Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Vật tư và xây dựng công trình

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
+ Bản chất của sản phẩm xây dựng cùng với cơ cấu của Công ty dẫn đến tình
trạng mỗi hợp đồng xây dựng chiếm gần hết thời lượng trong năm kế toán của doanh
nghiệp, có công trình lên đến 2, 3 năm tài chính mới có thể đưa vào hoạt động
+ Giá tiêu thụ của sản phẩm xây dựng cơ bản dựa theo giá dự toán trên cơ sở
đã điều chỉnh thêm phần thực tế phát sinh ngoài dự toán được duyệt hoặc giá thoả
thuận với chủ đầu tư từ trước. Do vậy tính hàng hoá của sản phẩm xây lắp thể hiện
không rõ ràng
+ Phần lớn công việc thi công theo hợp đồng xây dựng cần phải lắp ráp nhiều
loại vật liệu, nhiều bộ phận chi tiết thuộc những nguồn lực khan hiếm quan trọng, do
đó cần có kế hoạch tổ chức thi công cụ thể để tránh tối đa sự gián đoạn trong thi công
công trình. Sự gián đoạn của công trình ảnh hưởng rất lớn đến khả năng quay vòng
vốn của Công ty.
* Loại hình sản xuất
Sản phẩm Công ty tạo ra là các công trình, hạng mục công trình lớn, phức
tạp,để có được công trình Công ty phải đấu thầu nếu trúng thấu thì Công ty sẽ được
thi công xây dựng. Mỗi công trình được tiến hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể,
phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng và theo thiết kế kỹ thuật của công trình đó.
Khi thực hiện công ty phải bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo
chất lượng công trình.
* Thời gian sản xuất
Như trên đã nói sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, kết
cấu phức tạp. Để tạo ra được một sản phẩm phải trải qua rất nhiều khâu và giai đoạn:
ban đầu là khảo sát mặt bằng thi công, tiếp đó là giải phóng mặt bằng mà công việc
này trên thực tế là mất rất nhiều thời gian, tiếp theo là khâu chuẩn bị nguyên vật liệu,
máy móc, nhân công…Mặt khác công việc chủ yếu được thực hiện ở ngoài trời nên
chịu ảnh hưởng của khí hậu, thiên tai, lũ lụt gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Do
vậy mà thời gian sản xuất sản phẩm là lâu dài.
• Sản phẩm dở dang:
Sản phẩm của công ty là các công trình, hạng mục công trình do vậy sản phẩm
dở dang của Công ty là công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành.Ví dụ đối
với công trình “Công trình Km 532 + 200 đến Km 532 – thuộc gói thầu số 4 – Dự án
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
nâng cấp Quốc lộ 32 – Đoạn qua trung tâm TP Hải phòng” khởi công từ T1/2009 và
hoàn thành vào T12/2009 thì giai đoạn T6/2009 công trình vẫn chưa hoàn thành thì
công trình ấy gọi là dở dang. Công thức tính giá trị sản phẩm dở dang phần này sẽ
được đề cập trong phần đánh giá sản phẩm dở dang ở chương 2.
1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của Công ty Vật tư và xây dựng công
trình
• Quy trình công nghệ
Sơ đồ 1.1. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Đấu thầu và lập dự
toán công trình
Nhận hợp đồng xây
dựng công trình
Tiến hành hoạt động
xây lắp
Giao nhận hạng mục
công trình hoàn
thành
Duyệt quyết toán
công trình hoàn
thành
Thanh lý hợp đồng
giao nhận công trình
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
- Đấu thầu và lập dự toán công trình : Là giai đoạn công ty tiến hành tham gia đấu
thầu các công trình. Sau khi đã trúng thầu công ty sẽ tiến hành lập dự toán công trình từ đó
công ty sẽ đưa ra được bản kế hoạch các công việc cần làm theo từng giai đoạn.
- Nhận hợp đồng xây dựng công trình: Công ty chính thức nhận công trình. Trong
giai đoạn này công ty sẽ bắt tay ngay vào việc lập ra một bản kế hoạch chi tiết, cụ thể các
công việc cần làm.
- Tiến hành hoạt động xây lắp: Công ty chuẩn bị các điều kiện vật chất như huy
động nhân sự, máy móc, mua các vật tư cần thiết cho công trình và bắt đầu tiến hành các
hoạt động xây dựng.
- Giao nhận hạng mục công trình hoàn thành: Sau khi công trình được hoàn thành,
công ty sẽ tiến hành bàn giao.
- Duyệt quyết toán công trình hoàn thành: Giai đoạn này công ty sẽ tiến hành công
tác quyết toán công trình. Công ty sẽ hạch toán toàn bộ công trình, từ đó có báo cáo cụ thể
về chất lượng, doanh thu và một số yếu tố khác.
- Thanh lý hợp đồng giao nhận công trình : Công ty và bên A tiến hành kết thúc
hợp đồng.
• Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty
Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty chia thành 4 đội và 3 công trường:
+ Đội xây dựng công trình số 1
+ Đội xây dựng công trình số 2
+ Đội xây dựng công trình số 3
+ Đội xây dựng công trình số 4
+ Công trường R2 – Hải Phòng và QL 32
+ Công trường PAN2 – Long An
+ Công trường Vĩnh Kiên – Yên Thế
+ Xí nghiệp tin học
Các đội này có chức năng là tổ chức thi công công trình, trực tiếp thực hiện các
công trình. Các đội xây dựng có đội trưởng, đội phó và kế toán thống kê cùng các nhân
viên khác kết hợp cùng các nhân viên thi công xây dựng các hạng mục công trình để đảm
bảo tiến độ thi công đã đề ra khi chủ công trình cùng chủ thầu đã thoả thuận.
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
1.3. Quản lý chi phí sản xuất của Công ty
Chi phí là một bộ phận quan trọng trong doanh nghiệp vì vậy việc quản lý chi phí
là khâu rất cần thiết giúp doanh nghiệp tiết kiệm đối đa chi phí, hạ giá thành sản phẩm,
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Quản lý chi phí có cả một hệ thống từ trên
xuống gồm:
- Giám đốc: Là người có thẩm quyền cao nhất,chịu trách nhiệm toàn diện và điều
hành toàn bộ hoạt động của công ty; là người trực tiếp chỉ đạo kế hoạch quý, tháng, năm,
công tác tài chính kế toán, công tác cán bộ, công tác thanh tra, thi đua khen thưởng. Trong
quản lý chi phí giám đốc có một số quyền hạn và trách nhiêm sau:
+Phê duyệt kế hoạch SXKD, kế hoạch giá thành hàng năm cho phù hợp.
+ Quyết định các phương án đầu tư, duyệt thiết kế, dự toán và quyết toán các công
trình đầu tư.
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của Công ty.
+ Phê duyệt các quy chế lao động tiền lương, sử dụng lao động. Quyết định lương
và phụ cấp lương đối với người lao động trong Công ty.
+ Tổ chức xây dựng định mức, đơn giá nội bộ và phê duyệt
+Lập kế hoạch nhu cầu vật tư, nhiên liệu sản xuất để có phương án mua sắm thích
hợp, đảm bảo SXKD liên tục nhưng không để tồn kho quá lớn.
+ Hàng tháng,quý có quyết toán gía thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xác định
nguyên nhân tăng giảm chi phí để có phương án điều chỉnh, tổ chức SXKD hợp lý tiết
kiệm nhằm tăng lợi nhuận trong SXKD.
- Các phó giám đốc: gồm phó giám đốc chung, phó giám đốc phụ trách kỹ thuật,
phó giám đốc phụ trách nội chính phân theo chức năng và chuyên môn của mình sẽ trợ
giúp giám đốc trong các việc: điều hành kế hoạch tác nghiệp thay giám đốc khi giám đốc
ủy quyền, nghiệm thu thanh toán các công trình để thu hồi vốn, khoán thanh toán công
trình cho các đội; phụ trách công tác kỹ thuật thi công; quản lý vật tư và tài sản cố định.
- Các phòng chức năng:
+ Phòng tài chính – kế toán: Thực hiện chức năng giám đốc về mặt tài chính, thu
thập số liệu phản ánh vào sổ sách và cung cấp thông tin kinh tế kịp thời phục vụ cho việc
ra quyết định của giám đốc. Thường xuyên báo cáo kịp thời tình hình tài chính, đưa ra các
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
biện pháp hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, lập kế hoạch quản lý tài chính, chi tiêu hợp lý,
hợp pháp làm nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước, quản lý ké toán các đội, xưởng sản xuất,
quyết toán các công trình.
+ Phòng kĩ thuật: Phòng khoa học kỹ thuật: Khi công trình trúng thầu xây dựng 1
công trình hoặc hạng mục công trình nào đó, các thông tin về yêu cầu kỹ thuật thi công,
tiến độ thi công… căn cứ vào những yêu cầu đó phòng kỹ thuật dựa vào kỹ thuật yêu cầu
tính ra số lượng vật tư, hàng hóa, số công… cần thiết để xây dựng công trình. Đồng thời
dựa vào số lượng đó khi áp mức giá định mức hoặc giá 1 nhân công được quy định theo
quy định của công ty… tính ra chi phí cần thiết để xây dựng công trình và đưa ra giá thành
dự toán cho từng công trình. Đồng thời định kỳ khi công trình hoàn thành, nghiệp thu các
giai đoạn của công trình, phòng kỹ thuật cũng có vai trò tham gia vào tổ kiểm kê để xác
định giá trị của công trình dở dang, hoặc xác định xem công trình đã đạt yêu cầu kỹ thuật
hay chưa.
+ Phòng vật tư:
Lập dự trù vật tư cho công tác sữa chữa hàng tháng, quý, năm.
Lập kế hoạch sử dụng vật tư, nhiên liệu cho các công trình của toàn Công ty theo
kế hoạch năm.
Tập hợp chi phí vật tư, nhiên liệu cho từng công trình.
Cùng với các phòng liên quan lập định mức sử dụng nhiên liệu.
Kiểm kê vật tư nhiên liệu định kỳ theo quy định.
Phối hợp với các phòng ban liên quan lập định mức sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ.
Điều chuyển thiết bị phù hợp theo yêu cầu sản xuất.
Triển khai các bước lập báo cáo giá, duyệt giá. Phối hợp với phòng Kinh tế - Kế
hoạch để lập các hợp đồng mua bán vật tư, nhiên liệu phục vụ cho công trường.
-Các đội thi công :
Tiếp nhận chỉ thị từ trên giao xuống, khi nhận thi công bảo đảm chế độ an toàn
quy trình ,quy phạm , chịu sự kiểm tra giám sát của các ban ngành có trách nhiệm triển
khai và hoàn thành khối lượng nhiệm vụ công việc ( do ban chỉ huy công trường quản lý
nội bộ công ty ).
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
Các đội thi công trong Công ty được tổ chức theo hình thức khoán gọn. Khi Công
ty trúng thầu một công trình, hạng mục công trình nào đó Công ty sẽ thực hiện giao khoán
cho một tổ đội để tiến hành thi công công trình này. Trước tiên giữa công ty và tổ đội sẽ
tiến hành lập một biên bản là hợp đồng giao khoán. Nội dung bản hợp đồng này nói về
trách nhiệm giữa 2 bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, những quy định chung mà 2
bên cần nắm và tuân thủ; khối lượng giao khoán là bao nhiêu; kinh phí giao khoán như thế
nào, kinh phí giao khoán gồm toàn bộ chi phí: nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí
sử dụng máy, chi phí sản xuất chung; đơn giá giao khoán: đơn giá tiền công thuê lao động
bên ngoài, đơn giá nguyên vật liệu…; định mức giao khoán: sử dụng bao nhiêu tấn nguyên
vật liệu, cần bao nhiêu nhân công, các thiết bị máy móc cần sử dụng…; hình thức thanh
toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản…; thời hạn thi công và tiến độ thi công;…Đội xây
dựng căn cứ vào hợp đồng giao khoán và căn cứ vào các bảng dự toán chi phí do Công ty
gửi xuống sẽ tiến hành chuẩn bị các điều kiện vật chất để thi công : đội sẽ xác định nhu
cầu vật tư, nhân công, máy móc,….vận chuyển đến địa điểm thi công,xây dựng lán trại
nhà tạm để ở trong quá trình thi công…Trong quá trình thi công phát sinh các nghiệp vụ
nào đó thì sẽ có một người làm công tác kế toán lưu giữ các chứng từ, sắp sếp chúng theo
một trật trự nhất định; cuối mỗi quý kế toán đội có trách nhiệm gửi toàn bộ hóa đơn chứng
từ đó về cho kế toán công ty. Kế toán công ty sẽ lên sổ sách báo cáo kết quả từng quý đạt
được. Trong quá trình thi công giám đốc và các phó giám đốc cũng thường xuyên đôn đốc
chấn chỉnh công tác xây dựng của đội, có gì thay đổi tổ đội phải báo cáo lên, khi đó các
phòng ban sẽ phối hợp cùng giải quyết. Trong đội thì đội trưởng có trách nhiệm lớn nhất,
đôn đốc thúc giục các nhân viên, chịu trách nhiệm về mọi mặt của nhân viên; giám sát thi
công, tiến độ thi công, giám sát kỹ thuật…
Khi công trình hoàn thành giữa công ty và tổ đội sẽ lập biên bản nghiệm thu, hai
bên cùng cử người đển nghiệm thu công trình.
Sử dụng hình thức khoán gọn giúp Công ty kinh doanh có hiệu quả hơn: các đội sẽ
chủ động và linh hoạt hơn, do vậy tiết kiệm được thời gian và chi phí hơn, tiến độ thi công
diễn ra nhanh hơn, công trình nhanh chóng đưa vào sử dụng hơn, giá thành công trình
cũng thấp hơn mà chất lượng công trình lại được đảm bảo hơn. Mặt khác tiền lương của
công nhân trong đội cũng cao hơn, đó là nhân tố thúc đẩy người lao động gắn bó và có
trách nhiệm với công ty hơn.
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY VẬT TƯ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1. Kế toán chi phí sản xuất tại công ty vật tư và xây dựng công trình
 Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
- Đối tượng là: từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao. Mỗi
đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn
thành bàn giao đều được mở chi tiết để tập hợp chi phí sản xuất. Việc tổng hợp trên
các sổ chi tiết được tổng hợp theo tháng và được chi tiết theo từng khoản mục.
Nếu các chi phí liên quan trực tiếp như CP NVL chính, … đến các đối tượng
nào, phải chỉ đích danh đối tượng chịu chi phí. Các chi phí gián tiếp (như CP SXC,
…) thì được phân bổ cho các đối tượng theo tiêu thức phù hợp. Ví dụ như phân bổ
một số CP SXC theo tiêu thức là chi phí thi công định mức hoặc giờ công thực tế,…
- Phương pháp kế toán: Ở công ty vật tư và xây dựng công trình, các chi phí
phát sinh thường liên quan trực tiếp đến một công trình, hạng mục công trình nhất
định. Vì vậy kế toán sử dụng phương pháp tập hợp trực tiếp để tập hợp chi phí sản
xuất liên quan tới từng công trình, hạng mục công trình. Với các chi phí gián tiếp liên
quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình thì kế toán sử dụng phương pháp
phân bổ gián tiếp.
 TK sử dụng:
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
TK 627: Ch phí sản xuất chung
TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
 Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty vật tư và xây dựng
công trình
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
Công ty áp dụng phương thức quản lý khoán gọn công trình, hạng mục công
trình cho các đội xây dựng, các đội xây dựng nhận khoán phải tự lo nguồn vốn thi
công từ đầu cho đến khi bàn giao kết thúc công trình. Tuy nhiên trong quá trình thi
công các đội có thể nhận tạm ứng từ Công ty
Do đặc thù của ngành xây lắp có quy mô rộng, nghiệp vụ kinh tế phát sinh
nhiều nên công ty hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Để làm rõ thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty vật tư và xây dựng công trình em xin trình bày quy trình kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành của công trình : Công trình Km 532 + 200 đến
Km 532 – thuộc gói thầu số 4 – Dự án nâng cấp Quốc lộ 32 – Đoạn qua trung tâm
TP Hải phòng. Công trình được bắt đầu thi công xây dựng vào tháng 1/2009 và được
hoàn thành vào tháng 12/2009.
2.1.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.1.1.1 Nội dung
* Vai trò chi phí nguyên vật liệu
Trong quá trình xây lắp, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong các yếu tố đầu vào.
Do đó chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là khoản mục quan trọng và chiếm tỷ trọng
lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Do đó cần đặc
biệt tôn trọng nguyên tắc nguyên tắc hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo
quy định chung và theo quy định mà công ty đề ra. Hạch toán đúng, đủ chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định lượng tiêu
hao vật chất trong sản xuất thi công, đảm bảo tính chính xác của giá thành công trình
xây dựng.
* Phân loại chi phí nguyên vật liệu
Là một doanh nghiệp xây lắp với sản phẩm chủ yếu là những công trình cầu
đường, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại công ty bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu chính: là loại vật liệu không thể thiếu trong quá
trình thi công xây lắp, NVL chính thường chiếm tỷ trọng lớn trong thông số NVL
của DN sau quá trình thi công, hình thái của NVL chính thay đổi hoàn toàn để hình
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
thành công trình. NVL chính mà Công ty sử dụng như là: gạch, ngói, xi măng, cát,
sỏi, đá, thép tròn, dây thép…
+ Chi phí nguyên vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển: là các loại vật liệu có tác
dụng phụ trong quá trình thi công xây lắp, được sử dụng kết hợp với NVL chính để
hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được dùng để đảm
bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc để phục vụ cho nhu cầu kỹ
thuật, nhu cầu quản lý như dầu mỡ bôi trơn, dầu nhờn…
+ Chi phí nhiên liệu: là những thứ dùng để tạo nhiệt năng, được sử dụng phục
vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị hoạt
động trong quá trình xây lắp như: Xăng, dầu, gas, củi, than, hơi đốt…
* Phương pháp hạch toán hàng tồn kho và nguyên vật liệu xuất kho: Cơ sở đẻ
tính giá thực tế xuất kho chính là chi phí nguyên vật liệu mà doanh nghiệp phải bỏ
ra, từ đó có căn cứ để ghi giá trị vào chứng từ xuất kho
Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn
kho. Còn nguyên vật liệu xuất kho được tính theo giá bình quân sau mỗi lần nhập
theo công thức sau:
Giá thực tế xuất
kho của vật tư
=
Số lượng vật tư
xuất kho
×
Đơn giá vật tư bình
quân sau mỗi lần nhập
Trong đó, đơn giá vật tư bình quân sau mỗi lần nhập được xác định như sau:

Đơn giá bình quân
vật tư sau mỗi lần nhập
=
Giá trị vật tư tồn kho
trước khi nhập
+ Giá trị vật tư nhập
Số lượng vật tư tồn
kho trước khi nhập
+
Số lượng vật tư
nhập kho
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Thị Minh Hồng
Giá thực tế vật tư nhập kho được ghi nhận theo giá mua trên hóa đơn (không
bao gồm thế GTGT do Công ty áp dụng phương pháp khấu trừ thuế) cộng với chi
phí thu mua như chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ, các khoản thuế được hoàn lại và
trừ đi các khoản giảm trừ như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua…
2.1.1.2- Tài khoản sử dụng
-TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nội dung TK: Tài khoản này để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu dùng
cho sản xuất, thi công xây lắp, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết
chuyển sang TK 154.
TK 621 cuối kì không có số dư.
TK này mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ
cho việc tính giá thành.Ví dụ các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công trình Km
532 + 200 đến Km 532 – thuộc gói thầu số 4 – Dự án nâng cấp Quốc lộ 32 – Đoạn
qua trung tâm TP Hải Phòng sẽ được tập hợp vào tài khoản chi tiết là TK 621 –
Công trình Km 532 + 200 đến Km 532 – thuộc gói thầu số 4 – Dự án nâng cấp Quốc
lộ 32 – Đoạn qua trung tâm TP HảiPhòng . Tương tự đối với các công trình khác khi
kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cũng sẽ tập hợp vào các tài khoản
621 chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình khác nhau.
2.1.1.3- Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết
• Sơ đồ quy trình ghi sổ
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ quy trình ghi sổ
SV: Trần Thị Thanh Nga Lớp: Kế toán K21
Chứng từ
gốc: Phiếu
xuất, phiếu
chi…
Bảng tổng
hợp kế
toán
chứng từ
cùng loại
Sổ kế toán
chi tiết
TK 621

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét