Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014
"Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian gần đây - Thưc trạng và giải pháp
trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác
60 - 70 nghìn tấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 á 50 nghìn tấn rong
biển có giá trị kinh tế nh rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó, còn rất nhiều
loài đặc sản quí nh bào ng, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng
cá, ngọc trai, v.v
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nớc
ta có thành phần loài đa dạng, kích thớc cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi
cao. Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dơng học, làm
cho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn
nhỏ. Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thớc dới 5 x 20m chiếm tới 82% số đàn cá, các
đàn vừa (10 x 20m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50m trở lên) chỉ chiếm 0,7%
và các đàn rất lớn (20 x 500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá. Số đàn cá mang
đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đại dơng chỉ
chiếm 32%.
Phân bố trữ lợng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng
biển có độ sâu dới 50m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 - 100m (23,4%).
Theo số liệu thống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm
cả cá nổi và cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn. Nếu kể
cả các hải sản khác, sản lợng cho phép khai thác ổn định ở mức 700.000
tấn/năm, thấp hơn so với sản lợng đã khai thác ở khu vực này hằng năm trong
một số năm qua. Trong khi đó, nguồn lợi vùng xa bờ còn lớn, cha khai thác hết.
Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi cá cũng khác nhau. Vùng biển
Đông Nam Bộ cho khả năng khai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7% khả
năng khai thác cả nớc, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%), biển miền Trung
(14,3%), Tây Nam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dơng (7,1%),
2. Vài nét về ngành thuỷ sản Việt Nam.
Việc khai thác các nguồn lợi thuỷ sản để phục vụ những nhu cầu đa
dạng của con ngời nh làm thực phẩm, đồ trang sức, thuốc chữa bệnh, đã có từ
lâu đời cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Tuy vậy, trải
qua hàng nghìn năm, nghề cá Việt Nam, trớc hết là nghề đánh bắt cá vẫn mang
5
nặng nét đặc trng của một nền sản xuất tự cấp, tự túc và chỉ đóng vai trò một
nghề phụ cho dân c. Mãi cho đến nửa đầu của thế kỷ này, nghề cá vẫn hết sức
thô sơ, lạc hậu và cha đợc xem nh một ngành kinh tế.
Đến ngày 5 tháng 10 năm 1961, Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ban hành Nghị định 150 CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ
chức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản. Đây là thời điểm ra đời của ngành Thuỷ
sản Việt Nam nh một chính thể ngành kinh tế - kỹ thuật của đất nớc, phát triển
một cách toàn diện về khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến, nghiên
cứu khoa học và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển. Cũng trong thời kỳ đó,
nghề cá phía Nam đợc quản lý bởi Nha Ng nghiệp thuộc chính quyền Sài Gòn.
Từ khi thành lập cơ quan quản lý Nhà nớc đầu tiên của ngành và cũng
chính là thời điểm ra đời của một ngành kinh tế - kỹ thuật mới của đất nớc, đến
năm 2001, ngành Thuỷ sản đã đi qua chặng đờng 40 năm xây dựng và trởng
thành. Đó là một chặng đờng dài với nhiều thăng trầm, biến động. Song đứng
về góc độ tổng quan, có thể cha chia thành 2 thời kỳ chính.
Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1980 vể trớc, ngành Thuỷ sản Việt Nam về cơ
bản vẫn là một ngành kinh tế tự cấp, tự túc, thiên về khai thác những tiềm năng
sẵn có của thiên nhiên theo kiểu "hái, lợm" : Cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập
trung kéo dài, tiêu thụ theo cách giao nộp sản phẩm đã khiến chúng ta quen
đánh giá thành tích theo tấn, theo tạ, bất kể giá trị, triệt tiêu tính hàng hoá của
sản phẩm. Điều đó dẫn tới sự suy kiệt của các động lực thúc đẩy sản xuất, đa
ngành tới bờ vực suy thoái vào cuối những năm 70.
Năm
Tổng sản l-
ợng thủy
sản (tấn)
Sản lợng
khai thác
hải sản
(tấn)
Sản lợng
nuôi thủy
sản (tấn)
Giá trị
xuất khẩu
(1.000
USD)
Tổng số
tàu
thuyền
(chiếc)
Diện tích mặt
nớc nuôi
trồng thuỷ sản
(ha)
Số lao
động
(1.000
ngời)
1991 1.019.000 709.000 310.000 205.000 72.723 491.723 1.860
1992 1.062.1630 714.253 347.910 262.234 72.043 489.833 2.100
1993 1.097.830 746.570 351.260 305.630 83.972 577.538 2.350
6
1994 1.116.169 793.324 368.604 368.435 93.147 600.000 2.570
1995 1.211.496 878.474 333.022 458.200 93.672 576.000 2.810
1996 1.344.140 928.860 415.280 550.100 95.700 581.000 3.030
1997 1.373.500 962.500 411.000 670.000 97.700 585.000 3.120
1998 1.570.000 1.062.000 481.000 776.000 71.500 600.000
1999 1.668.530 1.130.660 537.870 858.600 71.799 626.330
2000 1.827.310 1.212.800 614.510 971.120 73.397 630.000
Nguồn : Báo cáo tổng kết hằng năm của Bộ Thủy sản
Thời kỳ thứ hai, từ năm 1980 đến nay, đợc mở đầu bằng chủ trơng đẩy
mạnh xuất khẩu và thử nghiệm cơ chế "Tự cân đối, tự trang trải" mà thực chất
là chú trọng nâng cao giá trị của sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu t để tái
sản xuất mở rộng đã tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển. Ngành Thuỷ sản
có thể coi là một ngành tiên phong trong quá trình đổi mới, chuyển hớng sang
nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta. Trong quá trình
đó, từ những nghề sản xuất nhỏ bé, ngành đã có vị thế xứng đáng và đến năm
1994 đã đợc Đảng và Nhà nớc chính thức xác định là một trong những ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nớc. Tổng sản lợng thuỷ sản đã vợt qua ngỡng 1 triệu
tấn vào năm 1991. Đặc biệt, nớc ta đã đứng vào hàng ngũ những nớc có sản l-
ợng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1998. Kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản đã vợt qua mức 500 triệu đôla năm 1996 và đang tiến tới rất gần mốc
1 tỷ đôla. So với năm 1980, đến năm 2000 tổng sản lợng tăng gấp 3 lần, còn giá
trị kim ngạch xuất khẩu tăng tới 87 lần.
II./ Vị trí, vai trò của ngành thuỷ sản nói chung
và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng trong nền kinh tế
Việt Nam.
1. Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề tăng tr ởng kinh tế.
Từ lâu thuỷ sản đã đợc coi là một ngành hàng thiết yếu và đựơc a chuộng
hàng tiêu dùng ở rất nhiều nớc trên thế giới. Nớc ta có vị trí địa lý và điều kiện
7
tự nhiên u đãi giúp thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng thuỷ sản. Với 3260
km bờ biển và vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu cây số vuông. Mặc
dù cha có đủ điều kiện cần thiết để điều tra và đánh giá đầy đủ các nguồn lợi,
đặc biệt là ngoài khơi, nhng theo số liệu thống kê hàng năm cho thấy Việt Nam
khai thác đợc khoảng 1,2-1,4 triệu tấn thuỷ sản. Trong đó ngoài cá còn có
khoảng 50-60 nghìn tấn tôm biển, 30-40 nghìn tấn mực và nhiều đặc sản có giá
trị kinh tế cao.
Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng cuả ngành
thuỷ sản trong sự phát triển kinh tế xã hội và nhất là 15 năm qua với mật độ
phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lợng và gía trị xuất khẩu , ngành kinh tế
thuỷ sản ngày càng đợc xác định rõ là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong
những hớng u tiên của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc hiện
nay.
Các kết quả trong quá khứ đã cho thấy nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ
sản có vai trò quan trọng nh thế nào trong việc hỗ trợ công ăn việc làm ở vùng
nông thôn. Nó cũng đã chứng minh tiềm năng của ngành thuỷ sản đóng góp
cho thu nhập ngoại tệ và thơng mại quốc tế. Theo báo cáo của Bộ Thủy sản,
trong khoảng 10 năm qua, lao động thuỷ sản cũng đã tăng lên gần 10 lần: từ
380.000 ngời vào năm 1980 lên 3.350.000 ngời vào năm 1999. Năm 2000, với
tổng sản lợng 1.827.310 tấn thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu đạt 971,1 triệu
đôla.
1
Những năm qua là giai đoạn tăng trởng liên tục của ngành thuỷ sản trên
mọi mặt. Ngoài các hoạt động đầu t, đổi mới quản lý nhằm tạo ra sản phẩm bắt
kịp với yêu cầu của các thị trờng nhập khẩu , Bộ Thủy sản đã cùng các doanh
nghiệp đổi mới các hoạt động xúc tiến thơng mại, tiếp thị. Ngành thuỷ sản chủ
động tổ chức đoàn doanh nghiệp đi tìm kiếm khách hàng, tham gia các hội chợ
quốc tế lớn về thuỷ sản để giới thiệu sản phẩm, tiếp xúc giao lu tìm đối tác mới.
Bằng cách đó, ngành thuỷ sản Việt Nam vẫn duy trì đợc tốc độ tăng trởng ngay
1
Theo tài liệu trên trang eb của Bộ Thuỷ sản.
8
cả trong những thời kỳ khó khăn nhất, nh thời kỳ khủng hoảng kinh tế khu vực
1999 cũng đạt mức tăng 10%.
GDP và các thành phần trong năm 2001.
Các lĩnh vực kinh tế Tỷ lệ trong
GDP
Mức đóng góp tính bằng
nghìn tỷ VND.
Nông nghiệp( kể cả thuỷ sản) 24,3 102,9
Công nghiệp, xây dựng 36.6 157,3
Dịch vụ 39,1 183,9
GDP 100,0 444,1
Nguồn : Bộ Thơng mại, Tổng cục thống kê.
Ngành thuỷ sản thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp 7%
GDP, dự tính đến năm 2010 sẽ thu hút khoảng 4,4 triệu lao động trong cả nớc.
Ngoài ra, ngành thuỷ sản cũng góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng trên
vùng biển của Tổ quốc.
Nếu trong GDP, ngành thuỷ sản đóng góp tơng đối yếu thì ngành đã có
sự bù đắp lại bởi sự đóng góp mạnh mẽ vào nền xuất khẩu. Năm 2001, kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản là 1,479 tỷ USD, chiếm 10,24% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam năm 2001, chỉ sau xuất khẩu dầu thô 3,501 tỷ USD và dệt
may 1,892 tỷ USD
1
. Các xí nghiệp thuộc ngành thuỷ sản nằm trong số các xí
nghiệp đầu tiền đợc hởng lợi ích đầy đủ khi chính phủ cho phép tự do hoá các
xí nghiệp Nhà nớc. Điều này đã dẫn đến việc hình thành một trong những
ngành xuất khẩu năng động nhất Việt Nam.
Xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu là tôm. Trong năm 1999, kim ngạch xuất
khẩu đã tăng dần trong những năm gần đây, đặc biệt ngày 1/10/2001, ngành
thuỷ sản vợt ngỡng xuất khẩu 1 tỷ đôla . Ngành cũng vợt kế hoạch 1.940.000
tấn tổng sản lợng thuỷ sản trớc thời gian 2 tháng. Điều này càng khẳng định vị
trí của ngành nh một mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân.
2. Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1
Báo cáo chính phủ.
9
Nhìn lại chặng đờng phát triển của ngành thuỷ sản trong thời gian qua,
ngoài sự tăng trởng đánh dấu bằng những con số nêu trên, có thể thấy đợc
những biến đổi về chất thực sự góp phần vào sự lớn mạnh tiếp tục của ngành.
Nghề thuỷ sản từ tự cung tự cấp đã trở thành một nghề nuôi hàng hoá,
từ chỗ nuôi trồng chỉ phục vụ cho nhu cầu cá tơi nội địa, đến nay ngoài tôm,
các thuỷ đặc sản xuất khẩu cũng đã đợc xác định là đối tợng chủ yếu để phát
triển nuôi trồng. Phát triển nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần làm chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho
nông, ng dân. Góp phần xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùng biển,
biên giới, vùng sâu, vùng xa. Cả nớc hiện có hơn 600.000 hécta nuôi trồng thuỷ
sản ngọt, mặn, lợ. Đáng kể là sản lợng tôm phục vụ ở nớc ta đã đứng vào hàng
thứ 5 trên thế giới. Khảo sát mới đây của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản
II cho thấy, vùng nuôi tôm tập trung của cả nớc là đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài ra, việc nuôi cá biển có giá trị xuất khẩu cao nh: song, hồng, cam, giỏ, v-
ợc cũng đ ợc nhiều địa phơng cho ng dân vay vốn đầu t. Theo yêu cầu của thị
trờng EU (Liên minh châu Âu), ta cũng tiến hành việc nuôi nhuyễn thể hai
mảnh vỏ ven bờ để xuất khẩu.
Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp
đông lạnh, cho đến nay, toàn ngành đã có trên 250 nhà máy chế biến công
nghiệp. Công suất chế biến theo thiết kế vào khoảng 1.000 tấn thành phẩm mỗi
ngày, tăng gấp 2,5 lần về số lợng nhà máy và gấp ba lần về công suất so với
năm 2000. Đặc biệt, đến nay đã có 49 nhà máy đợc EU cấp mã số xuất khẩu
vào tất cả các nớc trong thị trờng này và 75 nhà máy đợc công nhận áp dụng
HACCP (Hệ thống phân tích tại điểm kiểm soát tới hạn ) để xuất khẩu vào thị
trờng Mỹ. Đây là một sự tiến bộ rất lớn nếu so với bốn năm trớc đây hoàn toàn
không có nhà máy nào đáp ứng đợc những yêu cầu này.
Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ đã đợc xây dựng và áp
dụng trong 15 năm qua. Trớc hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo
nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hàng năm hơn 1 tỷ con
giống các cỡ. Trong đánh bắt dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu
10
nghề khai thác, du nhập nghề mới từ nớc ngoài để có thể vơn ra khai thác xa
bờ.
Hoạt động hợp tác quốc tế xét cả ba mặt: thị trờng xuất khẩu, nguồn vốn
nớc ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế
lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu t cho khai thác
và nuôi trồng, qua thời kỳ Nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa, đến nay sản
phẩm thuỷ sản của nớc ta đã có mặt ở nhiều nớc trên thế giới với một số sản
phẩm bắt đầu có uy tín trên những thị trờng khó tính.
3. Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề xã hội.
- Tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và mức sống của các cộng
đồng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
- Tăng sự đóng góp của ngành thuỷ sản vào sự phát triển kinh tế và xã
hội trong nớc, bao gồm ổn định xã hội và an ninh quốc gia.
- Cải thiện tiêu chuẩn dinh dỡng của nhân dân bằng cách cung cấp cá
và hải sản cho tiêu thụ nội địa.
- Tăng xuất khẩu và thu ngoại tệ.
- Đẩy mạnh hiện đại hoá và công nghiệp hoá ngành thuỷ sản.
Dân số Việt Nam có khoảng 78 triệu ngời trong đó có khoảng 62,4 triệu ngời,
chiếm 80% sống ở vùng nông thôn và 15,6 triệu ngời chiếm 20% sống ở đô thị.
Tỷ lệ nữ là 55,6% và nam là 44,4%.
Lao động nghề cá.
Đơn vị 1000 ngời
Năm 1987 1991 1996 1997 1998 1999 2001
Số LĐ 1.270 1.860 3.030 3.120 3.210 3.320 3450
Nguồn: thông tin KH & CN Thủy sản số 3/99
Lao động nghề cá với hơn 3 triệu ngời, chiếm 10% tổng số lao động xã hội
trong đó nhiều nhất là nuôi trồng thủy sản có 2.219.400 ngời, đánh bắt 435.000
ngời, chế biến 250.000 ngời.
11
Bảng 4: Lao động nghề cá 1999 so với 1987
Đơn vị: 1000 ngời
1987 1999 Tăng thêm (%) 98/86
Thu hút lao động 1270 3320 2050 261,41
Nguồn: Bộ Thủy sản
Số lao động sống phụ thuộc vào ngành Thủy sản ngày càng tăng. Năm
1999 tăng thêm 2050 ngời tức bằng 261,41% so với năm 1987. Dân số nớc ta
ngày càng nhiều thì đây là một ngành quan trọng thu hút lao động giảm bớt
thất nghiệp cho một đất nớc còn nghèo và lạc hậu nh nớc ta.
Sự đóng góp của ngành thuỷ sản với mục tiêu dinh dỡng quốc dân cũng
đợc tăng cờng. Cung cấp cá và các sản phẩm thuỷ sản cả nớc tăng từ mức 11,5
kg năm 1999 lên 13,5 kg một đầu ngời năm 2001. Mức tămg trởng này có tính
đến nhu cầu dinh dỡng của số dân tăng.
Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hoá nghề cá và nuôi trồng
thuỷ sản sẽ tăng cờng năng lực của ngành này. Bằng cách đó sẽ tăng sự đóng
góp của ngành đối với xã hội. Hiện đại hoá và phát triển sẽ giúp thiết lập các
ngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại các vùng
ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thuỷ sản đối với việc phát triển kinh
tế xã hội.
III./ Chủ tr ơng, chính sách của Đảng, Nhà n ớc đối
với ngành thuỷ sản và xuất khẩu thuỷ sản.
Thực hiện tiến trình đổi mới, bằng nỗ lực to lớn, Việt Nam đã phấn đấu
vơn lên trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trởng kinh tế cao. Với sự tăng tr-
ởng đó Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về nền tảng kinh tế xã hội,
trở thành thành viên tích cực ở khu vực Đông Nam á và trong cộng đồng quốc
tế.
Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho chơng trình phát triển kinh tế đối ngoại của
Đảng ta là mở rộng thị trờng ,đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lợng hàng xuất
12
khẩu có khối lợng và giá trị lớn . Củng cố thị trờng quen thuộc ,khôi phục quan
hệ với thị trờng truyền thống,tìm thị trờng và bạn hàng mới ,lâu dài;giảm xuất
nhập khẩu qua thị trờng trung gian .Thực hiện chính sách khuyến khích xuất
khẩu.
1
Trong sự phát triển chung đó, ngành thuỷ sản đã có đóng góp quan
trọng vào những năm 80, sản xuất kinh doanh thuỷ sản còn ở mức rất khiêm
tốn, đến nay đã vơn lên đứng thứ 19 về sản lợng, thứ 30 về giá trị kim ngạch
xuất khẩu, thứ 5 về sản lợng tôm nuôi trên thế giới. Vị thế của thuỷ sản Việt
Nam trên trờng quốc tế không ngừng đợc củng cố và mở rộng. Để đẩy mạnh
phát triển thuỷ sản, bên cạnh việc phát huy cao độ nguồn lực bên ngoài. Với
những chính sách thích hợp Đảng và Nhà nớc ta đã tạo thêm nguồn lực cho
thuỷ sản phát triển. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng khẳng định vai trò của
thuỷ sản trong chơng trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Phát
triển nghề nuôi trồng thuỷ hải sản, tổ chức tốt các dịch vụ hậu cần phục vụ nuôi
trồng. Quản lý tốt việc khai thác, bảo vệ các nguồn lợi thủy hải sản, khuyến
khích hỗ trợ ng dân tự sắm phơng tiện và tổ chức khai thác thuỷ hải sản nhất là
các nghề đị xa bờ. Tiếp tục điều tra, nghiên cứu tài nguyên sinh vật biển để có
kế hoạch khai thác, bảo vệ, chống ô nhiễm môi trờng biển, sông ngòi, ao hồ.
Đến năm 2001 có diện tích nuôi trồng thủy sản trên 60 vạn ha, khai thác
khoảng 1,6-1,7 triệu tấn (nuôi trồng khoảng 50-55 vạn tấn), xuất khẩu thuỷ hải
sản khoảng 1-1,1 tỷ USD
2
Ngoài ra, thuỷ sản cũng là một trong những ngành đợc đầu t vốn để
phát triển mạnh
3
cùng với chè , cà phê ,cao su ,thịt,sữa
Từ Đại hội Đảng VIII năm 1997 đến năm 1999, Thủ tớng Chính phủ đã
ra Quyết định số 251/1999/QĐ-TTg ngày 2/12/1999 phê duyệt chơng trình phát
triển xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2005. Chơng trình này đợc thực hiện với mục
tiêu:
1
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.26
2
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.50.
3
13
Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ngành thuỷ sản, đa kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản tăng nhanh, đạt 1,1 tỷ đôla vào năm 2001 và 2 tỷ đôla vào năm
2005; đa kinh tế thuỷ sản phát triển thành ngành mũi nhọn trong nền kinh tế
đất nớc, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, cải
thiện bộ mặt nông thôn và ven biển, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề
về môi trờng sinh thái.
Gắn chế biến, xuất khẩu thuỷ sản với nuôi trồng,khai thác, bảo quản
nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, tạo cơ sở vững chắc cho sản xuất và khai thác
có hiệu quả tiềm năng thuỷ sản, nâng cao chất lợng, giảm giá thành, tăng hiệu
quả và tăng tích luỹ là để tái sản xuất mở rộng, nâng cao khả năng cạnh tranh,
giữ vững và phát triển thị trờng tiêu thụ hàng thuỷ sản Việt Nam.
Để đạt đợc mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra trớc mắt đối với ngành thủy
sản là:
Phát triển nuôi trồng, khai thác, đảm bảo đủ nguyên liệu phục vụ cho
chế biến thuỷ sảnxuất khẩu. Đa nuôi trồng thuỷ sản trở thành nguồn chính cung
cấp nguyên liệu cho xuất khẩu. Phát triển nuôi tôm, tổ chức rộng rãi vịêc nuôi
cá biển có giá trị xuất khẩu cao, mở rộng và khuyến khích việc nuôi các loài
thuỷ sản nớc ngọt phục vụ xuất khẩu.
Tiếp tục cải tiến nghề nghiệp và công nghệ khai thác hải sản, từng bớc
xây dựng đội tàu đánh cá xa bờ để khai thác hợp lý nguồn lợi ven biển đi đôi
với khai thác có hiệu quả nguồn lợi hải sản xa bờ, nhằm tăng nhanh tỷ trọng
sản lợng hải sản có giá trị xuất khẩu trong tổng sản lợng hải sản khai thác đạt
20 đến 25% vào năm 2001 và trên 22 đến 24% vào năm 2005.
Tăng cờng trang thiết bị và phơng tiện bảo quản trên các tàu cá, từng b-
ớc đầu t đóng mới đội tàu chuyên môn hoá để bảo quản, vận chuyển sản phẩm
hải sản, cung cấp các dịch vụ ngoài khơi; xây dựng mới nâng cấp hệ thống
cảng cá, chợ cá để thay đổi công nghệ bảo quản sau thu hoạch, nhằm nâng cao
chất lợng nguyên liệu chế biến xuất khẩu.
Khuyến khích việc nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản để chế biến tái xuất
khẩu, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động, tăng kim ngạch xuất
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét