Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Vấn đề thị trường dịch vụ tài chính

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hội giao dịch chứng khoán vào năm 1973. Sau đó, Hiệp hội này hợp nhất với sở
giao dịch chứng khoán trung ơng thành thị trờng chứng khoán. LSE là trung tâm
giao dịch lớn nhất đợc chia thành các khu độc lập: thị trờng cổ phiếu nội địa, thị
trờng cổ phiếu nớc ngoài(ISE) và thị trờng các quyền lựa chọn
Đến thập niên 60, kinh tế Anh suy thoái làm trung tâm tiền tệ quốc tế
London chuyển sang New York. Sang thập niên 70, thị trờng trái phiếu Châu
Âu phát triển mạnh tạo điều kiện thụân lợi cho thị trờng London khôi phục đợc
địa vị thị trờng tiền tệ quốc tế của mình.
Tháng 10 năm 1979, Anh huỷ bỏ chế độ kiểm soát ngoại tệ, tạo điều kiện
thuận lợi thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Vào thời điểm này, số công ty tham gia
thị trờng chứng khoán nhiều. Năm 1983 có2654 doanh nghiệp đợc phát hành
chứng khoán trên thị trờng LS E, cùng thời điểm đó ở New York là 1550 doang
nghiệp và ở Tokyo là 1452 doanh nghiệp.
Năm 1986, Anh làm cuộc cách mạng lớn về thị trờng chứng khoán gọi là
big bang với 5 nội dung:
1. Đến cuối năm 1986 sẽ xoá bỏ mọi quy định cũ, có tính bảo thủ, gây trở
ngại cho giao dịch chứng khoán và cho phép thực hiện tự do phí giao dịch.
2. Cho phép ngời không là nhà đầu t đợc tham gia ban quản trị giao dịch.
3. Mở rộng quyền thẩm tra t cách nhà đầu t và giảm yêu cầu vốn của nhà
đầu t.
4. Cho phép ngời tự donh và ngời môi giới đợc thch hiện t cách song trùng,
bãi bỏ chế độ t cách riêng và có thể thực hiện hai nghiệp vụ đan xen nhau.
5.Lắp đặt hệ thống báo giá tự động.
Trong năm đầu của thời kì big bang, doanh thu về chứng khoán tăng
gấp đôi trong ngày, có ngày lên tới 1,1 tỉ bảng, còn phí giao dịch giảm khoảng
ẳ. Sau cuộc khủng hoảng thị trờng chứng khoán quốc tế 1987, doanh thu về cổ
phiếu trên thị trờng nớc Anh giảm 1/2, và từ năm 1988, các công ty chứng
khoán gặp nhiều khó khăn.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hiện nay, nớc Anh có 20 sở giao dịch chứng khoán, nhng nổi tiếng nhất
vẫn là thị trờng chứng khoán london về cả lịch sử ra đời lẫn số lợng chứng
khoán lu hành. Hàng tuần, LS E làm việc 6 ngày, giờ giao dịch từ 8h30 đến 17h,
thứ bảy và chủ nhận nghỉ giao dịch.
2. Thuỵ Sĩ
*Dịch vụ ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ nổi tiếng trên toàn thế giới bởi việc cung cấp
các dịch vụ ngân hàng tinh vi và kín đáo. Thuỵ Sĩ có khoảng 4ô ngân hàng. Các
ngân hàng này đều phục vị từ nhu cầu riêng lẻ của mỗi ngời dân cho tới những
khách hàng đặc biệt. Hai ngân hàng lớn nhất Thụy Sĩ, Credit Suise và UBS, có
mạng lới các chi nhánh không chỉ tại Thuỵ Sĩ mà ở các nớc trên thế giới. Các
ngân hàng đợc cấp phép hoạt động bởi chính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ và Hiệp
hội ngânhàng có thể hoạt động ở khắp nơi tại Thuỵ sĩ.Một số ngân hàng có văn
phòng đại diện hay chi nhánh tại nớc ngoài. Trong số 400 ngân hàng đợc cấp
phếp tại Thuỵ Sĩ, có nhiều chi nhánh có trụ sở chính tại nớc ngoài.
Hệ thống cung cấp dịch vụ của hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ
Một số ngân hàng tại Thuỵ Sĩ chỉ chuyên về một số loại dịch vụ chủ yếu
nhng nhiều ngân hàng lại cung cấp hầy hết các loại dịch vụ. Tại hầu hết các nớc
châu Âu, ngời dân thờng mua và bán chứng khoán thông qua hệ thống ngân
hàng của họ. Hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý các
danh mục đầu t cho khách hàng và cung cấp một số dịch vụ khác nh lập kế
hoạch bất động sản, quản lý tài sản cho các khách hàng riêng lẻ.
Hệ thống ngân hàng t nhân(Private banks)
Hệ thống các ngân hàng t nhân là hệ thống mà các ngân hàng không kết
hợp thành một tổ chức và do đó toàn bộ tài sản cá nhân của họ có thể là các
khoản nợ của ngân hàng. Những ngân hàng này có truyền thống lâu đời tại
Thuỵ Sĩ. Ban đầu, các ngân hàng t nhân cũng hoạt động trong lĩnh vực quản lý
danh mục đầu t của các khách hàng riêng lẻ, Thuật ngữ ngân hàng t nhân th-
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ờng đợc sử dụng để mô tả toàn bộ các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách
hàng trong lĩnh vực quản lý dang mục và quản lý tài sản.
Luật bí mật dặc biệt của hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ
Các ngân hàng tại hầu hết các nớc bị cấm tiết lộ thông tin về các khách
hàng của họ và các điều khoản của luật pháp Thuỵ Sĩ cũng tơng tự nh vậy. Luật
pháp Thuỵ Sĩ rất nghiêm khắc trong việc thực hiện vấn đề này. Các ngân hàng,
nhân viên và chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt sẽ bị kết tội hình sự
nếu nh để tiết lộ bất kì thông tin mật nào ra bên ngoài. Các bí mật đặc biệt của
hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ đợc giữ gìn thận trọng bở nhận thức rõ rằng tính
chất quan trọng về bổn phận của các ngân hàng trong việc duy trì lòng tin đối
với khách hàng. Cả các ngân hàng và cá nhân sẽ bị khởi kiện nếu nh bị phát
hiện những sai sót của họ. Điều này càng khẳng định tính chất bí mật của các
ngân hàng và vấn đề sai sót là hiếm khi xảy ra.
Luật bí mật của ngân hàng Thuỵ Sĩ ra đời năm 1934 quy định các ngân
hàng Thuỵ Sĩ đều phải thực hiện chế độ mật mã để đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối
cho khách hàng. Việc ngân hàng làm thủ tục tiền gửi bí mật chỉ giới hạn trong
phạm vi vài nhân viên cao cấp, cấm các nhân viên khác không đợc can dự vào.
Ngời để lộ bí mật khoản tiền gửi sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc: bị giam
giữ sáu tháng và chịu phạt 2 vạn franc Thuỵ Sĩ hoặc nặng hơn.Luật này còn quy
định: Bờt cứ ngời nớc nào hoăc chính phủ nớc nào, thậm chí cả nguyên thủ
quốc gia, Thủ tớng Chính phủ và toà án của Thuỵ Sĩ đều không có quyền can
thiệp, điều tra và xử lý tiền gửi tại ngân hàng Thuỵ Sĩ của bất cứ ngời nào, Trừ
khi có đủ chứng cứ chứng minh ngời gửi tiền có hành vi phạm tội. Nhờ có luật
này, một khối lợng tiền gửi khổng lồ đã đổ về Thuỵ Sĩ. Đặc biệt, các nhà độc
tài, chính khách và những ngời chạy ra nớc ngoài của một số quốc gia coi ngân
hàng Thuỵ Sĩ là nơi cất giữ tiền an toàn nhất. Theo ớc tính của các nhà tài
chính, hiện nay số tiền gửi tại Thuỵ Sĩ của khách hàng trên khắp thế giới có thể
lên tới vài ngàh tỉ úD, đem lai cho nền kinh tế Thuỵ Sĩ những nguồn lợi lớn.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
III. Thực trạng hoạt động thị trờng dịch vụ tài chính
Việt Nam
1. Dịch vị ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính quan trọng và phát triển nhất trên
thị trờng dịch vụ tài chính ở Việt Nam cho đến nay, đảm nhiệm vai trò chủ đạo
trong hoạt động luân chuyển các nguồn tài chính, các dịch vụ tài chính khác
mới chỉ hình thành và phát triển trong những năm cuối của thế kỉ XX, bao gồm:
Dịch vụ tiết kiệm do các ngân hàng, các tổ chức tín dụng cung cấp thông
qua các công cụ tiền gửi tiết kệm cung ứng cho mọi tổ chức, cá nhân trong nền
kinh tế với các loại kì hạn khác nhau từ không kì hạn đến 12 tháng, tiết kiệm
bằng ngoại tên, tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm phục vụ mục đích
mua nhà, cho con đi học nớc ngoài
Dịch vụ tín dụng do các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty thuê
mua tài chính, các quỹ đầu t và hỗ trợ cung cấp bao gồm các nghiệp vụ cho
vay tín dụng, thuê mua tài chính, cho vay thế chấp, chiết khấu giấy tờ có giá
Dịch vụ thanh toán bao gồm các nghiệp vụ thanh toán bằng séc, chuyển
khoản và một số dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mới đợc đa vào thực
hiện giữa những năm 1990 nh bằng thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, tài khoản cá
nhân
Có thể đánh giá, các dịch vụ do các ngân hàng Việt Nam mới ở điểm xuất
phát tiếp cận với các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thơng mại. Hoạt
động kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận gần nh duy nhất cho các ngân
hàng thơng mại Việt Nam là từ dịch vụ tín dụng-cho vay khách hàng. Ngay cả
các loại hình dịch vụ ngân hàng truyền thống vẫn còn nhiều tồn tại. Hình thức
huy động vốn còn đơn điệu, cha có nhiều hình thức huy động và nhân tiền gửi
mới, phù hợp với nhu cầu của ngời dân và các doanh nghiệp. Doanh số các loại
hình tín dụng mới nh: cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ, cho vay bảo lãnh
còn thấp.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Quá trình đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng hiện đậi ở nớc ta còn chậm.
Các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng còn chậm do cha có hệ thống và công
nghệ thanh toán hiện đại, chủ yếu vẫn là thủ công, với chứng từ bằng văn bản
giấy tờ, tỉ trọng thanh toán bằng tiền mặt còn lớn. Các phơng tiện thanh toán
không dùng tiền mặt còn nhiều hạn chế, do tính thuận tiện, nhanh nhạy, an toàn
cha cao. Dịch vụ ngân hàng điện tử-một loại hình dịch vụ ngân hàng trong lĩnh
vực thanh toán rất phát triển trên thế giới, mang lại nhiều tiện ích cho khách
hàng nhng việc triển khai ở nớc ta còn rất hạn chế. Ngoài ra, việc cung cấp các
dịch vụ t vấn về thông tin, thị trờng, ngiệp vụ cho khách hàng cũng hầu nh cha
đợc triển khai.
2. Dịch vụ trên thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán(TTCK) tập trung đầu tiên ở VIệt Nam mới đợc
khai trơng(20/7/2000) và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000. Vì
vậy,so với các dịch vụ tài chính khác, dịch vụ chứng khoán là một loại hình
kinh doanh khá mới mẻ ở Việt Nam. Các dịch vụ chứng khoán thờng đợc thực
hiện bởi các công ty chứng khoán. Ngoài ra, còn có các ngân hàng thơng mại,
các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng có thể tham gia triển khai loại hình
dịch vụ này. Sau 3 năm chính thức đi vào hoạt động, trên thị trờng chứng khoán
Việt nam đã có 11 công ty chứng khoán đợc cấp giấy phép hoạt động, trong đó
có 9 công ty chứng khoán đủ điều kiên toàn bộ 5 nghiệp vụ kinh doanh: dịch vụ
môi giới chứng khoán, dịch vụ t vấn chứng khoán, dịch vụ bảo lãnh và đại lý
phát hành, dịch vụ quản lý danh mục đầu t, dịch vụ t doanh. Trong đó, dịch vụ
chứng khoán chủ yếu là dịch vụ môi giới chứng khoán. Tính đến tháng 6-2003,
đã có gần 14500 tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại các
công ty chứng khoán( trong đó có 91 nhà đầu t có tổ chức và 35 nhà đầu t nớc
ngoài). Một số công ty đã thu hút đợc khách hàng đến mở tài khoản và có tổng
giái trị môi giới mua bán chứng khoán cho khách hàng cao (nh: BVSC, SSI,
ACBS, BSC) và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu trong tổng thu
nhập của các công ty chứng khoán. Tuy nhên, trong bối cảnh thị trờng chứng
khoán Việt Nam còn sơ khai và hoạt động trầm lắng, các dịch vụ chứng khoán
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
còn kém đa dạng, chủ yếu là dịch vụ môi giới, cha thu hút đợc nhiều doanh
nghiệp và cá nhân. Các nghiệp vụ nh: Bảo lãnh, đại lý phát hành, quản lý danh
mục đầu t cha đợc phát triển mạnh mẽ. Hoạt động t vấn đầu t của các công ty
chứng khoán mới chỉ mang tính chất hớng dẫn ngời đầu t thực hiện đúng các
thủ tục mua bán chứng khoán, cha thực sự t vấn cho họ biết cách lựa chọn lĩnh
vực đầu t cũng nh thời điểm mua bán chứng khoán sao cho có hiệu quả
nhất Vì vậy có thể nói rằng, trong thời gian qua các công ty chứng khoán cha
thực hiện đợc chức năng của ngời tạo thị trờng.
3. Dịch vụ bảo hiểm
Ngành dịch vụ bảo hiểm Việt Nam hình thành vào thập niên 60 với sự ra
đời của tổng công ty bảo hiểm Việt Nm(năm 1964). Cho đến năm 1992, Tổng
công ty bảo hiểm Việt Nam là nha cung cấp dịch vụ độc quyền trên thị trờng,
dịch vụ bảo hiểm mới chỉ thực hiện một số loại hình bảo hiểm truyền thống với
khoảng gần 20 loại sản phẩm nh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm
tàu biển, bảo hiểm tai nạn hành khách và mới chỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ
tài sản mà chc thực hiện đợc chức năng tiết kiệm và đầu t Tuy nhiên thị trờng
bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu thực sự sôi động đóng góp đáng kể vào thị tr-
ờng vốn kể từ sau khi có nghị định 100-CP ngày 18-12-1993 về kinh doanh bảo
hiểm, tạo môi trờng pháp lý thúc đẩy thị trờng bảo hiểm phát triển, gpó phần tạo
lập môi trờng đầu t và nâng cao năng lực quản lý nhà nớc về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm. Từ năm 1995 trở lại đây, khi Việt Nam thch hiện đa dạng hoá
thị trờng bảo hiểm, cho phép thành lập thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm mới
thuộc nhiều thành phần kinh tế, ngành bảo hiểm đã phát triển mạnh trên nhiều
mặt nh quy mô thị trờng, số lợng doanh nghiệp bảo hiểm, số lao động, sự đa
dạng về sản phẩm và việc hoàn thiện dần cơ chế chính sách. Các doanh nghiệp
bảo hiểm Việt Nam cũng đã nhanh chóng phát triển và thích ứng với môi trờng
cạnh tranh mới.
Thị trờng bảo hiểm đạt tốc độ tăng trởng cao trong giai đoạn 2001-2004,
mức tăng trởng bình quân hàng năm là 43,7%.Doang thu phí bảo hiểm năm
2001 là 4.843 tỷ đồng, năm 2002 là 6.992 tỷ đồng, năm 2003 là 10.192 tỷ đồng,
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
năm 2004 đạt 13.044 tỷ đồng. Cơ cấu tỷ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm
trong GDP cũng đợc nâng lên rõ rệt, năm 2000 chiếm 0.78%, năm 2003 tăng
lên 1.7%GDP.
Do số lợng các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng nhiều nên đã thu hút và
tạo công ăn việc làm cho một đội ngũ khá lớn ngời lao động, nhất là khi bảo
hiểm nhân thọ đợc triển khai. Hiện nay số cán bộ làm bảo hiển trên toàn thị tr-
ờng đã lên đến con số trên 8000 ngời, với cả 40000 đại lý chuyên nghiệp(cả bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ), trong đó số đại lý bảo hiểm nhân thọ đã chiếm
tới 30000 ngời. Ngoài ra, ngành bảo hiểm còn tạo việc làm cho một số lợng khá
lớn cộng tác viên bảo hiểm cũng nh các ngành có liên quan.
Số lợng doanh nghiệp tăng nhanh với sản phẩm ngày càng đa dạng nhng
chất lợng hoạt động cha cao thể hiện ở công nghệ quản lý, kinh doanh bảo hiểm
còn hạn chế; thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi đặc biệt là trong lĩnh vực phí bảo
hiểm, thẩm định bảo hiểm, quản lý rủi ro và đầu t. Hiệu quả hoạt động thấp(tỷ
suất lợi nhuận bình quân trên vốn chu sở hữu đạt 13%), chi phí quản lý
cao(trung bình 24%/năm). Hiện tợng cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện
gây khó khăn cho công tác quản lý và làm tổn hại đến uy tín của chính các
doanh nghiệp. Tình trạng chia cắt, cát cứ trên thị trờng xuất phát từ hoạt động
của các công ty bảo hiểm chuyên ngành cũng làm ảnh hởng không nhỏ đến sự
phát triển lành mạnh của thị trờng và gây thiệt hại đến quyền lợi của ngời tham
gia bảo hiểm.
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế. Căn cứ
theo các chuẩn mực quốc tế, số vốn hiện có của các doanh nghiệp bảo hiểm
hoạt động trên thị trờng mới chỉ đủ để đảm bảo giữ lại 40% phí bảo hiểm đối
với các nghiệp vụ bảo hiểm có tái bảo hiểm. Do đó, chỉ tính riêng trong năm
2001, khoảng 33% tổng số phí bảo hiểm phi nhân thọ thu đợc đã đợc tái bảo
hiểm. Tỷ lệ này ở Mĩ là vào khoảng 96% trong cùng thời kì. Do năng lực tài
chính của các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảo hiểm cổ phần
trong nớc cồn nhỏ, hàng năm thị trờng bảo hiểm Việt Nam vẫn phải trả từ 150-
250 tỷ đồng tiền phí tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm ở nớc ngoài. Tính
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trung bình, cứ 4 đồng phí bảo hiểm gốc thu đợc tại Việt Nam từ những nghiệp
vụ có doanh thu lớn nh bảo hiểm dầu khí và bảo hiểm hàng không thì có đến
một đồng phải tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nớc ngoài, chủ yếu đợc
thanh toán bằng ngoại tệ. Nừu có biện pháp và cơ chế thích hợp để tăng cờng
năng lực tài chính và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các doanh nghiệp trên
thị trờng, chúng ta sẽ có thể giữ lại một phần đáng kể nguồn vốn quan trọng
bằng ngoại tệ để bổ sung cho sự công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tổ chức
quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp trong nớc cha đáp ứng đợc yêu cầu
phất triển thị trờng trong điều kiện hội nhập: cơ cấu tổ chức còn chồng chéo, bộ
máy cha đợc chuyên môn hoá, cha hiệu quả, công tác đào tạo và quản lý đại lý
cha đợcquan tâm đúng mức; công nghệ khai thác và quản lý chậm đổi mới,
trình độ đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập Nhìn chung, hoạt động kinh doanh
bảo hiểm mới chỉ tập trung vào các thành phố lớn, trung tâm dân c và những sản
phẩm truyền thống nh bảo hiểm tài sản, bảo hiểm hàng hải, hàng không trong
khi nhiều lĩnh vực khác mà nền kinh tế và xã hội có nhu cầu nhng vẫn bị bỏ
trống nh các vùng xa, vùng sâu, các nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, thiết kế, y tế, t vấn pháp
luật
4. Dịch vụ kế toán, kiểm toán và t vấn tài chính
Dịch vụ kế toán là loại hình dịch vụ mới ra đời và phát triển từ đầu thập kỷ
90, cho đến nay, thị trờng dịch vụ kế toán đã có tơng đối đầy đủ các loại sản
phẩm nh kiểm toán, t vấn kế toán, t vấn thuế Tuy nhiên, vấn đề chính đối với
thị trờng dịch vụ kế toán là chất lợng dịch vụ. Cho gần 10 năm phát triển vừa
qua, chất lợng các dịch vụ kế toán đang đợc từng bớc nâng lên nhờ sự phát triển
của nền kinh tế, các tiêu chuẩn về kiểm toán đợc xây dựng và ban hành, đội ngũ
kiểm toán viên có trình độ tốt hơn, đợc kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ và có bài
bản hơn Tuy nhiên, cho tới nay dịch vụ kế toán, kiểm toán mới đang trong giai
đoạn phát triển đầu tiên, còn tơng đối sơ khai( mặc dù đã ra đời và hoạt động đ-
ợc gần 10 năm, song cho đén năm 2000 chúng ta mới ban hành đợc 4 chuẩn
mực kiểm toán đầu tiên); chất lợng và giá cả dịch vụ kiểm toán của các công ty
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kiểm toán trong và ngoài nớc còn có khoảng cách lớn; nhu cầu, mục đích kiểm
toán trong nền kinh tế còn rất phức tạp( một số doanh nghiệp chỉ kiểm toán với
mục đích nâng giá trị góp vốn trong liên doanh )
Hầu hết các công ty đều có những loại dịch vụ phổ biến nh: Kiểm toán
BCTC, dịch vụ kế toán, t vấn quản lý, tài chính, thuế Trong những năm qua đã
xuất hiện thêm một số loại dịch vụ mới, nh: Soát xét báo cáo tài chính, kiểm
toán tỷ lệ nội địa hoá ô tô, xe máy, t vấn thuế, t vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, t
vấn ứng dụng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực, soát xét quy trình kinh
doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán hoạt động để đánh giá và đề
xuất xây dựng chiến lợc phát triển sản xuất kinh doanh cho từng lĩnh vực và
nghành nghề ở Việt Nam; t vấn về rủi ro kinh doanh và rủi ro đầu t, t vấn phục
hồi và giải toả doanh nghiệp, t vấn đầu t ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Giá trị
dịch vụ cung cấp của các công ty kiểm toán nớc ngoài rất lớn, có dịch vụ trị giá
từ 1 triệu đến 6 triệu USD.
Trong các dịch vụ trên thì dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC)
chiếm tỷ trọng lớn nhất vì các công ty có cổ phần đầu t nớc ngoài bắt buộc phải
kiểm toán theo luật định, đòng thời yêu cầu kiểm toán BCTC của doanh nghiệp
nhà nớc, chủ yếu là các tổng công ty cũng đang tăng dần Dịch vụ kiểm toán
báo cáo quyết toán vốn đầu t xây dựng cơ bản là quan trọng và cần thiết nhng
cha thực sự chiếm tỉ trọng cao do cha có quy định bắt buộc phải kiểm toán, do
giá chi phí thấp Về các dịch vụ thuế, t vấn tài chính, kế toán, t vấn quản
lý, doanh thu chiếm tỉ trọng còn thấp do khách hàng cha có thói quen sử dụng
các dịch vụ này và các công ty kiểm toán cũng cha quan tâm khai thác. Ngoài
ra, khả năng cung cấp các dịch vụ này của nhiều công ty kiểm toán cũng còn bị
hạn chế.Đối với các công ty kiểm toán khi kiểm toán báo cáo tài chính của công
ty niêm yết, thuyết minh BCTC còn sơ sài, các biến động lớn về tình hình tài
chính nh tăng giảm vốn Điều lệ, các khoản lợi nhuận bất thờng cha giải thích rõ
nguyên nhân; các nghiệp vụ mới nh Cổ phiếu ngân quỹ, cổ phiếu trả chậm, các
nghi vấn cha thận trọng lu ý ngời đọc báo cáo tài chính.
14
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tóm lại, tính đến nay, các loại hình dịch vụ tào chính đã phát triển khá đa
dạng và phong phú, chất lợng dịch vụ cũng từng bớc đợc nâng lên, do đó đã
ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng về sử dụng nhiều loại hình dịch vụ
tài chính trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các loại dịch vụ truyền thống nh tiết
kiệm, tín dụng và một số nghiệp vụ bảo hiểm con ngời, xe cơ giới vẫn là
những dịch vụ chính, chiếm tỉ trọng lớn nhất trên toàn bộ thị trờng, đa số các
dịch vụ còn lại mới hình thành và phát triển trong những năm gần đây, thậm chí
một số dịch vụ mới ra đời trên giấy tờ(dịch vụ đầu t thông qua quỹ đầu t chứng
khoán), một số dịch vụ đang trong quá trình thử nghiệm và một số dịch vụ khác
cha hình thành nh thơng phiếu , nên mức độ đáp ứng các nhu cầu đa dạng của
thị trờng còn thấp. Bên cạnh đó, các khách hàng truyền thống nh khu vực doanh
nghiệp quốc doanh, dân c đô thị vẫn là đối tợng chính, đợc tập trung khai thác
nhiều nhất, chính vì vậy, thị trờng dịch vụ tài chính Việt Nam hiện nay vẫn cha
khai thác hết mọi tiềm năng về các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế.
IV. Các giải pháp phát triển thị trờng dịch vụ tài chính ở
Việt Nam
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và hệ thống quản lý nhà nớc
Hệ thống khung pháp lý có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động và sự
phát triển của thị truờng dịch vụ tài chính, đây là cơ sở quan trọng nhất quy
định nguyên tắc và tổ chức hoạt động của thị trờng. Trong khi đó theo phân tích
thực trạng hệ thống khung pháp luật của chúng ta đối với thị trờng dịch vụ tài
chính thì hệ thống này cồn thiếu và yếu, chính vì vậy chúng ta cần nhanh chóng
giải quyết vấn đề này để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của thị tr-
ờng dịch vụ tài chính.
Thứ nhất, nâng cao hiệu lực pháp lý của hệ thống khung pháp luật về thị
trờng dịch vụ tài chính. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải nhanh chóng
nâng lên thành luật đối với các loại dịch vụ tài chính hiện nay đang đợc quy
định ở các mức pháp lệnh, nghị định nh dịch vụ đầu t chứng khoán, dịch vụ
kiểm toán
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét