Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt nam

A. Đặt vấn đề
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản của xã hội. Ở đây, các hình thức sở hữu
vừa do trình độ lực lượng sản xuất quy định, vừa là nhân tố thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Vì thế, việc nhận thức và vận dụng quan hệ giữa
sự phát triển lực lượng sản xuất với đa dạng hoá các hình thức sở hữu để
xây dựng đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn cả nước bước vào thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề
có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương chính
sách kinh tế của Đảng.
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ
ra rằng trong điều kiện lực lượng sản xuất thấp, không đều về trình độ thì
quan hệ sản xuất tất yếu phải đa dạng nhiều loại hình, đi ngược với xu
hướng đó là cản trở phát triển của sản xuất.
Ở Việt nam,vào thời kỳ đất nước chưa đổi mới, quá trình nhận thức
và vận dụng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất nói
chung và các hình thức sở hữu nói riêng đã có những sai lầm thiếu sót vi
phạm quy luật khách quan làm cho các lực lượng sản xuất bị kìm hãm,
không khơi dậy được tiềm năng của lực lượng sản xuất, nền kinh tế ngày
càng đi xuống, tiêu cực phát sinh nhiều, lòng dân không yên, các thế lực
thù địch có cơ hội để công kích. Đất nước sau ngày đổi mới, đặc biệt trong
10 năm trở lại đây, việc đổi mới gắn liền với sự thay đổi quan hệ sản xuất
nói chung và đa dạng hoá các hình thức sở hữu nói riêng với sự phát triển
lực lượng sản xuất, tạo những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Với suy nghĩ trên, tôi chọn đề tài
“Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với đa dạng
hoá các hình thức sở hữu ở Việt nam”.

1
B. Nội dung
I. Quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất
với đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
I.1. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với các
hình thức sở hữu.
Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng đó không phải là sự sáng
tạo tuỳ tiện mà là sáng tạo trong những hoàn cảnh nhất định. Trước hết, đó
là sự sản xuất vật chất. Lịch sử của xã hội trước hết là lịch sử phát triển
của sản xuất vật chất, là lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau
trong các giai đoạn phát triển của xã hội. Phép biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất đưa lại cho ta chìa khoá để nhận thức những
quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, từ đó thấy được sự phát triển
xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa người với giới tự nhiên, biểu
hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người. Đó là kết quả của năng
lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra
của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Lực lượng
sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó nhân tố
người lao động giữ vai trò quyết định.
Lực lượng sản xuất là yếu tố luôn vận động và biến đổi trong quá trình
lịch sử .Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất
cũng hình thành và biến đổi theo cho phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất Sự phù hợp đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển.
Khi lực lượng sản xuất phát triển lên trình độ mới, quan hệ sản xuất không
còn phù hợp sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức
sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến xoá bỏ quan hệ sản
xuất cũ thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu
2
mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi,
tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại đã
tạo ra bước nhảy vọt lớn trong lực lượng sản xuất. Thực chất của cuộc
cách mạng đó là mở ra một kỷ nguyên mới của sản xuất tự động hoá,
phương pháp công nghệ mới đem lại những hiệu quả cao trong sản xuất,
dẫn đến đa dạng hoá các hình thức sản xuất tức là đa dạng hoá các hình
thức sở hữu.
I.2. Tác động ngược lại của các hình thức sở hữu đối với
lực lượng sản xuất.
Tuy phụ thuộc vào lực lượng sản xuất , chịu sự quyết định của lực
lượng sản xuất, nhưng các quan hệ sản xuất nói chung và các hình thức sở
hữu nói riêng có sự tác động tích cực trở lại đối với lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất vật chất. Nó biểu hiện ở quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ
trong tổ chức, quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân
phối sản phẩm. Trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa
quyết định đối với các quan hệ sản xuất khác. Nó quyết định bản chất của
quan hệ sản xuất, mục đích của sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh, phương thức quản lý, chi phối việc phân phối kết quả sản xuất,
quyết định cơ cấu giai cấp xã hội . Giai cấp nào nắm quyền sở hữu những
tư liệu sản xuất chủ yếu thì giai cấp đó nắm quyền thống trị xã hội, nắm
quyền chi phối tổng sản phẩm xã hội.
Khi các hình thức sở hữu mà phù hợp thì nó tạo ra gắn bó người lao
động với công cụ và đối tượng lao động, đẩy mạnh khai thác các nguồn
lực, phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội ,
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển .
Trong thực tiễn lịch sử cho thấy, thông thường do sự phát triển của lực
lượng sản xuất, một hình thức sở hữu nào đó từ chỗ phù hợp với lực lượng
3
sản xuất, dần dần trở nên lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm lực lượng sản xuất
phát triển nên đòi hỏi phải thay thế bằng hình thức sở hữu mới cho phù
hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Mặt khác ngược lại : “ Lực lượng
sản xuất bị kìm hãm, không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu,
mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi
quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” ( Đảng cộng sản
Việt nam – văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII – tr .57) .
Trong trường hợp đó, quan hệ sản xuất không phải là “mở đường” cho sản
xuất mà lại trở thành kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất .
Tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm của quan hệ sản xuất đối với lực
lượng sản xuất chỉ là tương đối. Sự kìm hãm của quan hệ sản xuất cũng
như sự kìm hãm của các hình thức sở hữu đối với lực lượng sản xuất tức là
có thể gây khó khăn, cản trở làm chậm sự phát triển của lực lượng sản
xuất trong một thời gian nhất định, không thể làm tan rã lực lượng sản
xuất. Với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì dù các hình thức sở hữu
lỗi thời cuối cùng sẽ bị thay thế bằng một kiểu hình thức sở hữu khác phù
hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất.
Vậy ở đây, mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất nói chung và các hình
thức sở hữu nói riêng phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất là mối quan hệ bản chất của sự tác động biện chứng của hai mặt đối
lập trong một phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác
động qua lại một cách biện chứng. Trong đó, lực lượng sản xuất là nội
dung còn các loại hình sở hữu là hình thức xã hội của sản xuất. Trong
phương thức sản xuất, quá trình diễn biến của hai mặt đối lập : lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất diễn biến theo công thức phù hợp – không
phù hợp – phù hợp. Cứ như vậy làm cho quan hệ sản xuất phải thay đổi ,
các hình thức sở hữu cũng thay đổi và đa dạng hơn phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất .
4
II . Vận dụng quy luật về mối quan hệ giữa phát triển lực
lượng sản xuất với đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt
nam.
II .1. Đa dạng hoá các hình thức sở hữu là sự vận dụng
sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất .
Trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
ở nước ta, để tạo ra sự tự do kinh tế và hình thành nhiều nhà kinh doanh
giỏi, thích ứng với cơ chế thị trường, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương
đa dạng hoá các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất. Sự tồn tại của chế độ
sở hữu về tư liệu sản xuất với nhiều hình thức sở hữu khác nhau là một tất
yếu khách quan, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội quyết
định. Chính vì vậy, chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá với nhiều
hình thức sở hữu tạo thành nền kinh tế nhiều thành phần với các loại
doanh nghiệp đa dạng là chiến lược đổi mới và phát triển kinh tế lâu dài.
+ Đổi mới kinh tế nhà nước :
“ Khu vực kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh
tế, đảm nhận các khâu then chốt và các lĩnh vực trọng yếu, nhất là trong
công nghiệp, cơ sở hạ tầng và tài chính tín dụng” ( Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII. Tr 158).
Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước các tài sản
thuộc sở hữu nhà nước ( đất đai, hầm mỏ, ngân sách, các nguồn dự trữ )
và phần vốn góp vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Theo chủ trương của Đại hội VIII, kinh tế nhà nước cần tập trung
vào những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như : Kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội, hệ thống tài chính ngân hàng bảo hiểm; những cơ sở sản xuất và
thương mại, dịch vụ quan trọng; doanh nghiệp phục vụ an ninh- quốc
5
phòng. Nói chung là những doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn, công
nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, sự phát triển của lực
lượng sản xuất đạt tới một trình độ xã hội hoá nhất định, tất yếu dẫn đến ra
đời và phát triển quan hệ kinh tế vượt ra khỏi giới hạn của quan hệ kinh tế
tư nhân. Do đặc điểm về sở hữu và do tính chất của lĩnh vực hoạt động lại
gắn với chủ thể có vai trò quản lý toàn xã hội, nên kinh tế nhà nước thể
hiện là một quan hệ kinh tế mang tính xã hội hoá. Sự ra đời và phát triển
của kinh tế nhà nước không chỉ đáp ứng đòi hỏi của lực lượng sản xuất đã
xã hội hoá, mà còn tạo điều kiện “mở đường” cho lực lượng sản xuất phát
triển.
Để khu vực kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, bên cạnh sử
dụng tổng hợp lực của các bộ phận cấu thành khác, phải dặc biệt chú ý
đến các doanh nghiệp nhà nước. Năm 1989, cả nước có 12.300 doanh
nghiệp nhà nước , đến cuối năm 1995 còn 6052, trong đó 2337 doanh
nghiệp trung ương ( 30,3%) và 4215 doanh nghiệp địa phương (69,7%).
Tài sản doanh nghiệp nhà nước chiếm 3/4 tổng sản phẩm cố định quốc
gia, nhưng mới làm ra 44% tổng sản phẩm của đất nước. Hiệu quả như
vậy là chưa tương xứng. Tuy nhiên, nó đã đóng góp 30 đến 35% ngân
sách nhà nước.
Chủ trương của nhà nước là tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp nhà
nước. Vì trong nền kinh tế vẫn còn nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ( gần
50% số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 1 tỉ đồng, trong đó gồm một
nửa có số vốn dưới 500 triệu đồng, thêm nữa có nhiều doanh nghiệp kinh
doanh kém hiệu quả, thua lỗ, thậm chí lâm vào tình trạng phá sản (chiếm
khoảng 16,5%). Những doanh nghiệp đó có thể được sát nhập với doanh
nghiệp nhà nước khác, chuyển sang hình thức sở hữu khác hoặc giải thể
theo luật doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, theo tinh thần nghị quyết Đại
hội VIII, chúng ta đang khẩn trương tiến hành phân loại doanh nghiệp nhà
6
nước theo hai hình thức: doanh nghiệp kinh doanh thu lợi nhuận và doanh
nghiệp công ích không vì mục tiêu lợi nhuận .
Một mặt nữa để đổi mới doanh nghiệp là cổ phần hóa doanh nghiệp.
Đại hội VIII yêu cầu “ triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá
doanh ngiệp nhà nước Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần
chi phối. Gọi thêm cổ phần hoá hoặc bán cổ phần cho người lao động tại
doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng
trường hợp cụ thể; vốn huy động được để đầu tư mở rộng sản xuất”( Văn
kiện đã dẫn . tr 95).
Mấy năm qua, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá dưới hình thức toàn
bộ 10 doanh nghiệp nhà nước. Kết quả bước đầu nhìn chung là khả quan.
+ Đổi mới kinh tế hợp tác và hợp tác xã:
Phong trào hợp tác hoá ở nước ta xuất hiện từ cuối những năm 50. Nó
đã đóng góp rất quan trọng trong công cuộc kháng chiến cứu nước .
Nhưng hợp tác xã với mô hình cũ khi chuyển sang kinh tế thị trường đã
bộc lộ rõ nhiều khuyết tật, nhược điểm. Vì vậy, nhiều hợp tác xã đã tan rã
hoặc tồn tại hình thức . Đến năm 1994, cả nước có 2.958 hợp tác xã nông
nghiệp ( hơn 17% tổng số hợp tác xã) và 33.804 tập đoàn sản xuất nông
nghiệp giải thể (bằng 93%tổng số tập đoàn), có tỉnh không còn hợp tác xã
và tập đoàn sản xuất.
Theo phân loại vào cuối năm 1994, có 3 loại hợp tác xã như sau:
- Loại hợp tác xã phát huy được vai trò của kinh tế tập thể. Loại
này chiếm 10%. Các hợp tác xã này tổ chức các hình thức dịch vụ đáp ứng
yêu cầu của các hộ nông dân, tổ chức thêm các ngành nghề mới.
- Loại hợp tác xã còn hoạt động được một vài khâu. Loại này
chiếm 40%. Nhưng hợp tác xã hoạt động rất khó khăn, vì cơ sở vật chất và
vốn liếng không còn, do đã chi hết cho xã viên. Để có vốn lập quỹ hoạt
7
động hợp tác phải thu một tỷ lệ sản phẩm nhất định theo đơn vị diện tích
từ hộ xã viên.
- Loại hợp tác xã chỉ còn tồn tại trên hình thức. Loại này chiếm trên
43%. Tuy vẫn còn ban quản trị và chủ nhiệm, nhưng hợp tác xã không còn
hoạt động về kinh tế, ở nhiều nơi đang lúng túng, chưa giải thể được và
cũng chưa chuyển đổi được sang hình thức khác.
Do hợp tác xã kiểu cũ hoạt động không còn phù hợp nên vừa qua
nhiều hợp tác xã và tổ sản xuất đã tự tiến hành tổ chức quản lý. Nhưng vì
không có sự hướng dẫn thống nhất, nên bên cạnh sự đổi mới đúng đắn vẫn
còn nhiều nơi chắp vá không đúng với quy luật. Tuy nhiên, có những hình
thức đổi mới tiến bộ đúng đắn để phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh
trên thị trường, hạn chế sự thao túng, chèn ép của tư thương, nhu cầu hợp
tác mới đã xuất hiện. Nhiều nơi nông dân đã tự nguyện lập ra các hình
thức kinh tế hợp tác đa dạng như : tổ đường nước, tổ liên gia vay vốn ngân
hàng, các tổ, hội nghề nghiệp, hợp tác góp vốn, góp sức xây dựng kết cấu
hạ tầng mới ở nông thôn ( đường điện, kênh mương dẫn nước, đường sá);
tổ hợp tác dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất
Các hình thức hợp tác nói trên không chỉ tồn tại dưới dạng tổ, nhóm
mà còn dưới dạng hợp tác xã, tuy chưa nhiều. Nói chung, hợp tác hoá kiểu
mới phát triển chưa thành một phong trào mạnh mẽ và còn nhiều mặt chưa
hoàn thiện.
Chính vì vậy, Đại hội VIII đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế hợp tác.
“Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã là hình thức liên kết tự
nguyện của người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên
với sức mạnh tập thể để giải quyết hiệu quả hơn những vấn đề của sản
xuất, kinh doanh và đời sống”.( tr 95)
+ Phát ttriển kinh tế tư bản nhà nước.
8
Lê nin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước có các ưu việt là “ tính tập
trung , được kiểm soát và được xã hội hoá”. Nó là “ mắt xích trung gian
giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, là phương tiện, là con đường,
phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”.
Ngày nay, Đảng và nhà nước ta đang áp dụng một cách rộng rãi, phổ
biến các hình thức kinh tế tư bản nhà nước để phát triển lực lượng sản
xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. “ Kinh tế tư bản nhà nước bao
gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư
nhẩn trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản
nước ngoài”. ( Nghị quyết Đại hội VIII. Tr 95 )
Từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến cuối năm 1996 ước tính tổng số
vốn dăng kí của nước ngoài đầu tư vào Việt nam đạt trên 28 tỉ đôla trong
đó gần 1/3 tổng số vốn đã và đang được thực hiện. Kinh tế tư bản nhà
nước trong quan hệ với đầu tư trực tiếp từ phía nước ngoài được thực hiện
dưới ba hình thức :
- Đầu tư 100% vốn nước ngoài.
- Đầu tư hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Đầu tư liên doanh ( hình thức chủ yếu)
Ngoài ra, có đầu tư xây dựng – khai thác chuyển giao, xây dựng –
chuyển giao Viện trợ đầu tư phát triển của các chính phủ và các tổ chức
quốc tế.
Nghị quyết Đại hội VIII viết : “ Áp dụng nhiều phương thức góp vốn
liên doanh giữa nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước
nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt nam phát triển tăng sức
hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài” ( tr 95). Như vậy, Đảng ta đã chủ
trương áp dụng rộng rãi kinh tế tư bản nhà nước. Ở nhiều tỉnh và thành
phố bắt đầu tiến hành thí điểm các hình thức khác nhau liên doanh giữa
nhà nước và tư nhân . Các liên doanh này đang hoạt động dưới hình thức
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong các lĩnh vực sản xuất
9
công nghiệp, nông nghiệp, chế biến thương nghiệp. Tuy trước mắt còn
một số trở ngại cho sự phát triển các liên doanh trong nước, nhưng triển
vọng của nó rõ ràng là to lớn. Làm được điều này không chỉ là một
phương tiện để tăng lực lượng sản xuất lên, mà còn là một bảo đảm cho sự
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Phát triển kinh tế cá thể , tiểu chủ.
Kinh tế cá thể là tầng lớp lao động bằng thủ công là chính, sản xuất
và kinh doanh phân tán, mục đích kinh doanh chủ yếu là để nuôi sống
mình. Còn tầng lớp tiểu chủ thì bản thân vừa lao động trực tiếp, vừa sử
dụng một số ít lao động làm thuê theo thời vụ hoặc thường xuyên.
Nghị quyết Đại hội VIII nêu rõ: kinh tế cá thể tiểu chủ có vị trí quan
trọng, lâu dài, nhà nước cần giúp đỡ kinh tế cá thể tiểu chủ về vốn, về
khoa học công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy vậy, kinh tế cá
thể tiểu chủ dù có cố gắng bao nhiêu cũng không loại bỏ được hạn chế cố
hữu của nó.
+ Phát triển kinh tế tư bản tư nhân.
Trong những năm đổi mới, đặc biệt là trong 10 năm trở lại, kinh tế
tư bản tư nhân phát triển nhanh. Tính đến năm 1995, đã có 22.445 doanh
nghiệp thuộc thành phần này, đa số là doanh nghiệp nhỏ. Một số ít là
doanh nghiệp lớn có số lao động từ 5000 đến trên dưới 10.000 người. Số
doanh nghiệp này tập trung đông nhất trong ngành dịch vụ ( chiếm 64%);
nông, lâm, ngư nghiệp (chiếm 17,6%); công nghiệp (chiếm 9,8%); xây
dựng ( chiếm 9,2%). Tổng giá trị sản phẩm tạo ra bằng khoảng 9% GDP
của cả nước. Đến năm 2000, nông nghiệp chiếm khoảng 19-20%, công
nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 34-35%, còn dịch vụ 45-46% GDP.
10
II .2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cơ sở cho
việc xây dựng các hình thức sở hữu ở Việt nam. Trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Đảng ta chủ trương : Đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá, phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần gắn liền với việc xây dựng đồng bộ và
vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, dưới tác động như “ vũ bão” của cuộc cách mạng khoa học
– công nghệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang là vấn đề mang tính tất yếu
là một xu thế khách quan mà tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và
Việt nam nói riêng phải tuân theo nếu không muốn bị nhấn chìm trong sự
nghèo nàn , lạc hậu.
Đại hội lần thứ VIII khẳng định : “ Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là
bước rất quan trọng của thời kì phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá
, hiện đại hoá đất nước ”; “ra sức phấn đấu từ nay đến khoảng năm 2020
để biến nước ta thành một nước công nghiệp” ( tr 82. 80 )
Đảng ta đã đưa ra quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá hoàn
chỉnh: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình căn bản, toàn diện hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ sử dụng
lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng vơí công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa
trên sự phát triển của khoa học - công nghệ, tạo năng suất lao động xã hội
cao.
Vậy việc vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
của lực lượng sản xuất của Đảng ta vào điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt
nam hiện nay là :
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế xã hội thực chất là đẩy
mạnh sự phát triển lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất phát
11
triển đến trình độ cao, lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử
dụng máy móc và các phương tiện kĩ thuật hiện đại, năng xuất lao động xã
hội tăng. Từ đó hình thành thêm nhiều hình thức sở hữu khác nhau phù
hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Phát triển lực lượng sản xuất theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại
hoá bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn trong nền kinh tế- xã hội không chỉ
trong sản xuất, mà cả trong dịch vụ, trong quản lý kinh tế xã hội.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá lấy khoa học công nghệ làm nền
tảng, làm động lực cho sự phát triển.
C. Giải pháp cho việc vận dụng mối quan hệ phát triển lực
lượng sản xuất với đa dạng hoá các hình thức sở hữu theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam .
Trong điều kiện nước ta hiện nay, sản xuất nhỏ còn phổ biến, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất không đồng đều giữa các ngành, các
vùng trong các thành phần kinh tế, thì việc đa dạng hoá các hình thức sở
hữu phải được xây dựng từng bước, từ thấp đến cao, có cách làm và bước
đi thích hợp sao cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất.
Vì vậy, nghị quyết Đại hội VIII đã xác định : “ thực hiện nhất quán
lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần . Lấy
việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và
bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và
xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh
doanh.” ( Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII .Tr 91- 92 ).
Vậy, muốn có giải pháp đúng đắn để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu sở hữu theo hướng sau đây :
12
1 . Xây dựng khu vực kinh tế nhà nước với chức năng là cơ sở cho
sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Cần tập trung vào :
Thứ nhất, tiếp tục kiện toàn hệ thống ngân sách nhà nước theo hướng
khai thác hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi. Ưu
tiên đầu tư vào các công trình làm nòng cốt.
Thứ hai, sắp xếp hợp lý các doanh nghiệp nhà nước theo hướng phát
triển các ngành, các lĩnh vực, các khâu trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh
tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
Thứ ba, triển khai luật ngân sách nhà nước. Tiếp tục xoá bỏ bao cấp
đối với các doanh nghiệp đặc biệt, doanh nghiệp công ích.
Thứ tư, con người với tư cách là nhân tố trung tâm của mọi sự biến
đổi và phát triển, cần phát triển các hình thức bồi dưỡng đào tạo để sớm có
được đội ngũ các cán bộ quản trị doanh nghiệp, nhất là các giám đốc điều
hành các cơ sở kinh tế nhà nước.
2. Phát huy mạnh mẽ hình thức kinh tế hộ nông dân, thợ thủ công
phát triển trong sự gắn bó với các hợp tác xã kiểu mới bằng cách tạo và
phát triển thị trường, trước hết là thị trường nông thôn rộng lớn. Phải tổ
chức kinh tế hợp tác theo hình thức từ thấp đến cao. Sự liên minh tự
nguyện ( có hướng dẫn hỗ trợ) giữa các xã viên là con đường để tìm kiếm
lựa chọn những hình thức mới của kinh tế hợp tác.
3. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân trong nước phát triển sản xuất
kinh doanh theo đúng pháp luật nhà nước. Nhà nước tiến hành kiểm soát
và giúp đỡ cho khu vực này phát triển đúng hướng .
4. Hình thành và phát triển các công ty cổ phần. Đây là xu thế khách
quan của nền kinh tế thị trường. Nó là kết quả của sự phát triển kinh tế tư
nhân, cá thể, các hình thức liên doanh, liên kết.
5. Trong quá trình thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài vào nền kinh tế nước
ta, cũng hình thành những hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu của các
13
công ty tư bản, các nhà tư bản tư nhân và các tổ chức liên doanh giữa trong
và ngoài nước, nhằm mở rộng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.
Như vậy, có thể hình dung yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi
cần có nhiều hình thức sở hữu đa dạng khác nhau. Sự tồn tại và đan xen
của những hình thức sở hữu khác nhau sẽ hình thành nhiều hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhưng do trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội còn thấp nên cần hết sức xem trọng phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp của các cá nhân hay
hộ gia đình trong sự gắn bó, giúp đỡ, hướng dẫn của kinh tế nhà nướcvoái
tư cách là khu vực kinh tế giữu vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần.
D. Kết luận
Vận dụng quy luật của mối quan hệ về sự phù hợp giữa lực lượng sản
xuất và các hình thức sở hữu vào điều kiện nước ta, Đảng ta đã vạch ra
đường lối đổi mới sáng tạo, làm cho nền kinh tế xã hội nước ta phát triển
mạnh mẽ, có hiệu quả. Ở Việt nam, lý luận đó đã trở thành cơ sở cho tư
duy sáng tạo trong việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, phát huy các
lực lượng sản xuất mang lại những thành tựu đáng khích lệ trong những
năm đổi mới vừa qua. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được
trong đổi mới, chúng ta cũng bộc lộ một số yếu kém trong nhận thức và
vận dụng quy luật này. Để vận dụng có hiệu quả hơn quy luật này nhằm
thúc đẩy nền kinh tế- xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hoá , hiện
đại hoá, đòi hỏi các nhân tố chủ quan phải nắm vững bản chất cách mạng
và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lê nin, nắm vững quy luật về quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất, nhậy cảm
chính trị, có bản lĩnh vững vàng, biết tổng kết thực tiễn , đồng thời mở
rộng giao lưu kinh tế văn hoá với bên ngoài, phát hiện và giải quyết kịp
thời những mâu thuẫn nảy sinh giữa các yếu tố trong các hình thức sở hữu,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét