nhuận, thường được chia thành nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức; Ba là
các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán như cơ quan quản lý và giám
sát các hoạt động thị trường chứng khoán như uỷ ban chứng khoán, hiệp hội các
nhà kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng
khoán, các tổ chức hỗ trợ , các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm …
1.1.2 Khái niệm về chứng khoán phái sinh
Trên các thị trường chứng khoán phát triển, ngoài hoạt động giao dịch các
chứng khoán thông thường như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư còn có
giao dịch các loại chứng khoán phái sinh. Chứng khoán phái sinh gồm có chứng
khế ( warrants ), chứng quyền (rights ), hợp dồng kỳ hạn ( forwards ), hợp đồng
tương lai (futures ) và hợp đồng quyền chọn (options ). Các loại chứng khoán phái
sinh không giống như các chứng khoán thông thường. Chúng không xác nhận
quyền sở hữu hay quyền chủ nợ giữa người sở hữu đối với người phát hành, mà chỉ
xác nhận quyền mua cổ phiếu thường của một công ty phát hành cho người sở hữu
( trường hợp chứng khế và chứng quyền ) hoặc xác nhận quyền và nghĩa vụ giữa
hai bên giao dịch hợp đồng ( trong trường hợp quyền lựa chọn và hợp đồng tương
lai ). Các chứng khoán phái sinh này giúp cho thị trường sôi động hơn và kích thích
hoạt động đầu tư của những nhà đầu tư chứng khoán.
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng
khoán và quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán phái sinh
được hình thành do nhu cầu của người mua, người bán chứng khoán, và sự phát
triển của chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng
khoán.
Các chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính đa năng và đòi hỏi phải
có sự vận dụng linh hoạt, mặt khác nó yêu cầu các nhà đầu tư phải phân tích dự
đoán tình hình biến động của chứng khoán cơ sở trong tương lai một cách tốt nhất.
Sau đó vận dụng chứng khoán phái sinh linh hoạt để kiếm tiền. Do đó, phải là
những nhà đầu tư chuyên nghiệp và những chuyên gia mới có đủ tri thức và thông
5
tin để sử dụng tốt công cụ này. Và chỉ ở thị trường chứng khoán phát triển, chứng
khoán phái sinh mới được áp dụng và phát triển. Các chứng khoán phái sinh mới
được áp dụng vào thị trường chứng khoán từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhưng đến
nay thị trừng chứng khoán phái sinh phát triển rất sôi động và đạt được nhiều thành
công. Trong tương lai không xa thị trường chứng khoán phái sinh còn phát triển
vượt trội hơn nữa. Đó là quy luật tất yếu.
1.1.3 Vai trò chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán.
Chứng khoán phái sinh đóng vai trò to lớn trong thị trường chứng khoán,
cũng như trên thị trường tài chính. Chứng khoán phái sinh chủ yếu đảm bảo sự ổn
định cho thị trường chứng khoán với chức năng phòng ngừa rủi ro và tăng khả năng
sinh lời cho nhà đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, việc sử dụng các chứng khoán
phái sinh này cũng tạo ra sức ép từ phía các nhà đầu cơ.
Với phương thức rất sôi động ( có tính chất cá cược về giá ) giúp các nhà đầu
cơ thao túng về giá chứng khoán gốc. Ví dụ như có sự công khai về một hợp đồng
quyền chọn mua một loại chứng khoán nào đó với một lượng chứng khoán lớn và
với giá cao vào thời gian tới, thì trên thị trường ngay lập tức xảy ra tình trạng “ăn
theo “ tức các nhà đầu tư mua chứng khoán nhỏ lẻ đổ vào mua chứng khoán đó tại
thời điểm hiện tại tăng lên khiến cho giá chứng khoán đó lập tức lên giá ( do cầu
chứng khoán đó tăng ). Ngoài ra, nó còn làm cho thị trường sơ cấp hoạt động với
hiệu quả không cao. Như vậy, các thị trường chứng khoán mới nổi không nên áp
dụng chứng khoán phái sinh, nếu không sẽ tạo ra những biến động bất lợi về chứng
khoán cơ sở năm ngoài sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Còn với thị trường
chứng khoán phát triển sự áp dụng chứng khoán phái sinh càng kích thích thị
trường phát triển sôi động hơn. Đó là nhờ các chức năng kinh tế của các chứng
khoán phái sinh như :
1.1.3.1 Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro .
Nhà đầu tư là những người có tiền thực hiện giao dịch trao đổi mua bán
chứng khoán nhằm mục đích sinh lời. Khi nhà đầu tư này nắm giữ chứng khoán
6
gốc như cổ phiếu trái phiếu, họ mong muốn chứng khoán này lên giá. Vì như vậy
họ sẽ được thêm kkhoản lời từ chênh lệch giá. Tuy nhiên, phần tài sản của họ sẽ bị
thiệt hại khi thị trường có những biến động bất lơị làm giảm giá chứng khoán mà
họ nắm giữ. Đó là những rủi ro gây tổn thất cho nhà đầu tư, vì vậy phải phòng ngừa
giảm thiểu rủi ro. Mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi ro riêng
cho các trường hợp xảy ra rủi ro gây tổn thất cho nhà đầu tư, bảo vệ tài sản ( giá trị
chứng khoán) và cả phần lợi nhuận của nhà đầu tư. Chẳng hạn, chứng quyền đảm
bảo quyền lợi cho những cổ đông thường hiện hữu của công ty phát hành khi công
ty phát hành thêm cổ phiếu thường mới, điều đó xuất phát từ vấn đề nảy sinh là khi
phát hành thêm cổ phiếu thường mới làm pha loãng quyền sở hữu của cổ đông hiện
hữu và đồng thời chứng khoán này trên thị trường cũng thường bị giảm giá. Với
chứng khế thì nó đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi hay mua trái
phiếu có độ rủi ro cao. Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn giúp cho các
nhà đầu tư tự bảo vệ lợi ích của mình rước những rủi ro giảm giá chứng khoán họ
nắm giữ trên thị trường …Với chức năng đó, chứng khoán phái sinh có vai trò to
lớn giúp ổn định thị trường chứng khoán.
1.1.3.2 Chứng khoán phái sinh được nhà đầu tư sử dụng để đầu cơ .
Hoạt động đầu cơ là hoạt động giao dịch mua bán hợp đồng của nhà đầu tư
mà không sử dụng đến hàng hoá cơ sở ( chứng khoán gốc ). Những nhà đầu cơ mua
bán chứng khoán phái sinh nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu cơ phải
phân tích tình hình biến động, khả năng tăng trưởng phát triển của chứng khoán
gốc trên thị trường tiền mặt _ là thị trường diễn ra các giao dịch trao đổi mua bán
hàng hoá _ trong tương lai. Từ những nhận định đó nhà đầu cơ đưa ra các quyết
định mua hoặc bán chứng khoán phái sinh ( thường chỉ là hợp đồng tương lai và
hợp đồng quyền chọn ). Nhà đầu cơ hy vọng kiếm được tiền trong tương lai bằng
cách đánh cuộc ( mang tính chất cá cược ) với sự biến động của giá cả. Như vậy
nhà đầu cơ là người đánh bạc mạo hiểm nhất trong những nhà đầu tư. Nhà đầu tư
sử dụng chứng khoán phái sinh để đầu cơ phải là những người có sức chịu đựng vì
7
thị trường này có độ rủi ro cao. Nhưng những nhà đầu cơ này lại có vai trò to lớn
hình thành lên thị trường chứng khoán phái sinh bằng cách hoàn tất mối liên hệ
cộng sinh giữa những người muốn tránh né rủi ro ( phòng ngừa rủi ro ) và những
người chấp nhận rủi ro.
Các chứng khoán phái sinh thực sự là rất đa năng, có thể sử dụng để phòng
ngừa rủi ro và cũng có thể sử dụng để đầu cơ. Tuỳ từng quan điểm của nhà đầu tư
và từng trường hợp mà nhà đầu tư gặp phải mà các chứng khoán phái sinh được sử
dụng vào các mục đích khác nhau. Sự vận dụng chứng khoán phái sinh này rất linh
hoạt, nó được đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư từ đó tạo ra sự sôi
động, kích thích nhà đầu tư tham gia vào đầu tư trên thị trường chứng khoán.
1.2 CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH, ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC
NĂNG CỦA MỖI LOẠI.
Chứng khoán phái sinh được hình thành từ chứng khoán gốc dựa trên những
nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư, những người mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Các trường hợp biến động giá do các nguyên nhân khác nhau
và mục tiêu sử dụng của nhà đầu tư chứng khoán khác nhau có những yêu cầu khác
nhau từ đó hình thành lên các loại chứng khoán phái sinh khác nhau. Chứng khoán
phái sinh rất phong phú và đa dạng về chủng loại, và cả về chức năng. Để nghiên
cứu về chứng khoán phái sinh cho minh bạch và dễ hiểu, ta phải đi nghiên cứu vào
từng loại.
Chứng khoán phái sinh thông thường bao gồm những loại sau :
− Chứng quyền ( giấy đảm bảo quyền mua trước ) (rights )
− Chứng khế ( warrants )
− Hợp đồng tương lai ( futures )
− Hợp đồng quyền chọn ( options )
1.2.1 Chứng quyền (rights)
Chứng quyền là một loại chứng khoán phái sinh được hình thánh từ việc
công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng một đợt phát hành cổ phiếu mới,
8
và chứng quyền chỉ dành cho cổ đông hiện hữu của công ty _ những người hiện
đang nắm giữ cổ phiếu của công ty phát hành. Quyền mua trước hay đặc quyền
mua cho phép những người sở hữu những cổ phần đang lưu hành được mua một số
cổ phiếu nhất định trong đợt phát hành mới của công ty tại một mức giá xác định
thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong một thời hạn xác định . Các quyền
này cũng chuyển nhượng giữa các cổ đông có quyền thụ hưởng quyền và các nhà
đầu tư khác. Thông thường, chứng quyền có thời hạn là ngắn ( 2-3 tuần ) và việc
phát hành thường được quy định trong vốn điều lệ. Chứng quyền được phát hành
nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư. Chứng quyền không chỉ đảm bảo quyền
mua cổ phiếu đối với cổ đông hiện hữu nhằm đảm bảo quyền kiểm soát với một tỷ
lệ cổ phiếu mới bằng với tỷ lệ cổ phiếu trước khi phát hành thêm, mà nó còn nhằm
mục tiêu đảm bảo tài sản của chủ sở hữu chứng khoán ( những cổ đông ). Đó là do
khi phát hành thêm cổ phiếu, cổ phiếu trên thị trường của công ty phát hành này
thường có xu hướng giảm giá. Người nắm giữ quyền này có thể dùng để mua cổ
phiếu mới hoặc bán quyền trên thị trường chứng khoán.
Nếu cổ đông giữ để thực hiện quyền thì nó được ưu đãi mua chứng khoán
với giá thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu vào thời điểm quyền được phát
hành. Là do: rủi ro có thể xảy ra khi giá thị trường giảm trong đợt phát hành quyền
và có thể ảnh hưởng tới đợt phát hành. Mặt khác nó làm tăng tính hấp dẫn đối với
cổ đông cũ. Để tránh cho các cổ đông cũ khỏi thiệt thì họ được mua cổ phần mới
theo giá lý thuyết bằng phần chênh lệch giữa thị giá cổ phiếu trước và sau khi tăng
vốn. Phần chênh lệch giữa giá sau khi tăng vốn với giá được mua theo chứng quyền
sẽ bù lỗ cho nhà đầu tư phần giảm giá trị chứng khoán trước khi tăng vốn và sau
khi tăng vốn. Theo đó giá cổ phiếu sau khi phát hành đảm bảo cho nhà đầu tư
không bị thiệt dừng ở mức sau :
công thức
P
1 =
trong đó : n_số lượng cổ phiếu trước khi phát hành thêm .
9
p
0
_giá cổ phiếu ở thời điểm trước khi phát hành.
m_số lượng cổ phiếu trước khi phát hành thêm.
f_giá ưu đãi mua cổ phiếu của chứng quyền.
p1_ giá của cổ phiếu sau khi phát hành.
P1 chỉ là giá cổ phiếu sau khi phát hành dự kiến, còn trên thực tế thì có thể
bằng hoặc không. Nếu giá cổ phiếu sau khi phát hành thực tế bằng giá cổ phiếu sau
khi phát hành dự kiền thì thì đợt phát hành thêm cổ phiếu không gây thiệt hại cho
nhà đầu tư. nếu giá thị trường thực tế không giảm hoặc giảm nhưng vẫn lớn hơn p1
thì cổ đông hiên hữu sẽ có lợi và ngược lại, nếu giá chứng khoán trên thị trường
giảm xuống thấp hơn p1 thì cổ đông hiện hành sẽ bị thiệt mặc dù họ được mua với
giá thấp hơn giá thị trường lúc bấy giờ.
Các cổ đông hiện hữu không nhất thiết phải thực hiện quyền này, họ có thể
đem bán và giá của chứng quyền sẽ bù đắp vào phần thiệt hại do giá chứng khoán
mà họ nắm giữ bị giảm giá. Như vậy, tổng tài sản của họ sẽ được bảo toàn. Giá của
chứng quyền khi đem bán sẽ phản ánh giá trị của chứng quyền có thể cao hơn và có
thể thấp hơn, nhưng giá của nó thường nằm trong khoảng chênh lệch giữa giá thị
trường của cổ phiếu sau khi đã phát hành quyền mua cổ phiếu với giá mà người có
chứng quyền được mua ( giá mua cổ phiếu ghi trên chứng quyền ) và còn tuỳ theo
thoả thuận và cung cầu. Giá trị của chứng quyền được xác định như sau:
M =
Trong đó : p_ Là thị giá cổ phiếu .
F_ Là gí ưu đãi của chứng quyền .
M_ Giá trị của chứng quyền .
N_ Là định mức cổ phiếu cũ đẻ mua một cổ phiếu mới hay là số lượng quyền
cần để mua một cổ phần mới = số lượng cổ phần cũ đang lưu hành / số lượng cổ
phần mới ( n / m ).
Ta thấy ở mẫu, N phải cộng thêm 1 là vì trong thời hạn đăng ký mua cổ phần
mới, giá trị thị trường của cổ phiếu ( P ) đã bao gồm luôn cả giá trị của quyền.
10
Ngoài ra cần lưu ý rằng vào ngày đầu tiên cổ phần được mua bán không có kèm
đặc quyền, giá thị trường sẽ giảm một khoảng bằng với giá trị của đặc quyền. Khi
đó, giá trị của một đặc quyền sẽ là:
M =
Như vậy, ta có thể thấy rằng quyền mua trước cổ phiếu không chỉ có chức
năng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu cỏ mà nó còn có khả năng làm tăng vốn của
công ty phát hành. Các công ty phát hành rất quan tâm tới chức năng này của
chứng quyền và các công ty này thường nghiên cứu kỹ tác dụng của nó để vận
dụng vào trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn cho công ty, tài trợ cho
những dự án đầu tư. Chúng ta nghiên cứu một ví dụ để thấy rõ hơn công dụng của
chứng quyền khi công ty phát hành thêm cổ phiếu.
Ông A hiện đang nắm giữ 100.000 cổ phiếu của công ty X với giá thị trường
là 40.000 đ/cổ phiếu. Công ty X có 1.000.000 cổ phiếu, công ty này muốn huy
động thêm vốn bằng cách phát hành thêm 100.000 cổ phiếu mới. Để đảm bảo tỷ lệ
sở hữu cổ phần của các cổ đông hiện hữu, công ty quy định tỷ lệ chuyển đổi là 1/10
( 100.000/1.000.000 ) tức là cứ nắm giữ 10 cổ phiếu cũ thì được quyền mua một cổ
phiếu mới thấp hơn giá thị trường giả sử với giá là 34.500đ/cổ phiếu. Như vậy, nhà
đầu tư A sẽ được mua cổ phiếu mới của công ty X với số lượng là 10.000 cổ phiếu,
khi đó tỷ lệ sở hữu cổ phần của công cua ông A vẫn là 10% ( 110.000/1.100.000 )
nếu ông A thực hiện quyền. Còn sau khi phát hành thêm cổ phiếu, thông thường giá
cổ phiếu sẽ giảm giả sử là 39.500đ/cổ phiếu. Giá trị chứng khoán mà ông ta nắm
giữ bị giảm giá và giảm 50.000.000đ=100.000x(40.000-39.500), nhưng ông A
được bù lại một khoản bằng 50.000.000đ =10.000x(39.500-34.500) khi ông thực
hiện quyền mua trước cổ phiếu. Nếu ông A không thực hiện quyền mà bán quyền
này trên thị trường thì ông ta có thể bán với giá là 50 triệu đồng =((39.500-
34.500):10)x10.000. Như vậy, giá trị tài sản của ông A không bị suy giảm và ông A
cũng có thể bảo vệ quyền kiểm soát của mình khi công ty phát hành thêm cổ phiếu.
1.2.2 Chứng khế ( warrants ) .
11
Trong các loại chứng khoán phái sinh, không chỉ chứng quyền là do công ty
phát hành các chứng khoán phát hành ra mà để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư
họ còn phát hành ra chứng khế. Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng phiếu ( cam
kết bán ) là một loại chứg khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu
ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua một số loại chứng khoán nhất định
và trong một thời hạn nhất định.
Chứng khế thường được phát hành trong trường hợp tổ chức lại công ty,
hoặc khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng
mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có điều kiện kém thuận lợi. Để bù đắp cho
những rủi ro cao của của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đó, nhà đầu tư kỳ vọng có
thể được nhận thêm phần chênh lệch do sự lên giá có thể xảy ra đối với cổ phiếu
thường. Chứng khế là công cụ kích thích nhà đầu tư mua các chứng khoán có điều
kiện kém thuận lợi ở thời điểm hiện tại nhằm đảm bảo thành công cho đợt huy
động vốn của công ty trong thời điểm khó khăn để giúp công ty vượt qua được giai
đoạn khó khăn tránh cho công ty khỏi bị thua lỗ nặng nề hơn thậm chí là thoát khỏi
nguy cơ phá sản. Đổi lại, công ty ( chủ sở hữu hiện tại hay những cổ đông hiện tại )
phải chấp nhận thiệt thòi trong tương lai khi mà công ty phải bán cổ phiếu thường
cho nhà đầu tư nắm giữ chứng khế vớí giá rẻ hơn giá thị thị trường tại thời điểm đó
và phải chấp nhận chia sẻ quyền kiểm soát công ty. Công ty phát hành quyết định
phát hành chứng khế khi mà họ phân tích thiệt hơn của vấn đề, nó đảm bảo sao cho
những cổ đông cũ có lợi nhất. Ví nếu không có chứng khế thì không huy động được
thêm vốn vào thời điểm lúc bấy giờ gây thiệt hại cho họ và ngoài ra họ còn có thể
hưởng lợi nhuận trong những năm sau. Chứng khế còn đảm bảo quyền lợi cho
những nhà đầu tư mới của công ty .
Tuy nhiên, những người sở hữu chứng khế không có tư cách cổ đông trong
công ty, không được nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết cho đến khi chuyển
chứng khế ra thành cổ phiếu thường. Tại thời điểm phát hành chứng khế, giá mua
cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá thị trường cổ phiếu cơ sở,
12
và giá đó có thể cố định có thể được tăng lên định kỳ, nhằm đảm bảo răng quyền đó
không được thực hiên ngay tránh gây khó khăn cho công ty. Khác với chứng quyền
thời hạn chứng khế thường dài hơn rất nhiều thông thường là từ 2 năm, 3 năm, 10
năm, 20 năm và có thể là vĩnh viễn. Các chứng khế này sau một thời gian có thể
tách ra khỏi chứng khoán cơ sở và được giao dịch riêng biệt trên thị trường. Giá
của chứng khế tuỳ thuộc vào giá trị của chứng khế và cung cầu trên thị trường .
Giá trị của chứng khế = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian
Trong đó :
Giá trị nội tại = ( Giá cổ phần – Giá thực hiện ) x Số cổ phần
được mua của chứng khế.
Nhưng khi chứng khế được thực hiện thì nó sẽ làm giảm giá cổ phần do số
lượng cổ phần tăng ảnh hưởng tới lợi nhuận tính cho một cổ phần. Khi đó giá trị
của chứng khế được xác định gián tiếp thông qua hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ và
được tính toán như sau:
= x
Với : Pc - Giá trị của hợp đồng quyền chọn mua kiểu Mỹ với giá thực hiện
và thời gian đáo hạn giống như của chứng khế .
q - tỷ lệ tăng trưởng cổ phần nếu như tất cả các chứng khế đều được thức
hiện .
Giá trị thời gian cũng có tác động tỷ lệ thuận tới giá trị của chứng khế vì thời
gian càng dài cơ hội cổ phiếu lên giá càng cao, nhà đầu cơ hy vọng tại thời điểm
huy động trong tương lai họ sẽ mua được cổ phiếu với giá rẻ hơn giá thị trường tại
thời điểm đó. Giá trị thời gian còn phụ thuộc vào sự đánh giá khả năng phát triển
của công ty phát hành. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như cổ
tức mà công ty trả cho cổ đông, các mức lãi suất trên thị trường và các điều kiện thị
trường nói chung. Thông thường, các mức giá chứng khế sẽ có xu hướng tăng trong
thị trường lên và giảm trong thị trường xuống.
13
Như ở trên đã nói, chứng khế có chức năng bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư
mua cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu của công ty. Rủi ro của các chứng khoán đó được
bù đắp bởi thu nhập từ việc thực hiện chứng khế hoặc tư việc bán nó. Ta xét ví dụ
sau :
Đầu năm 2001 một công ty Y quyết định phát hành trái phiếu kèm theo
chứng khế. Mỗi chứng khế đảm bảo quyền mua 10 cổ phiếu thường với giá
50.000đ/cổ phiếu vào bất cứ lúc nào cho đến ngày 31/12/2010. Giá thị trường cổ
phiếu công ty đó tại thời điểm đầu năm 2001 là 34.000đ/cổ phiếu. Chứng khế này
sẽ rất hấp dẫn nhà đầu tư nếu họ dự đoán trong thời hạn đó giá của cổ phiếu thường
sẽ vượt giá được mua ghi trong chứng khế. Giá cổ phiếu này trên thị trường tăng
trưởng nhanh và đến tháng 6/2006 giá cổ phiếu tăng lên 90.000đ/cổ phiếu, lúc này
nếu nhà đầu tư thực hiện chứng khế thì nhà đầu tư sẽ được lợi một khoản là
400.000đ /1 chứng quyền =10x(90.000 – 50.000). Trong trường hợp nhà đầu tư
không thực hiện chứng khế nhà đầu tư có thể bán và được hưởng giá của chứng
khế. Nếu như thị trường đánh giá cổ phiếu của công ty còn có khả măng tăng
trưởng hơn nữa thì giá của chứng khế sẽ cao hơn cả giá trị nội tại của chứng khế
(400.000đ/cổ phiếu ). Nhưng nếu giá chứng khoán lại tăng không vượt qua được
mức giá ghi trên chứng khế thì nhà đầu tư sẽ không thực hiện quyền và sẽ không
thu được khoản lợi nhuận từ chứng khế. Tuy nhiên, lúc này họ vẫn thu được khoản
lãi từ chứng khoán gốc.
Các chứng khế và chứng quyền sau khi tách khỏi chứng khoán gốc thì nó có
nhiều đặc tính giống như hợp đồng quyền chọn mua kiểu Mỹ, đó là được mua
chứng khoán với mức giá xác định và khối lượng nhất định tại một thời điểm xác
định trong tương lai. Nhưng chứng quyền lại có thời hạn ngắn lên khả năng giá
chứng khoán tăng lại rất ít khi xảy ra , còn với chứng quyền thì khả năng này là cao
hơn do thời hạn dài hơn dù công ty này có khả năng tăng trưởng không cao. Như
vậy nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán phái sinh này khi họ nhận định là giá chứng
khoán thời điểm tương lai sẽ cao hơn giá chứng khoán trong chứng khế cộng với
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét