếu dẫn đến tăng quy mô sản xuất của nền kinh tế.
• Làm nảy sinh các mối liên kết trong kinh tế: Với sự phát triển của công
nghiệp khai khoáng, chế biến, trước hết, nó tác động ngược trở lại với các ngành
cung ứng nguyên liệu, tạo ra “mối liên hệ ngược”. Chẳng hạn, sự phát triển của
7
công nghiệp dệt sẽ tạo ra nhu cầu đối với nguyên liệu bông và thuốc nhuộm, do
đó, đẩy mạnh sản xuất những ngành này. Sự phát triene của các ngành có liên
quan còn được thể hiện qua “mối liên hệ gián tiếp” thông qua nhu cầu về hàng
tiêu dùng. Mối liên hệ này nảy sinh khi phần lớn lực lượng lao động có mức thu
nhập ngày càng tăng, tạo ra nhu cầu tăng thêm về hàng tiêu dùng. Kết quả là
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cũng được kích thích phát triển.
• Tạo ra sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế: Ban đầu là sự phát triển của
công nghiệp khai khoáng và các ngành nông nghiệp chăn nuôi, trồng cây lương
thực và cây công nghiệp có khả năng xuất khẩu. Tiếp đến là sự phát triển của
công nghiệp chế biến tạo ra các sản phẩm sơ chế như gạo, cà phê, cao su
Trước những năm 50 chiến lược này đã mang lại sự tăng trưởng đáng kể
cho nhiều nước, trong đó có cả 1 số quốc gia phát triển như Mĩ, Canada, Cộng
hoà liên bang Đức do có các lợi thế so sánh về xuất khẩu lương thực, thực
phẩm và 1 số khoáng sản thô khác. Cũng bằng con đường này, 1 số nước nghèo
như Côlômbia, Mêhicô, Malaysia, Philipin trong thời kì đầu CNH (những năm
50-60) đã tạo ra được những động lực đầu tiên cho sự phát triển nhờ có lợi thế
so sánh về một số sản phẩm xuất khẩu như: cao su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ,
quặng kim loại Thực trạng này đã lý giải vì sao đến cuối những năm 60, xuất
khẩu hàng thô và sơ chế chiếm đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước
đang phát triển. Tuy nhiên, việc thực thi chiến lược này cũng có nhiều hạn chế,
trở ngại đối với các nước. Nó thể hiện:
• Hiệu quả kinh tế không cao: Nhiều nàh kinh tế đã đưa ra kết luạn rằng:
đây là loại chiến lược “bán rẻ tài nguyên thiên nhiên”. Các nước này do trình độ
sản xuất còn thấp kém nên phải xuất khẩu các sản phẩm thô và sơ chế với giá rẻ
mạt, không khai thác hết được hết các giá trị từ nguyên liệu của mình. Thường
các sản phẩm này được nước trung gian mua lại, sau đó đem tái chế bằng công
nghệ tiên tiến hơn và tái xuất khẩu đến nước thứ 3 với giá trị kinh tế cao hơn rất
nhiều.
8
• Phụ thuộc nhiều vào cung cầu sản phẩm thô: cung-cầu sản phẩm thô trên
thị trường thế giới mang tính bất ổn cao, từ đó dẫn đến sự biến động giá cả của
các loại sản phẩm này. Xu hướng biến động ngày càng theo chiều hướng bất lợi
cho các nước xuất khẩu vì tương quan giá cả của các mặt hàng sơ chế sẽ ngày
càng giảm so với các mặt hàng chế biến, đặc biệt là các mặt hàng được chế biến
sâu (có hàm lượng kĩ thuật-công nghệ cao).
• Gây ra hậu quả xấu về môi trường sinh thái: vì tư lợi, việc khai thác bừa bãi
nguồn tài nguyên để xuất khẩu là khó tránh khỏi, trong đó, có cả những sản phẩm phục
vụ trực tiếp cho việc bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Nếu những sản phẩm
này bị khai thác quá mức sẽ để lại những hậu quả về môi trường khó có thể lường trước
được. Ngay như nước ta, việc khai thác 1 cách bừa bãi các loại tài nguyên khoáng sản
đã dẫn đến rất nhiều hậu quả về môi trường sinh thái, về thiên tai.
• Giải pháp “trật tự kinh tế mới”
Các nước xuất khẩu sản phẩm thô luôn cố gắng nhằm tăng giá trị của
những mặt hàng xuất khẩu. Một trong những thành công đó là việc đấu tranh để
đi đến 1 “trật tự kinh tế mới”, gọi tắt là NIEO. Thực chất của việc làm này là
kêu gọi thành lập các tổ chức mà các thành viên tham gia là các nước đang cung
cấp sản phẩm thô đó trên thị trường. Nội dung hoạt động của tổ chức là kí kết
các hiệp định nhằm xác định một lượng cung sản phẩm thô hợp lí trên thị trường
quốc tế sao cho giữ được ổn định hoặc tăng giá của chúng, tức là đem lại điều
kiện xuất khẩu có lợi cho các nước xuất khẩu. Việc cung bừa bãi sẽ dẫn đến giá
xuất khẩu bất lợi, vì vậy cần phải hạn chế cung. Trên cơ sở lượng cung chung
được xác định, từng nước thành viên sẽ được giới hạn tại từng mức cung cụ thể
theo cam kết.
Một điển hình thành công trong việc áp dụng giải pháp này là tổ chức quốc
tế về cà phê (ICO). Tổ chức này đã đưa ra hạn mức xuất khẩu cho từng nước
tham gia. Tổ chức của các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cũng đạt được những
thành công nhất định. Từ năm 1974 đến 1982, OPEC đã tăng được giá dầu từ
9
4USD/ thùng lên hơn 30USD/ thùng. Nhưng giải pháp này cũng có hạn chế của
nó. Đó là mức độ thực hiện cam kết của các nước thành viên. Thường các nước
có xu hướng tăng thêm sản lượng so với hạn mức để tranh thủ giá trên thị
trường, kết quả là xảy ra phản ứng dây chuyền với các nước khác và “trật tự
kinh tế quốc tế” bị phá vỡ.
• Giải pháp “kho đệm dự trữ quốc tế”
Với giải pháp này, Liên hợp quốc kêu gọi các nước xây dựng các “kho đệm
dự trữ quốc tế” mà mỗi loại kho phục vụ cho 1 loại sản phẩm thô. Vẫn đề đóng
kinh phí cho hoạt động các các kho khác với “trật tự kinh tế mới” là Liên hợp
quốc bắt buộc đối với cả nước xuất khẩu lẫn nước nước nhập khẩu. Nhiệm vụ
của kho là duy trì một lượng sản phẩm thô trên thị trường sao cho giá cả của nó
không gây bất lợi cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. Thực thi giải pháp
này cũng vấp phải vấn đề là nhiều khi không cod đầy đủ thông tin từ kho đệm
đến sản xuất dễ khiên cho người sản xuất nhận được những tín hiệu không đúng
về cung-cầu sản phẩm và làm cho kho hoạt động kém hiệu quả, thậm chí còn
gây ra tác hại xấu đến thị trường.
Nhìn chung cả 2 biện pháp có khác nhau về cách thức thực hiện nhưng đều
tác động đến lượng hàng hoá cung ứng trên thị trường và từ đó tác động đến giá
cả để nó không gây ra những bất lợi cho các nước xuất khẩu và kể cả với nước
nhập khẩu.
2-/ Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu (chiến lược hướng nội)
Những năm của thập niên 50-60, hầu hết các nước đang phát triển ở châu
Á, châu Phi, Mĩ-Latinh đều thực hiện CNH đất nước bằng chiến lược phát triển
kinh tế hướng nội mà nội dung chủ yêú của nó là việc đề cao sản xuất hàng thay
thế nhập khẩu.
Phương pháp tiếp cận với chiến lược này là: Trước hết, các nhà sản xuất
trong nước cần xác định rõ nhu cầu thị trường trong nước qua số lượng nhập
khẩu thực tế hàng năm để lập kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh. Sau đó,
10
sẽ tiến tới đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước, mà trước hết là công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp đến là các ngành công nghiệp khác để thay thế các
sản phẩm nhập khẩu đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Nhà nước sẽ có
trách nhiệm bảo đảm dư các điều kiện cần thiế để các nhà sản xuất trong nước
có thế tự là chủ toàn bộ quá trình hàng rào bảo vệ cho sản xuất và mậu dịch
trong nước phát triển bằng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan.
Bằng chiến lược này, trong thực tiễn phát triển, nhiều nước đã đạt được
tăng trưởng và phát triển kinh tế nhờ khai thác, phát huy tốt các tiềm năng, thế
mạnh về lao động, tài nguyên để phát triển mạnh sản xuất các sản phẩm thay
thế nhập khẩu với chi phí, giá thành hợp lí. Tuy nhiên, để thực hiện thành công
chiến lược này cần phải có được những điều kiện nhất định cho nó phát huy khả
năng. Các điều kiện đó là:
• Điều kiện cơ bản nhất là phải có bảo hộ của chính phủ để hạn chế tính
cạnh tranh của hàng nước ngoài. Bảo hộ của chính phủ có thể bằng nhiều cách,
nhưng biện pháp hữu hiệu nhất thường được áp dụng là bảo hộ bằng thuế nhập
khẩu và bằng hạn ngạch (Quota).
• Phải xác định được khả năng phát triển của công nghiệp trong nước: Việc
can thiệp, bảo hộ của chính phủ chỉ trong những giới hạn và thời kì nhất địn.
Chính phủ không thể bảo hộ mãi được mà cái chính là doanh nghiệp phải tự bảo
vệ lấy mình qua việc nâng cao chất lược, khả năng sản xuất. Nhưng, trong giai
đoạn đầu, để vực sản xuất trong nước nhất thiết cần có “bàn tay hữu hình” can
thiệp. Điều quan trọng là sự hợp lí trong can thiệp, bảo hộ của chính phủ như thế
nào. Việc bảo hộ quá mức hay lỏng lẻo đều gây ra những hậu quả xấu cho nền
kinh tế. Do đó, cần phải xác định được một cách chính xác khả năng của các
ngành sản xuất trong nước, để từ đó đưa ra được giải pháp bảo hộ tối ưu.
• Phải có được một thị trường trong nước đủ lớn. Bảo hộ gần như là khép
kín. Để sản xuất trong nước phát triển cần có thị trường mà thị trường này được
hướng nội xác định là chỉ có thị trường trong nước. Cho nên, đòi hỏi của chiến
11
lược là thị trường phải đủ rộng cho sản xuất trong nước phát triển. Thiếu thị
trường là đồng nghĩa với bóp chết sản xuất.
Bên cạnh những điều kiện trên, thực thi chiến lược hướng nội còn vấp phải
nhưng khó khăn khác nữa. Những cái khó của hướng nội thể hiện ở một số điểm
sau:
- Từ cuối những năm 60, chiến lược thay thế nhập khẩu đã bị hạn chế dần
tác dụng ở một loạt nước, trước tiên là các nước Mĩ-Latinh, sau đó lan rộng ra
các nước châu Á, châu Phi. Nguyên nhân sự thất bại này là do chiến lược ngày
càng tỏ ra lạc hậu trước xu thế mở cửa, phát triển mạnh các quan hệ hợp tác và
phân công lao động quốc tế. Với việc đề cao hướng nội sẽ làm hạn chế tự do hoá
thương mại, vi phạm quy luật lợi thế so sánh qua đóng cửa, “bế quan toả cảng”
nền kinh tế.
- Do đề cao quan điểm tự lực cánh sinh, nhiều khi các nước phải sản xuất ra
sản phẩm thay thế nhập khẩu với bất cứ giá nào. Làm như vậy sẽ gây lãng phí
nguồn lực sản xuất.
- Một lí do nữa là công nghiệp thay thế nhập khẩu thường phải tách rời
những khu vực sản xuất vật chất truyền thống, vì thế nảy sinh ra 1 mâu thuẫn là
để phát triển mạnh công nghiệp thay thế nhập khẩu thì lại càng phải tăng nhập
khẩu nguyên liệu, máy móc Điều này trái với chính sách tiết kiệm ngoại tệ, mà
hầu hết các nước áp dụng chiến lược này đều nằm trong diện kém và chưa phát
triển. Từ đó, các nước này ngày càng lâm vào tình trạng vay nợ, phụ thuộc vào
các nguồn vốn đầu tư của tư bản nước ngoài.
Như vậy, chiến lược này cũng có khá nhiều nhược điểm. Nó đòi hỏi khi áp
dụng chiến lược, các nước phải có sự nghiên cứu kĩ càng, tránh áp dụng 1 cách
dập khuôn máy móc. Một điển hình cho việc áp dụng không thành công chiến
lược phát triển hướng nội là Myanma. Nhìn lại lịch sử ta thấy Myanma đã kiên
trình theo đuổi chiến lược này trong suốt những năm 50-60. Nhưng trong quá
trình thực hiện, do điều kiện không phù hợp, các chính sách đưa ra không hợp lí
12
đã dẫn đến thất bại. Kết quả là Myanma lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
trầm trọng, trở thành một nước nghèo nhất thế giới: GDP/ người chỉ có
200USD, mặc dù Myanma có lực lượng lao động đông, diện tích đất đai lớn, có
trữ lượng khá về dầu lửa và nhiều nguồn tài nguyên khác, đặc biệt là có nhiều
khả năng phát triển nông-lâm-ngư nghiệp. Nhưng như vậy, không có nghĩa là
chiến lược này lợi ít hơn hại. Thất bại của Myanma chỉ là một minh chứng cho
việc lựa chọn chiến lược không hợp lí chứ không phải là kết quả tất yếu do chiến
lược này gây ra. Xem xét đến các nước khác như Hongkong và Đài Loan, ta
thấy điều này ngược lại. Để trở thành “rồng châu Á” như ngày nay, Hongkong
và Đài Loan đã thực thi chiến lược thay thế nhập khẩu. Cả 2 nước đều tiến hành
thay thế nhập khẩu lần thứ nhất với hàng tiêu dùng, và kể cả sau khi đã chuyển
hướng chiến lược sang hướng ngoại thì họ vẫn thực hiện bược thứ 2 của thay thế
nhập khẩu với nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị Điều không thể phủ nhận là
nhờ thay thế nhập khẩu một cách hợp lí đã thúc đẩy kinh tế 2 nước phát triển.
Rõ ràng là chiến lược này “tốt” hay “xấu” là tuỳ thuộc vào việc sử dụng linh
hoạt của mỗi nước. Bên cạnhđó cũng cần lưu ý, chính trong quá trình thực hiện
chiến lược này, đến một thời điểm nào đó bằng việc chuyên môn hoá phát triển
sản xuất thay thế nhập khẩu, mỗi nước đều có thể đạt được lợi thế so sánh ở một
vài sản phẩm công nghiệp nào đó, và do đó vẫn có thể xuất khẩu những sản
phẩm này sau khi đã thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chiến lược hướng
nội sẽ là khúc dạo đầu cho việc tăng trưởng theo hướng xuất khẩu.
3-/ Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế (chiến lược hướng ngoại)
Ngược hẳn với chiến lược thay thế nhập khẩu, chiến lược công nghiệp hoá
hướng vào xuất khẩu thể hiện sự vận dụng quy luật lợi thế so sánh ở mức độ cao
nhất, do đó, nó đặc biệt đề cao việc mở cửa, phát triển mạnh hướng ngoại của nền
kinh tế. Nội dung cơ bản của chiến lược là: các nước khác nhau đều có những lợi
thế so sánh khác nhau về nguồn lực sản xuất vốn có như vốn, lao động, tài
nguyên, vị trí địa lí vì thế các nước cần “phụ thuộc” lẫn nhau trong quá trình
phát triển để có thể trao đổi cho nhau các lợi thế so sánh đó thông qua các hoạt
13
động kinh tế đối ngoại như ngoại thương, liên doanh liên kết để cùng phát triển
sản xuất kinh doanh.
Đến nay, qua thực tiễn phát triển ở nhiều nước đã khẳng định tính hiệu quả
kinh tế cao, phù hợp với xu thế phát triển của chiến lược này. Ví dụ thành công
nhất trong việc áp dụng chiến lược hướng ngoại phải kể đến “4 con rồng châu
Á” là các nước: Đài Loan, Hongkong, Hàn Quốc và Singapo. Cả 4 nước này đều
nghèo tài nguyên, kinh tế chậm phát triển, nhưng nhờ áp dụng đúng đắn, sáng
tạo chiến lược hướng ngoại, lấy xuất khẩu dẫn đường, thúc đẩy kinh tế phát
triển. Kết quả là chỉ sau 20-30 năm kể từ khi bắt đầu tiến hành CNH, các nước
này đã đạt được nhiều thành tựu trên con đường phát triển, trở thành các nước
công nghiệp của châu Á (NIES). Năm 1960, kim ngạch xuất khẩu của “4 con
rồng” mới chỉ chiếm 1,6% kim ngạch xuất khẩu của thế giới, nhưng sau một
thời gian hướng ngoại mạnh mẽ, con số này đã tăng lên tới 8,6% vào năm 1991.
Điều đáng quan tâm là, trong suốt 30 năm qua, từ khi các nước NIES châu Á
tiến hành CNH, mặc dù thế giới có nhiều biến động phức tạp nhưng họ vẫn luôn
giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Trong thập kỉ 60, tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm của “4 con rồng” là 9%, những năm của thập
niên 70 là 9,1% và thập kỉ 80, mặc dù đã chậm lại song vẫn giữ được tốc độ tăng
trưởng hàng năm khá cao là 7,5%. Để đạt được kết quả trên là sự kết hợp, tác
động tổng hợp của nhiều nhân tố, nhưng nhân tố quan trọng nhất làm nên thành
tựu đó, là họ đã lựa chọn và sử dụng chiến lược hướng ngoại một cách hợp lí,
sáng tạo. Việc thực thi chiến lược này tạo ra nhiều tác động tích cực đối với phát
triển kinh tế. Điều này được thể hiện:
• Hướng ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng
nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trái ngược với hướng nội là tạo
ra sức ỳ, tính ỷ lại của các doanh nghiệp trong nước, với chiến lược hướng
ngoại, nó đẩy các doanh nghiệp vào tình thế cạnh tranh khốc liệt và đòi hỏi các
doanh nghiệp phải năng động để có thể tự đứng vững trên thị trường. Qua quá
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét