- Bỏ việc nhiều lần không có lý do.
- Thờng xuyên không hoàn thành nhiệm vụ đợc giao.
- Không thi hành quyết định điều động công tác.
- Khai man lý lịch, giả mạo giấy tờ có tính chất nghiêm trọng.
Ngoài ra, ngời lao động còn có thể bị thôi việc khi họ phạm tội hình sự, bị
truy tố hình sự mà khi toà án kết án phạt tù.
* Pháp luật cũng quy định những trờng hợp không đợc cho ngời lao
động thôi việc đó là:
- Khi ngời lao động đang nghỉ phép.
- Ngời lao động nữ đang mang thai đã hết tháng thứ 7 hoặc đang nghỉ theo
chế độ nuôi con sơ sinh.
- Ngời lao động ốm đau đang điều trị, điều dỡng.
c) Vấn đề trợ cấp thôi việc
Nhằm giải quyết một phần khó khăn ban đầu khi thôi việc, tạo điều kiện
thuận lợi nhanh chóng ổn định đời sống, pháp luật lao động cũng quy định các
trờng hợp đợc hởng trợ cấp nh sau
- Thôi việc do nguyện vọng của ngời lao động với lý do chính đáng, hoặc
phù hợp với yêu cầu của xí nghiệp trong việc kiện toàn tổ chức tinh giảm biên
chế.
- Thôi việc để hởng ứng các cuộc vân động lớn của Nhà nớc nh đi khai
hoang, xây dựng vùng kinh tế mới với mức trợ cấp thôi việc đợc tính theo số
năm ngời lao động đã làm việc liên tục đến ngày xin thôi việc.
2. Nhận xét đánh giá chế độ tuyển dụng lao động thời kỳ kế hoạch hoá
Chế độ tuyển dụng và thôi việc đối với ngời lao động trong thời kỳ kế
hoạch hoá là một hình thức pháp lý chủ yếu đợc áp dụng khá phổ biến ở nớc ta.
Vào thời kỳ kế hoạch hoá, việc qui định chế độ tuyển dụng lao động vào biên
chế Nhà nớc gần nh là cách thức duy nhất để huy động lao động nhằm đảm bảo
nhu cầu lao động không chỉ cho cơ quan, xí nghiệp, công - nông - lâm trờng của
Nhà nớc mà còn giải quyết nhân sự cho các tổ chức chính trị - xã hội khác.
5
Nội dung của chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nớc nh đã nói ở trên
phải căn cứ vào chỉ tiêu tuyển dụng và nhu cầu lao động trong sản xuất kinh
doanh, công tác, sau đó là quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền về
quy hoạch cán bộ, công nhân viên.
Nh vậy, quá trình này đợc thực hiện trên cơ sở một kế hoạch về nhân sự đã
đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền xác định trớc cho đơn vị tuyển dụng lao
động và sau đó là hoạt động tiếp nhận, nghiên cứu hồ sơ của ngời có nhu cầu
tuyển dụng lao động.
Qua việc tìm hiểu nội dung của chế độ tuyển dụng và thôi việc ở trên, ta có
thể thấy hình thức tuyển dụng lao động trong thời kỳ kế hoạch hoá có các đặc
trng riêng có của nó, đó là:
- Chế độ tuyển dụng lao động vào biên chế Nhà nớc là cách thức tuyển
dụng theo kế hoạch trực tiếp, mang nặng yếu tố mệnh lệnh hành chính.
- Ngời lao động đợc sắp xếp vào những vị trí công việc có tính chất ổn
định, đợc sử dụng lâu dài và đợc Nhà nớc đảm bảo về quyền lợi, các chế độ đợc
hởng sau khi về nghỉ hu.
Sau khi đợc tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan xí nghiệp ngời lao
động đợc bố trí công việc theo những chức danh nhất định căn cứ vào tiêu
chuẩn trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, tính chất của từng công việc cụ thể. Và
điều đáng nói ở đây nữa là chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nớc mang nặng
tính chất hành chính do Luật hành chính điều chỉnh, nhng nội dung việc thực
hiện các chế độ lao động, quyền và nghĩa vụ của ngời lao động cũng nh các chế
độ hởng thụ lai do Luật lao động quy định. Dù vậy, chúng ta không thể phủ
nhận u điểm của chế độ tuyển dụng này là mang tính chất ổn định, lâu dài và
bền vững, quyền lợi và các chế độ khác của ngời lao động đợc Nhà nớc bảo
đảm, bao cấp tuyệt đối từ tiền lơng, thởng, BHXH tạo cho ngời lao động thế
ổn định về công việc và yên tâm làm việc, trau dồi kiến thức, trình độ, nghiệp
vụ. Tuy nhiên, cũng không thể không đánh giá đến hạn chế của chế độ này là
tạo ra tâm lý ỷ lại, trì trệ, kém năng động sáng tạo, không phát huy kết khả năng
tiềm lực trí tuệ cũng nh trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của ngời lao
động đặc biệt là tệ quan liệu trong công tác.
6
Nhng từ sau khi Đại hội Đảng VI, Đảng và Nhà nớc đã thực sự đổi mới t
duy nhận thức, phát triển nền kinh tế theo một cơ chế mới với nhiều thành phần
kinh tế tham gia. Do đó, hình thức tuyển dụng vào biên chế vốn dĩ trớc đó đã
hạn chế thì nay càng không đủ khả năng bao quát hết đợc các nhu cầu lao động
xã hội. Vì vậy, sự cần thiết phải đa dạng hoá các hinh thức tuyển dụng lao động
nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội là một tất yếu khách quan. Để đáp ứng đợc
nhu cầu đa dạng, phong phú và phức tạp về lao động của các thành phần kinh tế
khác nhau, Nhà nớc đã ban hành một số văn bản quy định đầy đủ, chi tiết về
Hợp đồng lao động. Đặc biệt là từ khi Nhà nớc ban hành Pháp lệnh Hợp đồng
lao động (30-8-90) thì chế độ Hợp đồng lao động mới thực sự đợc thừa nhận và
tồn tại nh một hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu trong phạm vi cả nớc và
nó tồn tại cho đến khi Bộ luật Lao động ra đời (23-06-94).
3. Vai trò của Nhà nớc trong việc tuyển dụng lao động khi bớc sang
nền kinh tế thị trờng
Trớc đây, vào thời kỳ kế hoách hoá việc tuyển dụng và cho thôi việc đều
phải thông qua chỉ tiêu kế hoạch cụ thể và thờng chỉ áp dụng cho các xí nghiệp
quốc doanh, các cơ quan, đoàn thể của Nhà nớc và các tổ chức chính trị - xã hội
khác. Nói cách khác, trớc đây Nhà nớc chỉ xác lập vai trò của Nhà nớc trong
việc tuyển chọn và cho ngời lao động thôi việc thuộc khu vực Nhà nớc quản lý,
với cơ chế tuyển chọn và sử dụng theo chế độ biên chế suốt đời. Ngày nay, chế
độ tuyển dụng này không còn thích ứng với cơ chế thị trờng, không phát huy đ-
ợc quyền chủ động, linh hoạt của các đơn vị sử dụng lao động, không phát huy
đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngời lao động.
Khi bớc sang nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc đã dần xoá bỏ chỉ tiêu tuyển
dụng mà trớc đây thờng áp dụng cho các xí nghiệp quốc doanh và hạn chế chỉ
tiêu này đối với các cơ quan, tổ chức Nhà nớc khác. Cơ chế thị trờng với nhiều
thành phần, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, đòi hỏi các chủ sở hữu phải có
quyền quyết định phơng hớng hoạt động sản xuất - kinh doanh và hạch toán
kinh tế, vì thế cần có vai trò tự chủ trong tuyển dụng và cho thôi việc. Nhà nớc
đã giao toàn quyền cho các đơn vị sử dụng lao động tuyển dụng và cho thôi
việc, song nh vậy không có nghĩa là Nhà nớc thả nổi lĩnh vực này, mà Nhà nớc
vẫn điều hành, quản lý vĩ mô nh hớng dẫn các đơn vị, các thành phần kinh tế,
các chủ sở hữu trong việc tuyển chọn và cho ngời lao động thôi việc theo chế độ
7
quy định. Nh vậy, Nhà nớc đã chuyển từ vai trò quản lý trực tiếp đến từng ngời
lao động sang quản lý gián tiếp, thông qua các chính sách vĩ mô, ngăn chặn
việc tuyển dụng và sử dụng lao động một cách tuỳ tiện, đảm bảo quyền lợi và
nghĩa vụ cho ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
II. Chế độ pháp lý về Hợp đồng lao động theo pháp luật
lao động hiện hành
1. Khái lợc về sự phát triển của Hợp đồng lao động ở Việt Nam
Xét về mặt lịch sử phát triển thì hợp đồng lao động (HĐLĐ) đã tồn tại
hàng trăm năm cùng với quan hệ lao động. ở nớc ta "trớc đây Nhà nớc đã dùng
HĐLĐ nh một hình thức tuyển dụng lao động vào các cơ quan hành chính sự
nghiệp và các xí nghiệp quốc doanh. Nhng lúc đó HĐLĐ chỉ áp dụng để tuyển
lao động "phụ động" mà thôi, còn hầu hết lao động đều đợc tuyển dụng theo
hình thức "biên chế Nhà nớc" - một hình thức tuyển dụng phổ biến và quan
trọng của cơ chế quản lý kinh tế tập trung.
Sau năm 1975, trớc tình hình mới về sự phát triển kinh tế, việc tuyển dụng
lao động lại đặt ra những yêu cầu mới, chính vì vậy đến năm 1977 Nhà nớc cho
phép áp dụng chế độ HĐLĐ để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các
đơn vị kinh tế. Và nh vậy, từ chỗ quy định HĐLĐ là hình thức chỉ để tuyển lao
động tạm thời (1961) thì 1977 Nhà nớc đã xác định HĐLĐ là một hình thức
tuyển dụng lao động cơ bản"1.
1. Lu Bình Nhỡng - "Sự phát triển của HĐLĐ ở Việt Nam" <T.c Luật học -
3/95>
Sau khi có Nghị quyết Đại hội VI của Đảng 91986), Nhà nớc xác định rõ
chính sách phát triển nền kinh tế - xã hội với phơng châm mở rộng quyền tự chủ
cho các đơn vị kinh tế cơ sở. Theo đó, Nhà nớc ban hành Quyết định số
217/HĐBT (14-11-1987) để tạo quyền chủ động về kế hoạch, tài chính, cung
ứng và lao động cho các xí nghiệp quốc doanh. Thi hành Quyết định này, Bộ
Lao động - thơng binh và xã hội ra Thông t 01/LĐTB-XH (9-01-88) hớng dẫn
thi hành Quyết định 217/HĐBT. Sau 2 năm áp dụng thí điểm đều đạt kết quả
tốt, đến 1990 Nhà nớc ban hành Pháp lệnh HĐLĐ để áp dụng trong toàn quốc.
Theo các văn bản trên, việc tuyển dụng lao động vào làm việc trong các cơ
quan, xí nghiệp Nhà nớc và các đơn vị sử dụng lao động khác đều đợc tiến hành
8
thông qua việc giao kết HĐLĐ. Nh vậy, "nếu năm 1977 HĐLĐ đợc sử dụng với
mục đích đáp ứng yêu cầu về lao động "trong tình hình mới" thì từ năm 1987
đến 1990 HĐLĐ đã đợc coi là hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu trong các
đơn vị sản xuất - kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế. Trong thời
gian này biên chế Nhà nớc và HĐLĐ là hai hình thức tuyển dụng lao động tồn
tại song song và có vị trí ngang nhau về mặt pháp lý. Trong đó, hình thức biên
chế Nhà nớc vẫn là hình thức tuyển dụng áp dụng trong các cơ quan hành chính
sự nghiệp và đối với một số đối tợng trong các doanh nghiệp quốc doanh (Giám
đốc, Phó giám đốc và kế toán trởng, thành viên HĐQT, còn HĐLĐ là hình thức
tuyển dụng đợc sử dụng rộng rãi trong các đơn vị sử dụng lao động thuộc tất cả
các thành phần kinh tế. Một mặt HĐLĐ đợc sử dụng để tuyển lao động mới,
mặt khác nó đợc áp dụng để thay thế cho hình thức biên chế Nhà nớc đối với
công nhân, viên chức trớc kia trong các xí nghiệp quốc doanh"
2
.
Trên cơ sở những văn bản pháp luật đó, đến 1994 để thực hiện nhiệm vụ
pháp điển hoá pháp luật lao động, Nhà nớc đã cho ra đời Bộ luật Lao động (23-
6-94), trong đó dành chơng IV quy định về HĐLĐ. Về bản chất, HĐLĐ đợc
quy định trong BLLĐ không có gì khác so với HĐLĐ trong Pháp lệnh HĐLĐ.
Song về mặt hiệu lực pháp lý nó có giá trị cao hơn so với các quy định trớc kia.
Đây là cơ sở pháp lý rất hữu hiệu để xác lập một thị trờng lao động ở Việt Nam.
Đó là điều kiện để phát huy nền kinh tế thị trờng và cũng chính là sự đòi hỏi
của nền kinh tế thị trờng.
2. Vai trò điều tiết của Pháp luật Hợp đồng lao động trong điều kiện
nền kinh tế thị trờng.
Bộ luật lao động ra đời đã thể hiện đờng lối đổi mới toàn diện của Đảng và
Nhà nớc ta về cụ thể hoá Hiến pháp - 1992 và thực hiện nhiệm vụ pháp điển hoá
pháp luật lao động. Trong đó dành hẳn chơng IV - về chế định Hợp đồng lao
động, trong chơng này quy định rõ ràng và cụ thể quyền và nghĩa vụ của ngời
lao động cũng nh ngời sử dụng lao động trong quan hệ hợp đồng; điều chỉnh và
khuyến khích phát triển quan hệ lao động mới, ổn định và hài hoà; tăng cờng
quản lý lao động bằng pháp luật, góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, vì mục tiêu "dân giàu nớc mạnh,
xã hội công bằng, văn minh".
2
Lu Bình Nhỡng :"Sự phát triển của HĐLĐ ở Việt Nam" (Tạp chí luật học - 3/95)
9
Sự ra đời của Bộ luật Lao động nói chung và chế định HĐLĐ nói riêng, đã
góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ lao động giữa quan
hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động. Sự ra đời của HĐLĐ đã đáp
ứng đợc những yêu cầu khách quan của thị trờng lao động, phù hợp với kinh tế
thị trờng, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
trong quan hệ lao động, đặc biệt là bảo vệ quyền và lợi ích của ngời lao động.
Đồng thời nó cũng giúp Nhà nớc quản lý, tổ chức, phân công và điều tiết lao
động hợp lý hơn trên phạm vi toàn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, HĐLĐ là một hình thức pháp lý chủ yếu để
thiết lập quan hệ lao động giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, đồng
thời qua đó nó còn đảm bảo cho các bên quyền tự do, tự nguyện lựa chọn và cân
nhắc việc làm cũng nh những lợi ích đợc hởng khi tham gia quan hệ Hợp đồng
lao động.
Chế định HĐLĐ dã tiếp tục sự nghiệp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản
lý lao động ở nớc ta. Đây là cơ sở pháp lý không thể thiếu đợc đối với các
doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động, cũng nh đối
với ngời lao động làm thuê.
3. Khái niệm chung về Hợp đồng lao động
a) Khái niệm Hợp đồng lao động:
Nh đã tìm hiểu ở trên, một hình thức pháp lý không thể thiếu đợc khi thiết
lập quan hệ lao động, đó là Hợp đồng lao động. Vậy Hợp đồng lao động là gì?
Theo Điều 26- Bộ luật Lao động quy định:
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng
lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên trong quan hệ lao động.
Từ khái niệm trên ta thấy, thực chất của HĐLĐ là sự thoả thuận giữa một
bên là ngời lao động đi tìm việc làm và một bên là ngời sử dụng lao động cần
thuê mớn ngời làm công. Trong đó ngời lao động cam kết làm một công việc
cho ngời sử dụng lao động, không phân biệt thể nhân hay pháp nhân, công pháp
hay t pháp, bằng cách tự nguyện đặt hoạt động nghề nghiệp của mình dới quyền
quản lý của ngời đó để đổi lấy một số tiền công lao động gọi là tiền lơng.
10
Nh vậy có ba nhân tố cấu thành HĐLĐ. Đó là sự cung ứng một công việc;
sự trả công và sự liên hệ phụ thuộc pháp lý. Trong đó, nhân tố đặc trng nhất là
sự phụ thuộc pháp lý của ngời làm công với ngời sử dụng lao động để có đợc
một việc làm có thu nhập, kể cả lúc gặp những rủi ro kinh tế vẫn đợc trợ cấp.
Phải thấy rằng sự phụ thuộc pháp lý gắn với sự phụ thuộc kinh tế, nhng ngợc lại
sự phụ thuộc kinh tế không nhất thiết gắn với sự phụ thuộc pháp lý. Vì lẽ đó,
Khoản 2, Điều 137-BLLĐ ghi rõ, ngời lao động làm việc tại nhà theo hình thức
gia công không thuộc phạm vi áp dụng của Bộ luật Lao động.
Trong nền kinh tế thị trờng, thông qua HĐLĐ, quan hệ lao động mới chính
thức đợc thiết lập. Đó là chế định quan trọng bậc nhất của Pháp luật Lao động.
Nó có một số đặc tính sau đây:
- Có bồi thờng khi vi phạm
- Có tính chất song phơng: tiền lơng là phần trả công của một việc làm,
nếu không làm việc, kể cả khi đình công thì không đợc trả lơng.
- Có hai bên chủ thể: một bên là ngời lao động có nhu cầu việc làm có thu
nhập và một bên là ngời sử dụng lao động có nhu cầu ngời làm công. - Có sự
thoả thuận tự nguyện về việc cùng nhau thiết lập quan hệ lao động; bên này đã
sẵn sàng chấp chận những điều kiện đặt ra của bên kia, không bên nào áp đặt ý
chí cho bên nào.
- Phải đợc thực hiện liên tục và không có hiệu lực hồi tố của sự vô hiệu, đ-
ợc tạm hoãn trong những trờng hợp bất khả kháng theo pháp luật để đợc tiếp tục
thực hiện sau đó và có thể kí lại trong điều kiện mới.
- Giao kết và thực hiện trực tiếp, không đợc giao cho ngời khác làm thay
nếu ngời sử dụng lao động không chấp nhận, không đợc chuyển công việc cho
ngời thừa kế nếu không có chính sách u đãi của ngời sử dụng lao động.
Chính vì vậy mà HĐLĐ không có cùng tính chất và nội dung với Hợp
đồng kinh tế, Hợp đồng trách nhiệm, Hợp đồng uỷ quyền, Hợp đồng công vụ
Bởi lẽ, HĐLĐ là cơ sở pháp lý cho quan hệ lao động mà ở đó ngời lao động
phải thực hiện các nghĩa vụ lao động, còn ngời sử dụng lao động phải đảm bảo
các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động. Mặt khác, HĐLĐ là bằng
chứng về một quan hệ đặc biệt - quan hệ mua bán sức lao động, quan hệ mà
trong đó việc mua bán sức lao động không mang tính đoạn mại.
11
Ngoài ra, HĐLĐ có đặc điểm là sự bình đẳng của hai bên trong quan hệ
hợp đồng, đợc thể hiện bằng một thoả thuận. Sự thoả thuận đợc ghi nhận dới
một trong hai hình thức: bằng văn bản hoặc bằng miệng. Nội dung của sự thoả
thuận là quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
* Hợp đồng lao động có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế -
xã hội. Trớc hết nó là cơ sở để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân
tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác HĐLĐ là một
trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm
việc, tự do, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng nh nơi làm việc.
* ý nghĩa pháp lý của Hợp đồng lao động:
- HĐLĐ là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị
trờng.
Các quan hệ pháp luật lao động cụ thể đợc diễn ra trong một khoảng thời
gian nhất định đợc ấn định trớc thông qua sự thoả thuân giữa hai bên:
- HĐLĐ là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân.
- HĐLĐ là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nớc quản lý lao động.
- Các chủ thể HĐLĐ chịu sự tác động của các quy phạm pháp luật lao
động hiện hành và chịu sự tác động của các quy phạm có tính nội bộ trong mỗi
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
b) Đối tợng và phạm vi áp dụng:
HĐLĐ đợc giao kết giữa các tổ chức, các đơn vị kinh tế,, các cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng, thuê mớn lao động với những ngời lao
động làm công ăn lơng. Nh vậy, có thể thấy đối tợng áp dụng củ HĐLĐ là rất
rộng, bao gồm:
1- Các doanh nghiệp Nhà nớc, doanh nghiệp t nhân, công ty cổ phần, công
ty TNHH, Hợp tác xã thuê lao động không phải là xã viên, các cá nhân và hộ
gia đình có thuê lao động.
12
2- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức
chính trị - xã hội khác sử dụng lao động không phải là công chức, viên chức
Nhà nớc.
3- Các tổ chức kinh tế thuộc lực lợng quân đội nhân dân, công an nhân dân
sử dụng lao động không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan và chiến sỹ.
4- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài theo Luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp; cá nhân, tổ chức,
cơ quan nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam. 5. Các doanh
nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Sử dụng lao động nớc
ngoài trừ trờng hợp Điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác.
6. Các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động là ngời nghỉ hu, ngời giúp việc
gia đình, công chức, viên chức Nhà nớc làm những công việc mà quy chế công
chức không cấm.
Những đối tợng khác do tính chất, đặc điểm và mối quan hệ lao động có
những điểm khác biệt nên không thuộc đối tợng để áp dụng HĐLĐ mà áp dụng
theo những phơng thức tuyển và sử dụng lao động khác nh:
(1) Công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp.
(2) Những ngời đợc bổ nhiệm làm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trởng
và một số ngời khác đợc Nhà nớc trả lơng từ Ngân sách nh giáo viên, nhân viên
y tế làm việc trong các đơn vị kinh tế quốc doanh.
(3) Đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách;
ngời giữ các chức vụ trong cơ quan lập pháp, hành pháp, t pháp đợc Quốc hội,
hoặc Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ. (4) Sỹ quan, hạ
sỹ quan, chiến sỹ trong lực lợng quân đội nhân dân, công an nhân dân.
(5) Những ngời làm việc trong một số ngành nghề hoặc ở địa bàn đặc biệt
thuộc Bộ quốc phòng, Bộ nội vụ do Bộ quốc phòng, Bộ nội vụ hớng dẫn, sau khi
thoả thuận với Bộ Lao động - Thơng binh và xã hội.
13
(6) Những ngời thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội
khác, xã viên hợp tác xã, kể cả các cán bộ chuyên trách công tác Đảng, công
đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp.
c) Các nguyên tắc của Hợp đồng lao động
Pháp luật Lao động quy định ra các nguyên tắc cơ bản khi giao kết HĐLĐ
để buộc các bên trong quan hệ lao động phải tuân thủ các nguyên tắc này nhằm
đảm bảo cho việc thực hiện HĐLĐ đợc diễn ra một cách có hiệu quả tốt nhất.
Ta đã biết, chủ thể của HĐLĐ gồm: Một bên là ngời lao động đến làm
việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế Ngời lao động có thể là công dân
Việt Nam hoặc các nhân ngời nớc ngoài, trong một số trờng hợp nhất định đợc
Pháp luật cho phép thì có thể là một nhóm ngời. Còn bên kia là ngời sử dụng
lao động, có thể là các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong nớc hoặc nớc ngoài
có nhu cầu sử dụng lao động. Hai bên khi thiết lập quan hệ lao động phải tuân
thủ những nguyên tắc sau:
* HĐLĐ đợc giao kết trên cơ sở hai bên phải tự do, tự nguyện không bên
nào ép buộc bên nào và phải thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ pháp luật lao
động.
Nếu việc giao kết HĐLĐ không dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện mà bị ép
buộc, lừa dối thì không có giá trị pháp lý. Nguyên tắc bình đẳng tạo ra tính tơng
đồng trong quan hệ giữa các chủ thể. Các bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
trong quá trình giao kết, thực hiện cũng nh khi kết thúc HĐLĐ.
* Những điều khoản thoả thuận trong hợp đồng không đợc trái với Pháp
luật và thoả ớc lao động tập thể ở những nơi có ký kết thoả ớc lao động tập thể.
HĐLĐ đợc giao kết không trái pháp luật, tức là phải tuân thủ các quy định
của pháp luật hoặc các tiêu chuẩn, điều khoản mà thoả ớc lao động tập thể đã
đặt ra. Trong mọi trờng hợp những thoả thuận trái với những quy định của Pháp
luật của thoả ớc lao động đều bị coi là bất hợp pháp.
* Nhà nớc bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên đợc thể
hiện trong HĐLĐ. Đồng thời Nhà nớc khuyến khích việc giao kết HĐLĐ mà
trong đó ngời lao động đợc ngời sử dụng lao động thoả thuận, cam kết các
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét