Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
5
Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn đảm bảo kinh
doanh thơng mại theo đúng định hớng XHCN.
6. Những vấn đề mới của đề tài .
- Hình thành một lý luận tơng đối hoàn chỉnh, có tính hệ thống về định h-
ớng XHCN trong kinh doanh thơng mại.
- Chỉ ra những phơng hớng cơ bản, những nhân tố, biện pháp tác động để
đảm bảo kinh doanh thơng mại ở nớc ta theo định hớng XHCN.
7. ý nghĩa của đề tài .
- Làm t liệu phục vụ cho việc giảng dạy các môn học Mác - Lê nin và các
môn học kinh tế ở trờng đại học Thơng mại và các trờng khối nghành kinh tế.
- Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn
nghành thơng mại của cán bộ các cấp.
8. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề
tài đợc kết cấu thành ba chơng:
Chơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về định hớng XHCN nói chung
và định hớng XHCN trong kinh doanh thơng mại ở nớc ta.
Chơng 2. Thực trạng kinh doanh thơng mại ở nớc ta trong thời gian
qua.
Chơng 3. Những phơng hớng, giải pháp cơ bản đảm bảo kinh doanh
thơng mại theo định hớng XHCN ở nớc ta.
II. nội dung
Ch ơng 1 .
Những vấn đề lý luận cơ bản về định h-
ớng XHCN nói chung và định hớng XHCN
trong kinh doanh thơng mạI ở nớc ta.
1.1. Lý luận về con đờng phát triển x hội theo định hã -
ớng x hội chủ nghĩa ở nã ớc ta.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
6
1.1.1 Quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta là tất yếu lịch
sử.
1. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở đúng
đắn của sự phát triển xã hội loài ngời.
Đã có nhiều lí thuyết về sự phát triển của xã hội loài ngời. Đầu thế kỷ
XIX nhà không tởng ngời Pháp - Phăngxoa Mari Sáclơ Phuriê (1772 - 1837)
trong tác phẩm đầu tay Lý thuyết về bốn giai đoạn phát triển và số phận
chung đã vạch ra bức tranh lịch sử phát triển của xã hội loài ngời, cho đến
CNTB đã trải qua những giai đoạn khác nhau: mông muội, dã man, gia trởng,
văn minh. Ông quan niệm mỗi giai đoạn là một nấc thang trong quá trình phát
triển của xã hội loài ngời. Ông còn chia mỗi chế độ xã hội thành bốn giai
đoạn tơng ứng với bốn lứa tuổi trong một đời ngơì: 1) Thơ ấu, 2) Thanh niên,
3) Trởng thành, 4) Tuổi già. Ông cho rằng chế độ văn minh (tức CNTB) giữ
một vai trò quan trọng trong dãy liên tiếp các các nấc thang vận động, bởi vì
chính nó đã tạo ra những động lực cần thiết để bớc theo con đờng đi tới sự
liên hiệp, nó tạo ra nền sản xuất lớn, các khoa học mỹ thuật cao . Chế độ văn
minh qua khỏi giới hạn cuối cùng của nó sẽ bớc vào một thời kỳ mới - Thời
kỳ của những đảm bảo xã hội . Phuriê mong muốn xây dựng một xã hội mới
- qua giai đoạn xã hội đảm bảo và tiến tới xã hội hài hoà (45. tr 173,
174).
Một số học giả t sản đề xuất thuyết kỹ trị và thuyết hội tụ . Họ cho
rằng xã hội loài ngời ngày nay không phải giai cấp công nhân, cũng không
phải giai cấp t sản thống trị mà là khoa học kỹ thuật giữ vai trò thống trị.
CNTB hay CNXH chỉ là những con đờng khác nhau để phát triển khoa học kỹ
thuật và rồi hai chế độ xã hội đó sẽ hội tụ , gặp nhau ở xã hội hậu công
nghiệp hay xã hội tiêu dùng .
Nhà tơng lai học ngời Mỹ - A. Tôffle - trong tác phẩm ba làn sóng
văn minh lại mô tả xã hội loài ngời trải qua ba làn sóng văn minh của sự
phát triển: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và hiện nay đang
trải qua văn minh hậu công nghiệp - văn minh tin học, điện tử. Ông coi yếu tố
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
7
quyết định duy nhất chi phối sự phát triển của xã hội loài ngời là khoa học -
công nghệ, là lực lợng sản xuất.
Theo Mác, sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội;
phơng thức sản xuất biểu thị cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất
vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời, đó chính là
sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản
xuất tơng ứng. Toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận
động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó để rồi dựng
lên một kiến trúc thợng tầng gồm hệ thống những quan hệ về chính trị, pháp
quyền, đạo đức, nghệ thuật, văn hoá phù hợp. C. Mác viết: Toàn bộ những
quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện
thực trên đó dựng lên một kiến trúc thợng tầng pháp lý và chính trị và những
hình thái ý thức xã hội nhất định tơng ứng với cơ sở hiện thực đó (1. tr.15).
Đó chính là học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội.
Học thuyết Mác về HTKT - XH đã chỉ rõ: lịch sử phát triển của xã hội
loài ngời là một quá trình lịch sử - tự nhiên, là sự phát triển kế tiếp nhau của
các HTKT - XH từ thấp đến cao theo quy luật cơ bản, chung nhất của chủ
nghĩa duy vật lịch sử là quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng. Ph. Ăngghen
viết: trong mỗi thời đại lịch sử, phơng thức chủ yếu của sản xuất kinh tế
và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phơng thức đó quyết định, đã cấu thành
cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của
thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa đợc lịch sử đó (1.
Tr 523). Học thuyết Mác về HTKT - XH là biểu hiện tập trung nhất của quan
niệm duy vật về lịch sử, là cơ sở phơng pháp luận của sự phân tích khoa học
về xã hội, là hòn đá tảng của khoa học xã hội.
Nh vậy, rốt cuộc chỉ có học thuyết về HTKT - XH của Mác là đúng đắn
nhất, là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tích lịch sử và
nhận thức các vấn đề xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã
kết luận: hình thái kinh tế - xã hội T bản chủ nghĩa nhất định sẽ đợc thay thế
bằng hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa và sự thay thế này cũng là
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
8
quá trình lịch sử - tự nhiên. Chính vì vậy nhìn chung, cho đến nay, lịch sử
nhân loại đã phát triển trải qua bốn HTKT - XH: Cộng sản nguyên thuỷ,
Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, T bản chủ nghĩa và đang quá độ sang Chủ
nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của HTKT - XH Cộng sản chủ nghĩa. Sự thay thế
đó đợc thực hiện thông qua cách mạng Xã hội chủ nghĩa mà hai tiền đề vật
chất quan trọng nhất của nó là sự phát triển của lực lợng sản xuất và sự trởng
thành của giai cấp công nhân.
Nhng quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những
diễn ra bằng con đờng phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một
hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong những điều kiện lịch sử
nhất định. ở một quốc gia nào đó do đặc điểm về lịch sử, về không gian và
thời gian, do những điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên
ngoài chi phối đã bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình
phát triển của mình. Một số nớc không qua hình thái này hay hình thái khác
là một sự thật lịch sử và là quá trình lịch sử - tự nhiên đối với quốc gia đó. Vì
trong lịch sử thờng có những trung tâm phát triển cao hơn về sản xuất vật
chất, về kỹ thuật hay về văn hoá, chính trị Sự giao lu, xâm nhập, tác động
qua lại với các trung tâm đó làm xuất hiện khả năng một số nớc đi sau có thể
rút ngắn tiến trình lịch sử mà không lặp lại tuần tự các quá trình phát triển của
lịch sử nhân loại. Tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn
thế giới đã không loại trừ mà trái lại còn bao hàm một số giai đoạn phát triển
mang những đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó
(5. Tr 431).
Lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin cũng đã khẳng định khi đi lên
CNXH bất kể từ trình độ phát triển kinh tế nào tất yếu phải trải qua thời kỳ
quá độ - là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời
sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành
một xã hội mà trong đó những nguyên tắc của CNXH sẽ đợc thực hiện. Thời
kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành đợc
chính quyền nhà nớc và kết thúc khi đã xây dựng đợc những cơ sở của CNXH
trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, t tởng - văn hoá. Các nhà kinh điển
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
9
của CNXH khoa học đã nêu ra hai kiểu quá độ: quá độ trực tiếp từ chế độ
TBCN phát triển lên CNXH và quá độ gián tiếp từ chế độ tiền TBCN lên
CNXH. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH chung quy đợc quy định
bởi hai lý do cơ bản sau đây:
Một là, CNXH là một chế độ xã hội khác về chất so với xã hội cũ, nó
không thể tự phát ra đời trong lòng xã hội cũ. Xã hội cũ - ngay cả chủ nghĩa t
bản - chỉ chuẩn bị những tiền đề vật chất cho sự ra đời của CNXH. Giai cấp
công nhân và nhân dân lao động sau khi giành đợc chính quyền nhà nớc phải
có thời kỳ xây dựng các yếu tố bản chất của Chủ nghĩa xã hội.
Hai là, khi chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đợc
thiết lập giai cấp t sản mới bị đánh bại về chính trị chứ cha bị tiêu diệt, nó vẫn
nuôi hy vọng hồi phục. Trong xã hội còn tồn tại những tàn d của xã hội cũ.
Do đó cần phải có thời kỳ quá độ để tiến hành cải tạo xã hội cũ, từng bớc xây
dựng xã hội mới - xã hội XHCN.
Lê Nin viết: Cần phải có một thời kỳ quá độ lâu dài từ chủ nghĩa t bản
lên chủ nghĩa xã hội vì cải tổ sản xuất là một việc khó khăn, vì cần phải có
thời gian mới thực hiện đợc những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống, và phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể
thắng đợc sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu t sản và t sản.
Bởi vậy Mác nói đến cả một thời kỳ chuyên chính vô sản, thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội (3. Tr 464).
Quá độ lên CNXH ở mỗi nớc có những nét đặc thù do điều kiện lịch sử
cụ thể của nớc đó qui định. Nhiệm vụ của các ĐCS và nhân dân mỗi nớc là
vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về thời kỳ
quá độ lên CNXH vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể phù hợp với đặc điểm và
truyền thống của dân tộc mình, đồng thời tận dụng các yếu tố của thời đại để
định ra mục tiêu, phơng hớng và bớc đi thích hợp nhằm thực hiện thành công
bớc quá độ lên CNXH. Lê Nin viết: Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên CNXH,
đó là điều không tránh khỏi. Nhng các dân tộc tiến tới CNXH không phải một
cách hoàn toàn giống nhau, mỗi dân tộc sẽ đa đặc điểm của mình vào hình
thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
10
của Chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo
XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội (2. Tr 160).
Trớc những diễn biến phức tạp của sự phát triển xã hội loài ngời, đặc
biệt là sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu nhiều ngời đặt câu hỏi:
Nhân loại sẽ đi về đâu?
Trả lời câu hỏi đó, nhiều nhà khoa học đã có những dự báo lớn về thiên
niên kỷ tới, họ cho rằng quang cảnh toàn cầu sẽ thật tráng lệ và đa sắc trong
thiên niên kỷ tới. Đó là, sự thay đổi phơng thức t duy và phơng pháp luận
khoa học sẽ chắp cánh cho khoa học kỹ thuật phát triển mạnh thêm. Sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, sự gia tăng giá trị của kiến thức, sự thâm nhập của
nền kinh tế vợt biên giới lãnh thổ và sự tăng cờng quản lý kinh tế làm cho
kinh tế thế giới nẩy sinh những đặc điểm mới. Sự xung đột về hình thái ý thức
và lợi ích quốc gia ảnh hởng lẫn nhau, cùng những kỹ thuật mới có trình độ
cao, cộng với các nhân tố về môi trờng sinh thái ngày càng hoà nhập với quan
hệ quốc tế. Kinh tế thay đổi dẫn theo sự thay đổi về văn hoá, quan niệm thẩm
mỹ sẽ mang dấu ấn của thế kỷ mới. Lối sống xã hội, sự phân hoá giai tầng xã
hội, cảnh sống xã hội sẽ nẩy sinh những biến đổi mang tính thế kỷ (42. Tr
17). Dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội IX của Đảng cũng đã dự đoán thế
kỷ 21 có những biến đổi to lớn và sâu sắc trong đó chủ yếu là:
1- Khoa học và công nghệ sẽ có những bớc nhảy vọt cha từng thấy. Kinh
tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá trình phát triển.
Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh và
ngày càng nhanh hơn với những bớc tiến nhảy vọt về công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu, công nghệ năng lợng, công nghệ thông tin trong đó mũi
nhọn là công nghệ thông tin, có tác động thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế
tri thức và lôi cuốn các ngành công nghệ khác, tạo ra biến đổi lớn và nhanh
chóng không những trong đời sống kinh tế và kỹ thuật mà còn cả trong các
lĩnh vực văn hoá xã hội, nhân văn, môi trờng. Nó tạo điều kiện cho cơ cấu
kinh tế chuyển dịch nhanh, lợi thế của các quốc gia không ngừng biến đổi,
chu trình luân chuyển vốn và thay đổi công nghệ, sản phẩm ngày càng rút
ngắn, đòi hỏi các quốc gia cũng nh doanh nghiệp phải rất nhanh nhạy để
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
11
thích ứng, để làm chủ. Trình độ làm chủ thông tin, tri thức (trong đó có sở
hữu trí tuệ) có ý nghĩa quyết định sự phát triển của kinh tế. Nếu nh trớc kia
ngời ta thờng coi các yếu tố của sản xuất chỉ bao gồm lao động và vốn, còn tri
thức, công nghệ, giáo dục là các yếu tố bên ngoài của sản xuất có ảnh hởng
tới sản xuất thì gần đây các nhà nghiên cứu kinh tế nh Romer, Schumpeter, R.
Solo đều thừa nhận tri thức, công nghệ là yếu tố bên trong của hệ thống
kinh tế. Romer coi tri thức và công nghệ là yếu tố thứ ba của sản xuất bên
cạnh vốn và lao động. Lập luận này đã đợc các nhà kinh tế chấp nhận. Ngời ta
gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử
dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra
của cải, nâng cao chất lợng cuộc sống (GS. VS. Đặng Hữu UVTƯĐ, trởng
ban khoa giáo trung ơng). Trong nền kinh tế tri thức khoa học và công nghệ
trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, do đó chiếm đa số là các ngành kinh tế
dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ.
Nền kinh tế tri thức với tất cả những đặc trng cơ bản của nó đang đặt các nớc
đứng những thời cơ lớn và những thách thức lớn. Các nớc đang phát triển có
cơ hội thu hẹp khoảng cách, cải thiện vị thế của mình, đồng thời cũng đứng
trớc nguy cơ tụt hậu xa hơn và bị lệ thuộc nếu không tranh thủ đợc cơ hội,
khắc phục yếu kém để vơn lên. Tình hình đó đòi hỏi các nớc phải có một
chiến lợc phát triển đúng đắn và các giải pháp chủ yếu hợp lý.
2- Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nớc tham
gia, đang bị một số nớc phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chi
phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực,
vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.
Toàn cầu hoá xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của
lực lợng sản xuất xã hội, sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá, mở rộng thơng mại quốc tế. Toàn cầu hoá đã đợc dự
kiến và bắt đầu từ lâu, đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 phát triển rất mạnh
một phần quan trọng là nhờ vào sự phát triển bột phát của khoa học và công
nghệ, nhất là công nghệ thông tin. Đến nay toàn cầu hoá đã lôi cuốn hầu hết
các nớc và mở rộng ra hầu nh khắp các lĩnh vực, từ lu chuyển hàng hoá, dịch
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
12
vụ đến đầu t, tài chính, công nghệ v.v làm tăng sức ép cạnh tranh, sự tuỳ
thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế. Hình thức hợp tác đa phơng và song ph-
ơng giữa các quốc gia đang ngày càng sâu rộng, cả trong kinh tế, văn hoá và
bảo vệ môi trờng, phòng chống tội phạm, phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Mặt khác, các công ty đa quốc gia đang tiếp tục cấu trúc lại, hình thành
những tập đoàn khổng lồ chi phối các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan
trọng.
Trong xu hớng toàn cầu hoá hiện nay, đặc biệt toàn cầu hoá kinh tế các
nớc phát triển có nhiều thuận lợi về công nghệ, tiền vốn, thị trờng đều muốn
đẩy nhanh quá trình để mu lợi cao nhất cho mình, cho nên về cơ bản toàn cầu
hoá mang tính chất t bản chủ nghĩa. Song các nớc đang phát triển không thể
không tìm cách tranh thủ các điều kiện tích cực về thu hút vốn, công nghệ và
kinh nghiệm quản lý phục vụ cho sự phát triển của mình, nhng cuộc cạnh
tranh phát triển có nhiều rủi ro do kết cấu hạ tầng yếu kém và điểm xuất phát
thấp nên dễ bị thua thiệt, lệ thuộc. Vì vậy hội nhập quốc tế là một quá trình
vừa hợp tác vừa đấu tranh rất phức tạp, nhất là đấu tranh chống sự chi phối
của các cờng quốc kinh tế và các tập đoàn kinh tế lớn. Các nớc đang phát
triển cần chủ động hội nhập, phải lựa chọn những ngành, lĩnh vực có lợi thế
cạnh tranh, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tham gia có hiệu quả vào
phân công lao động quốc tế.
Nh vậy là cách mạng công nghệ và xu thế toàn cầu hoá đang là lợi thế
của Chủ nghĩa t bản, song không có nghĩa là lợi thế đó đang làm thay đổi bản
chất của Chủ nghĩa t bản. Cách mạng công nghệ và toàn cầu hoá kinh tế cuối
thế kỷ 20 giúp cho Chủ nghĩa t bản kéo dài sự tồn tại của nó, song càng làm
sâu sắc thêm các mâu thuẫn vốn có của nó cũng nh các mâu thuẫn của thời
đại ngày nay. Toàn cầu hoá đang diễn ra trớc mắt chúng ta với bao nhiêu là
mâu thuẫn đủ loại cực kỳ phức tạp, đan xen. Đó là mâu thuẫn giữa một bên là
quyền lực và lợi ích chi phối, thao túng của những thế lực t bản quốc tế, các
nớc t bản chủ nghĩa với một bên là chủ quyền và lợi ích các quốc gia, dân tộc.
Đó là mâu thuẫn giữa ngay các nớc t bản chủ nghĩa, giữa các tập đoàn t bản
với nhau. Đó là mâu thuẫn giữa tăng trởng của cải với phân phối không công
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
13
bằng dẫn tới phân cực giàu nghèo ngày càng tăng giữa các quốc gia và trong
mỗi nớc, giữa trung tâm với ngoại vi, giữa Bắc và Nam , phân chia giàu nghèo
ngày càng tăng ngay giữa các nớc phát triển. Đó là mâu thuẫn giữa kinh tế thì
tăng trởng với văn hoá, đạo đức, xã hội thì suy đồi do tác động của mặt trái
của kinh tế thị trờng toàn cầu hoá. Thử đa ra vài số liệu:
Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc tỷ lệ thu nhập trung bình ở các nớc
giàu nhất với các nớc nghèo nhất năm 1960 là 30/1, năm 1990 là 60/1 và năm
1997 là 74/1. Có 48 nớc kém phát triển nhất chiếm 10% dân số thế giới nhng
chỉ chiếm 0,1% tổng thu nhập. Trong khi đó nhóm nớc G7 chiếm 12% dân số
nhng chiếm 62,5% tổng thu nhập thế giới; 200 ngời giàu nhất thế giới có giá
trị tài sản tơng đơng với tổng thu nhập của 2,6 tỷ ngời nghèo khổ trên hành
tinh.
Theo báo cáo của UNDP toàn thế giới còn 1,3 tỷ ngời nghèo, trong đó
4,4 tỷ ngời ở các nớc đang phát triển, gần 3/5 sống thiếu các phơng tiện vệ
sinh cơ bản, gần 1/3 thiếu nớc, 1/4 không có nhà ở và 1/5 không có dịch vụ y
tế.
Cũng theo báo cáo của UNDP tổng số nợ nớc ngoài của các nớc đang
phát triển lên đến gần 2000 nghìn tỷ USD, trong đó 250 tỷ thuộc 41 nớc kém
phát triển nhất, nó là viên đá tảng đeo trên cổ , nó kéo lùi tăng trởng kinh
tế, làm vi phạm quyền phát triển của các nớc đó. (17. Tr38).
Cốc Văn Khang, một học giả Trung Quốc, trong tác phẩm Cuộc đọ
sức giữa hai chế độ xã hội đã rất có cơ sở đúng đắn khi trả lời câu hỏi: Thế
giới t bản sẽ đi tới đâu? Điểm lại lịch sử phát triển của Đế quốc t bản, Ông
cho rằng đúng nh Mác đã nói trong bộ T bản: T bản mới ra đời lại có máu và
bùn nhơ rỉ ra từ các lỗ chân lông, từ đầu đến chân, bởi vì nó tớc đoạt đối với
bên ngoài trong thời kỳ tích luỹ ban đầu, trong thời kỳ t bản tự do và cả trong
thời kỳ t bản lũng đoạn. Dới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ
bắt đầu từ những năm 80, chủ nghĩa t bản hiện đại đã đạt đợc những kỳ tích,
kinh tế đã bắt đầu phát triển. Trong báo cáo Tổng quan kinh tế mới đây, Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) đã đánh giá rằng tình trạng suy thoái kinh tế ở các nớc t
bản chủ yếu đã có chiều hớng chấm dứt. Tốc độ tăng trởng đã nhúc nhích đi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
14
lên. Năm 1994 đạt 3% trong khi năm 1991 chỉ đạt 0,1%. Các nớc thuộc nhóm
G7 vẫn có nền kinh tế phát triển mạnh nhất. Tốc độ tăng trởng của Mỹ đạt
3,7% năm 1994, Canađa 4,1%, Nhật Bản 0,9%. Nền kinh tế của các nớc EU
có chiều hớng phát triển khá. GDP của các nớc EU tăng từ 2,6% năm 1994
đến 2,9% năm 1995 và dự kiến 3,2% năm 1996 (10. tr 30 - 31). Ông đánh giá
tình hình đó là:
1. Một số rất ít các nớc t bản phát triển đã phát triển bằng cách hy sinh sự
phát triển của các nớc t bản khác.
2. Sự phát triển của các nớc t bản phát triển đợc đánh đổi bằng cách hy
sinh sự phát triển của thế giới thứ ba. (32. tr158).
Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa các nớc t bản với nhau, giữa các nớc t
bản phát triển với các nớc đang phát triển và kém phát triển ngày càng thêm
gay gắt và không thể giải quyết nổi.
Còn trong nội bộ bản thân các nớc t bản tình hình trên mọi mặt của đới
sống xã hội cũng không có gì là sáng sủa hơn trong quá trình phát triển. Ngày
nay chủ nghĩa t bản cùng với lực lợng sản xuất phát triển nhanh và trở nên đồ
sộ hơn so với trớc. Sự giàu có của các nớc t bản là có thật: nhà cửa nguy nga
tráng lệ, đờng xá - giao thông tối tân, hiện đại, hàng hoá chất đầy ắp trong các
nhà kho và ngày càng có nhiều chủng loại với nhiều hình thức vô cùng phong
phú, với hàng triệu mặt hàng trong một siêu thị. Đây là điều mà sinh thời của
Mác - Ăngghen ít ai nghĩ tới. Nhng sự giàu có đó, nh một số học giả đánh giá
là nền kinh tế bong bóng xà phòng và lại phân phối không công bằng:
Tổng giám đốc hãng Pho có thu nhập 13 triệu USD một năm, trong khi đó
công nhân bình thờng của hãng chỉ kiếm đợc 25 000 USD, có nghĩa là ngời
đó phải làm việc trong 534 năm mới có đợc khoản thu nhập đó; Giám đốc
công ty Oan - Di - xnây có thu nhập 200 triệu USD năm 1993, bằng thu nhập
của 400.000 công nhân ở mức 500 USD/năm; Về mức độ bóc lột theo tờ Lao
động ngày nay của phong trào công đoàn Chi-ca-gô cách đây gần 20 năm
cũng thấy đợc sự tàn nhẫn của giới chủ: năm 1947, trong tám giờ làm việc
một công nhân công nghiệp phải bỏ ra 3 giờ 23 phút để tạo ra một lợng hàng
hoá đủ để trả mọi chi phí cho cuộc sống hàng ngày nh tiền lơng, bảo hiểm xã
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét